Cụ Rùa Hồ Gươm







Trong đời sống của người Thăng Long- Hà Nội có một sự giao thoa linh diệu với cụ Rùa Hồ Gươm. Rùa Hồ Gươm từ thế kỷ XV bước vào truyền thuyết Hồ Hoàn Kiếm hay hồ trả gươm, thay tên hồ Lục Thủy cổ xưa. Rùa Hồ Gươm vừa là linh vật trong văn hóa phương Đông, văn hóa Việt Nam vừa là một động vật quí, sống được hàng trăm năm trong môi trường sông, nước, ao, hồ…

  Cụ Rùa hiện đang sống trong lòng hồ Gươm vẫn còn là một bí ẩn khoa học đang được nghiên cứu.

 Thế kỷ XX, người Hà Nội tản theo hai cuộc chiến tranh, nên hiếm có ai nhớ đến cụ Rùa- báu vật linh thiêng đang sống dưới đáy hồ.

Nhưng cũng có một vài kẻ phóng con mắt của quỉ satan xoáy qua làn sóng biếc, rình rập loài Rùa.

Ngày 2- 6- 1987. Một cụ Rùa bị thương, vì trúng lưỡi câu, nổi lên mặt hồ kêu cứu. Người ta để cụ nằm phơi mình dưới nắng gắt ở phía hồ, nơi đặt tượng vua Lê, và ngồi vào bàn họp, tranh luận, lý luận, lý thuyết, lý sự, cãi cọ khoa học.

 Cụ Rùa không chống cự nổi, đã vĩnh viễn ra đi.

Tiêu bản của cụ được giữ trong tủ kính tại đền Ngọc Sơn, minh chứng cho sự tồn tại của một loài rùa nước ngọt lớn nhất nước ta nặng hai trăm ki- lô, cao ba phân, dài một mét chín, rộng mét mốt, sống cùng hồ Gươm đã mấy trăm năm, trải qua thăng trầm bao triều đại, là “nhân vật” của truyền thuyết hồ Gươm.

Du khách cả nước và năm châu bốn bể đến đây, chiêm ngưỡng cụ Rùa, nhớ lại hồi thế kỷ XV, cụ đã nổi lên, đòi gươm báu từ tay đức vua Lê Lợi.

Dưới đáy hồ Gươm vẫn còn những cụ Rùa (hay chỉ còn duy nhất một cụ?) lớn như vậy đang sinh sống, thỉnh thoảng cụ lại nổi lên mặt hồ Gươm, nhìn ngắm mặt trời và vui vầy với dân chúng.

 Dân sống quanh Hồ Gươm rất thân thuộc cụ Rùa, bất cứ lúc nào cụ nổi lên, là mọi người xúm lại, ngắm nhìn cụ bơi, phần lớn chỉ nhìn thấy cái đầu của cụ. Người ta bảo mỗi lần cụ nổi, đều gắn với các sự kiện của đất nước và Hà Nội, như khánh thành khu tượng đài vua Lê chẳng hạn.

Vào lúc chín giờ sáng ngày 27-9- 2000, Hà Nội tổ chức lễ khánh thành Khu tưởng niệm vua Lê bên hồ Gươm, cụ Rùa nổi lên, nằm gối đầu vào kè đá dưới đám rễ si bên chân đảo Ngọc suốt từ tám giờ hai mươi phút đến mười giờ hai mươi, trước sự chứng kiến của dân chúng và nhiều vị quan chức Hà Nội.

Người Hà Nội nhận được sự giao cảm linh thiêng với cụ Rùa. Đặc biệt là “ông Đức Rùa”. Mặc dù ông là giáo sư, tiến sĩ, nhưng người Hà Nội yêu mến gọi “ông Đức Rùa” theo cách dân gian, như để ghi công ông và còn giao phó cho ông trọng trách chăm cụ Rùa, vì họ hiểu ông yêu cụ Rùa đến thế nào.

Mãi đến ngày 15- 3- 1991, phó giáo sư sinh học Hà Đình Đức mới gặp cụ Rùa bơi trên mặt hồ Gươm, dù ông đã sống ở Hà Nội ba mươi năm.

Ông xúc động muốn nghiên cứu khoa học về “ Rùa thần” sống cùng hồ Gươm. Nhiều bài báo của ông vang lên báo động” Hãy giữ lấy báu vật hồ Gươm” người ta bày dự án nạo vét lòng hồ, thay nước hồ Gươm trị giá hơn bốn chục tỷ đồng, ông đi kiện, ngăn không cho họ làm để bảo vệ môi trường sống yên tĩnh, đã gần ngàn năm nuôi dưỡng Rùa thần.

Người giàu định xây khách sạn Hà Nội vàng, xây  khu văn hóa lấp tượng vua Lê Lợi, xây các loại nhà cao tầng hứng gió hồ Gươm của dân chúng và của cụ Rùa,” ông Đức Rùa” đến tận công đường phản đối. Bị ai đó ghét, ông cũng chấp nhận. Ông bảo “ Ai đụng đến hồ Gươm, đụng đến cụ Rùa, tôi mắng ngay”.

Ngày lễ Vu Lan, tôi đến thăm nhà ông Đức ở khu Kim Ngưu, vào ngõ ngách như trận đồ bát quái, tôi hỏi, người ta bảo “nhà ông Đức Rùa” có cái cổng màu xanh. Ông dẫn tôi lên phòng tầng hai, gian phòng đẹp nhất ngôi nhà, ông gọi là “đại bản doanh” của cụ Rùa. Phòng ngạt mùi hồ sơ, giấy tờ, xếp la liệt từng ô trên sàn, ông mời tôi ngồi bệt xuống góc sàn, dựa lưng vào chiếc tủ nhỏ, ông bảo khoảng tám trăm nhà báo, và khách yêu cụ Rùa đã ngồi ở chỗ ấy, còn ông ngồi bệt giữa đống giấy vây quanh mà trò chuyện, không cần tựa vào cái gì cả. Ông lưu hàng trăm thứ đơn thư từ kiện cáo cho cụ Rùa: thư mời họp, công văn Chính phủ giúp ông bảo vệ cụ Rùa, gần nghìn tấm danh thiếp của báo chí, bạn bè, gần ba trăm bài báo viết về ông, hơn một trăm bài báo ông viết, hàng trăm bức thư ông gửi đi và hàng trăm công văn trả lời, những bộ ảnh ông chụp mỗi lần cụ Rùa nổi, hàng chục băng ghi âm tiếng ông sang sảng trước công đường…

Tôi cần một tài liệu nghiên cứu khoa học về cụ Rùa, còn các vấn đề tranh đấu xã hội cho cụ Rùa của ông đã quá nổi tiếng rồi. Ông sẵn lòng cho tôi mượn vì tin cậy tôi, người đầu tiên truyền nét giao cảm linh thiêng giữa Rùa thần và ông vào trang sách Tinh Hoa Hà Nội những năm 1990.

Tôi mê mải nghiên cứu tài liệu về cụ Rùa Hồ Gươm.

Năm 1998, Trung tâm nghiên cứu và qui hoạch môi trường đô thị nông thôn đã thực hiện dự án” Điều tra cơ bản môi trường hồ Hoàn Kiếm- sinh thái Rùa hồ Hoàn Kiếm, và tìm những giải pháp bảo vệ môi trường- sinh thái” phó giáo sư Hà Đình Đức được mời làm trưởng nhóm nghiên cứu. Họ đã nghiên cứu Rùa trong văn hóa; Rùa hồ Hoàn kiếm trong khoa học, tìm hiểu Rùa Ấn Độ, Trung Hoa, Giải, Cua đinh để so sánh…

Tôi muốn chuyển đến bạn đọc cái nhìn khoa học về Rùa hồ Gươm.

I. Cụ Rùa Hồ Gươm trong văn hoá  tâm linh:

Hình tượng Rùa đã xuất hiện rất sớm trong văn hóa phương Đông và Việt Nam. Thuyết Âm- Dương cho rằng Rùa hội cả hai yếu tố âm( -) và dương( +), mai Rùa tượng trưng cho vòm trời là Dương, yếm Rùa tượng trưng cho mặt đất là Âm. Trong đời sống tâm linh, Rùa là một trong bốn linh vật( tứ linh): Long( Rồng), Ly

( Kỳ Lân), Qui( Rùa) và Phượng( Phượng Hoàng) được nhân dân tôn thờ trong các đền chùa bằng các hình ảnh chạm khắc đá, vẽ, khảm.

Trong các đình miếu ta thường thấy đôi Rùa đội Hạc đứng chầu hai bên bàn thờ các vị thần linh hay thần hoàng, biểu hiện sự thanh tao và trường tồn. Hình ảnh Rùa đeo Lạc Thư trên lưng  biểu thị cho sự vận hành của vũ trụ, hoặc Rùa đeo Kiếm Thư đề cao học vấn và tri thức. Rùa đội bia đá tượng trưng cho sự vĩnh cửu.

Người ta phát hiện hình ảnh Rùa đội tấm bia đá đầu tiên xuất hiện vào năm 1126 tại đền thờ Lý Thường Kiệt ở Thanh Hóa. Rùa đá lớn nhất là Rùa đội bia Vĩnh Lăng ở khu Lam Kinh- Thanh Hóa, dài ba mét bốn sáu, rộng hai mét. Nơi tập trung nhiều Rùa đội bia đá nhất là hai dãy nhà bia tiến sĩ Văn Miếu- Hà Nội, có tám mươi hai cụ đội tám mươi hai bia ghi tên những người đỗ tiến sĩ của tám mươi hai khoa thi tiến sĩ triều Lê từ năm 1442 đến năm 1787.

Trong truyền thuyết, Rùa thần (thần Kim Qui) hai lần xuất hiện với linh khí thần kỳ biểu trưng cho sức mạnh Việt Nam.

Lần đầu tiên vào thế kỷ thứ III trước CN, thần Kim Qui hiện lên cho An Dương Vương  mượn thanh bảo kiếm để chém gà tinh trắng đêm đêm về phá thành Cổ Loa. Dựng xong thành, thần Kim Qui lại cho An Dương Vương mượn móng của mình làm nỏ thần để bắn quân xâm lược Triệu Đà, giữ nước Âu Lạc.

Lần thứ hai vào thế kỷ XV, Rùa thần hiện lên trên sóng biếc hồ Lục Thủy với sứ mệnh là xứ giả của đức Long Quân (vua Rồng là thủy tổ nòi giống Lạc Việt) đòi lại thanh bảo kiếm mà Long Quân đã cho vua Lê mượn để đánh đuổi giặc Minh).

Câu chuyện Rùa thần xuất hiện trên hồ Lục Thủy là truyền thuyết, mang màu sắc hư thực xen cài. Truyền thuyết, huyền thoại là một loại hình văn học dân gian do con người sáng tác. Nó chứa đựng hiện thực cuộc sống, pha màu thần bí. Đó là một hình thức nghệ thuật siêu nghệ thuật của dân gian.

Sự thật về câu chuyện Rùa thần đòi gươm nơi hồ Lục Thủy là gì?

Chuyện vua Lê Lợi đi chơi thuyền trên hồ Lục

Thuỷ với thanh bảo kiếm trong tay là có thực. (Vua quan nhà Trần đã tập trận trên hồ Lục Thuỷ).

Rùa sống trong lòng hồ Lục Thủy là có thực.

 Chuyện triều chính của Lê Lợi thời bình, vua nghe lời xiểm nịnh mà giết tướng tài là Trần Nguyên Hãn, rồi tống giam Nguyễn Trãi, Phạm văn Sảo… là sự thật, được ghi trong chính sử.

Chuyện lòng dân, kẻ sĩ mong muốn hòa bình sau mười năm chiến tranh ly loạn là thật.

Tất cả những sự thật ấy đã được kẻ sĩ Thăng Long tài năng, tư duy nghệ thuật thành câu chuyện “Rùa thần đòi gươm”, muốn ngầm nói với đức vua rằng:

“Giặc tan rồi, hãy cất gươm đi mà xây nền hòa bình thịnh trị bằng trí tuệ và tri thức”.

Câu chuyện truyền thuyết tuyệt tác này ắt do kẻ sĩ sáng tạo. Nó chứa đựng những thông điệp rất hợp lòng dân, nên ngay lập tức, nó lan truyền nhanh, mọi người đều thuộc và kể lại cho nhau nghe. Sức nổ của truyền thuyết “Rùa thần đòi gươm” mạnh đến mức, hồ được dân gian đổi thành tên “Hồ Hoàn Kiếm” (Hồ Trả Kiếm), âm vang sáu thế kỷ nay, và mãi mãi lan truyền ra thế giới khát vọng hòa bình của người dân Thăng Long- Hà Nội.

Giá trị văn hóa tâm linh của cụ Rùa hồ Gươm, không có sách bút nào tả hết.

Đời nối đời, người Thăng Long- Hà Nội chiêm ngưỡng sóng biếc hồ Gươm, trò chuyện với cụ Rùa đang sống yên bình dưới đáy hồ mà thêm yêu đất, yêu người Thăng Long- Hà Nội và nghiêng mình kính trọng kẻ sĩ Bắc Hà, mong kết nối với sức mạnh trí tuệ. Bay lên!

Cuối thế kỷ XVIII cụ Nguyễn Văn Siêu (Thần Siêu) đã tâm đắc với khát vọng hòa bình của kẻ sĩ thời xưa, xây Đài Nghiên- Tháp Bút, nhắc muôn người “Tả Thanh

Thiên” tô đậm màu đỏ son giá trị lớn của tri thức và sáng tạo của con người với việc xây đất nước thái bình thịnh trị.

II. Cụ Rùa Hồ Gươm trong khoa học sinh học:

Trong cái nhìn khoa học, Rùa hồ Gươm là vật báu để chúng ta đi tìm nhóm động vật xuất hiện sớm trong quá trình tiến hóa của giới động vật.

Di tích hóa thạch của Rùa được phát hiện từ kỷ Tam Diệp, cách đây hai trăm hai mươi lăm triệu năm thuộc Đại Trung Sinh. Về sinh thái Rùa ngày nay rất ít thay đổi so với tổ tiên chúng ngày xưa. Tính đến năm 1989, trên thế giới có hai trăm bốn mươi loài Rùa cạn và Rùa nước ngọt (không kể các loài Rùa biển). Rùa mai mềm có hai mươi hai loài. Rùa hồ Gươm có thể là quần chủng xa của loài Rùa Trung Hoa?

Rùa hồ Gươm được nhóm của PGS Hà Đình Đức mô tả lần đầu tiên vào năm 1994 trong công trình” Nghiên cứu về hình thái, sinh thái Rùa hồ Gươm, tình trạng chất lượng nước, hệ vi tảo hồ Gươm, nhằm bảo tồn đàn Rùa quí và cải thiện cảnh quan môi trường”.     

Tôi đã nhiều lần được ngắm cụ Rùa nổi lên, nhưng chỉ nhìn thấy cái đầu cụ màu đồng, nên không biết mô tả cụ như thế nào.

 Nay nhờ các nhà khoa học, ta có thể hình dung được hình ảnh cụ chính xác hơn. Rùa hồ Gươm có hình bầu dục màu xám nhạt hơi phớt hồng, đồng màu, không có đốm. Diềm da quanh mềm mại và kéo dài ra phía sau. Mép của diềm da mỏng. Đầu hơi lõm. Mõm tù. Mắt không nhô cao lên khỏi bề mặt của đầu và hơi dồn về phía trước. Mũi có dạng hình cầu. Giữa đỉnh đầu có đốm trắng. Cổ dài, nhiều nếp da họng. Cằm và mặt dưới cổ màu hồng nhạt. Môi dày, mép sừng màu vàng lộ rõ. Chi dài, mỗi chân có ba móng sừng thuôn, đầu hơi nhọn.

 Vậy cụ Rùa hồ Gươm từ đâu đến? Hiện có  bao nhiêu cụ Rùa đang sống dưới đáy hồ Gươm?

Chưa có câu trả lời chính xác.

Vấn đề nghiên cứu cụ Rùa hồ Gươm vẫn còn phải tiếp tục.

 Nhân vật Rùa Thần trong truyền thuyết Hồ Gươm đầy bí ẩn.

Càng bí ẩn lại càng hấp dẫn, để tư tưởng Hòa Bình được vang âm.

 Chúng ta càng thêm kính phục kẻ sĩ Thăng Long- người sáng tạo truyền thuyết hồ Hoàn Kiếm vi diệu.

Người Hà Nội hôm nay có sự giao cảm linh thiêng đối cụ Rùa hồ Hoàn Kiếm thân thương, trìu mến. Mỗi lần cụ nổi lên, người ta xúm lại vừa vui chơi với cụ, vừa ghi hình, chụp ảnh, điện báo cho “ông Đức Rùa” và đặt ra nhiều câu hỏi:

“Nước hồ cạn chăng? Loài vi tảo đã chết chăng? Hay nước hồ ô nhiễm làm cụ ngạt thở phải ngoi lên đớp khí trời? Hoặc đại sự quốc gia có chuyện gì không? Chuyện lành hay chuyện dữ?…

Các nhà sinh học gọi đó là “sự giao tiếp sinh học của các loài vật với con người”. Người ta mơ giải mã được ngôn ngữ giao tiếp của cụ Rùa Hồ Gươm, để tìm ra những bí ẩn và để cuộc sống giữa con người và muôn loài giao hoan, nở hoa, kết trái.

III. Cấp cứu Cụ Rùa Hồ Gươm:

 Đầu thế kỷ XXI. Cụ Rùa Hồ Gươm- báu vật thiêng liêng trong tâm thức Việt Nam luôn bị đe doạ bởi nước Hồ Gươm ô nhiễm. Nỗi lo âu đau đáu thường trực trong tâm hồn người Hà Nội- Việt Nam yêu kính cụ Rùa.

Nhiều dự án khoa học nạo vét Hồ Gươm từ phương trời lạ đưa vào, tốn hàng tỷ tiền, mà vẫn chưa dự án nào thành công.

Băn khoăn. Trăn trở. Lo âu. Khắc khoải. Đợi chờ. Chìm sâu tâm thức người Hà Nội.

Những ngày cuối năm 2010. Cụ Rùa nổi lên kêu cứu. Mọi ngưòi nhìn thấy nhiều vết thương đau trên mình cụ. Báo chí chụp ảnh đưa tin kêu cứu. Các nhà chức trách khẩn cấp họp bàn. Hội thảo. Mời các nhà khoa học nghiên cứu rùa quốc tế đến Hà Nội tham luận.

Những người dân lành yêu cụ Rùa Hồ Gươm chân thành nồng hậu. Dân thương cụ như thương chính mình bị vết thương đau.

       Nhà tôi ở Hồ Gươm, gần trái tim Cụ Rùa. Những ngày cuối năm 2010. Nước Hồ Gươm cạn, Cụ Rùa phải ngoi lên khỏi mặt nước nhiều lần, tôi đều chứng kiến.

 Trưa 31- 12- 2010, tôi và rất đông người dạo Hồ Gươm đau xót nhìn cụ Rùa thảng thốt gọi người (gần bờ phía Đinh Tiên Hoàng- Hàng Khay). Nhiều tiếng nói vang bên tôi, mong cấp cứu cụ Rùa. Họ bảo: “Báo chí đưa tin Cụ bị mắc lưỡi câu. Phải cứu Cụ. Gỡ lưỡi câu bằng cách nếu cụ nổi lên ở góc nào đó thì thả lưới, từ từ lội xuống nước, gỡ lưỡi câu cứu Cụ”.

Tôi từ lâu không đọc báo. Không biết tin này. Nếu đúng vậy, chúng ta phải nhảy xuống hồ cấp cứu cụ Rùa như người dân yêu Cụ đã nói trên.

Vội về tra cứu internet, tôi nhìn rõ cụ Rùa bị nhiều vết thương, và nước Hồ Gươm đặc váng. Mọi người đau xót bảo: “Cụ bị rùa tai đỏ ăn”.

 Tết Dương lịch 2011. Tôi bồn chồn gõ bài “Cấp cứu cụ Rùa Hồ Gươm” đăng trên vanhac.org.

       Tôi viết bằng linh cảm rằng:

“Hồ Gươm vốn là cái ao làng. Ngày xưa hồ rộng nối sông Hồng, loài Rùa nước ngọt sống trong hồ là chuyện bình thường.

Nhưng rồi, Hồ Gươm bỗng trở nên linh thiêng với hình tượng Rùa Thần đòi Gươm vào thế kỷ  XV, do Kẻ sĩ Thăng Long sáng tạo. Một tài năng kiệt xuất đã dùng Văn Nghệ dân gian, thả  huyền thoại Rùa Thần đòi Gươm xuống Hồ Lục Thuỷ. Câu chuyện huyền thoại thấu lòng dân. Dân gian sung sướng đổi tên Hồ Lục Thuỷ thành Hồ Hoàn Kiếm- chở khát vọng Hoà Bình.

Gần sáu thế kỷ nay, Hồ Gươm trở nên thiêng liêng trong hồn người Thăng Long- Hà Nội. Họ hết lòng tôn kính và chăm sóc Hồ Gươm với Rùa Thần.

Thế kỷ XXI. Chúng ta cũng đang nâng niu gìn giữ  Rùa Thần Hồ Gươm. Nhưng có hai chiều suy nghĩ, làm ngưng trệ sự chăm sóc cụ Rùa Hồ Gươm.

Một là quá sợ sự linh thiêng, chạm  đến tâm linh cộng đồng, không tổ chức nào dám  đụng đến Hồ Gươm. Cứ để Hồ Gươm ô nhiễm. Nghiên cứu và nghiên cứu.

 Hai là quên sức mạnh của chính dân mình, đi tận đẩu tận đâu tìm các dự án nước ngoài, tốn hàng tỷ tiền để nạo vét Hồ Gươm. Trên thực tế, họ đã cố hết sức, nhưng chưa thành công.

 Hồ Gươm là cái ao làng. Văn hoá Việt Nam là văn hoá ao hồ, ruộng đồng, sông nước, đắp đê, chống bão lụt như cố giáo sư sử học Trần Quốc Vượng đã khẳng định.

 Văn hoá Việt Nam để lại kho báu tri thức về  cách ứng xử với sông, hồ, ao, đê ngăn nước lũ.

Tôi đề nghị chúng ta hãy ứng xử với Hồ Gươm và Rùa Thần bằng tri thức văn hoá dân gian Việt.

Chỉ đơn cử một vài chi tiết như: hằng năm vào dịp đón Tết Nguyên Đán, dân làng thường bảo nhau dọn ao hồ, thay nước, thu hoạch cá tôm, thả giống mới và bảo tồn giống cũ. Hoặc họ thả bèo Tây làm sạch nước hồ ao. Năm ngoái tôi về thăm làng Na tỉnh Bắc Ninh, thấy ao làng đầy bèo Tây xanh tốt, hoa bèo tím rung rinh trong gió thơm. Dân bảo họ thả bèo Tây, nó hút chất bẩn ăn, làm sạch ao, cá tôm, sinh sống mát mẻ, và lấy những cuộng bèo Tây làm thủ công mỹ nghệ gì đó, để xuất khẩu.

Chúng ta nên cùng nhau quay về học cách chăm sóc

Hồ Gươm với cụ  Rùa bằng tri thức dân gian. Có khó gì đâu. Ngay cả một người dân Hà Nội bình thường như bạn và tôi, cũng có thể lội xuống ven Hồ Gươm, nhặt rác, nhặt đá, từng ngày xúc từng xẻng bùn bẩn, cho Hồ Gươm thêm trong sạch mỗi ngày.

 Đặc biệt phải chặn ngay nguồn nước thải đang ngày

ngày đổ xuống Hồ  Gươm. Còn việc đổ thêm nước vào Hồ Gươm đang cạn thì dễ ợt, rẻ hơn các dự án nước ngoài rất nhiều…”

Chúng ta vốn sinh ra từ bùn đất ao làng. Sao bây giờ xa lạ với đất, với ao?

Người lớn ra thành phố ở vờ điệu không biết con trâu là con gì.

Ít ai nhớ câu thơ:

 “Ao làng trăng tám mây bơi

 Nước trong như nước mắt người tôi yêu”

    Nên người ta vô cảm xả rác và nước thải xuống các con hồ. Đến cả “Hồ Gươm mắt ngọc tâm linh” cũng bị hành xử như vậy.

Học sinh, sinh viên không còn nhớ về trồng cây, cuốc đất, chăn nuôi.

 Nay chuyện nước Hồ Gươm bị ô nhiễm và cụ Rùa bị thương, mọi người đều đứng trên bờ, họp với bàn rất lâu, dự án rất nhiều, bởi chúng ta quên đất, quên ao. Quên tài năng trí lực, văn hoá tri thức của Tổ tiên gửi lại. Quên dựa vào sức mạnh trí tuệ của muôn dân. Trong đời sống hiện nay, có biết bao con người Việt Nam đã làm nên những việc phi thường.

Những ngày đầu Xuân Tân Mão. Cụ Rùa hình như đã mỏi mệt vì kêu cứu.

 Những người Hà Nội bồn chồn, sốt ruột.

 Tôi ngày ngày Thiền hành quanh Hồ Gươm- Tháp Bút- Đài Nghiên- Đền Ngọc Sơn, gặp cụ Rùa, luôn nhận được giao cảm tâm linh.

 13h 45 phút ngày 14 Tết Tân Mão, Mai Thục ngồi Thiền, bỗng thấy lòng dạ bồn chồn, vội vào máy tính viết bài thơ “Cấp cứu Cụ Rùa” theo linh ứng:

                  Cấp cứu Cụ Rùa

Lạy Cụ Rùa thiêng, Hồ Hoàn Kiếm

Kẻ nào làm Cụ  nát thịt da

Vết thương loang, ngày càng nhức nhối

Cả mùa Đông, rét hại Hồ Gươm

Bao lần Cụ nhô  lên: “Kêu cứu”

Người xúm trên bờ, ngẩn ngơ trông

Không ai dám xuống, cứu Cụ Rùa

Người vô cảm và  người bất lực

Người sợ chạm báu vật thiêng liêng

Họp lên, bàn xuống, khoa với học

Để thân ngà ngọc Cụ Rùa đau

Cụ Rùa ơi! Thịt da như nhau

Cụ chảy máu, lòng con nhói buốt

Đã kêu vang: “Cấp cứu Cụ Rùa” (*)

Ẵm Cụ lên bờ, băng bó thuốc

Như người thân, chăm chút ân cần

Cứu Cụ qua, giây phút nguy nan

Không ai nghe, cứ họp với bàn!

Cơ thể sống, người vật như nhau

Cần Tình thương, thuốc chữa khi đau

Người ơi! Hãy mau mau cứu Cụ

Nâng Cụ kề bãi cỏ Tháp Rùa

Ngày ngày đắp thuốc, chăm chút Cụ

Như cứu người thân, mẹ cha già

Mau mau lên! Kẻo mà ân hận. 
 

Bài nghiên cứu tư liệu Cụ Rùa Hồ Gươm từ 1990 đến nay.

_________________________________

Hồ Gươm 17h 25 phút Ngày thứ Bảy 19- 2-1011  

© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 20.02.2011.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com