Dòng dõi tổ tông bên ngoại nhà tôi trước đây đều là nông dân. Ba đời gần đây cũng vậy; cụ ngoại tôi là nông dân lấy vợ nông dân, sinh ra ông ngoại tôi là nông dân; ông ngoại tôi lấy vợ nông dân, sinh ra mẹ tôi trước rồi sinh cậu Hàm tôi sau mười ba năm chữa chạy, cúng bái.
Cậu Hàm tôi sinh ra ở làng; cậu lớn lên bằng hạt thóc, củ khoai. Cậu cũng đi cày bừa, gánh phân, vạc bờ, cuốc góc, đi gặt; cậu lại chẳng học hành ra gì, học có đến lớn chín rồi bỏ ngang thành ra cậu tôi cũng là nông dân chính hiệu. Chết nỗi cậy mình có tí đẹp trai, lại có nhiều kẻ hay tâng bốc để được cậu mời ra quán nhậu nên nhiều khi cậu cũng thích làm người thành thị cho oai! Một lần cậu và mấy người bạn rủ nhau phóng xe lên thị xã chơi; người thành thị hay uống càphê nên cậu và bạn cậu cũng tạt vào một quán càphê. Chủ quán hỏi uống cà phê gì? Đen hay sữa? Người nói đen, kẻ bảo sữa, có người bảo người thành thị hay uống cà phê đen hơn thế là cậu uống cà phê đen. Vừa phì phèo thuốc lá vừa chờ cà phê nhỏ giọt tí tách, mặt cậu vênh cả lên nhưng đến khi đưa lên miệng uống thì cậu nhổ ra phì phì. Thì ra quán cà phê này có bán cả đồ ăn sáng, đĩa muối tinh cậu tưởng là đường trắng nên tranh thủ lúc không ai nhìn thấy, cậu lấy thìa xúc lấy xúc để cho vào ly cà phê! Lúc ra về, nhìn thấy một cô gái đèm đẹp đang lúi húi sửa xe đạp ven đường, không biết có phải do cái cổ áo của cô trễ cả ngực ra hay cậu thấy người thành thị galăng nên một mình cậu nhảy xuống giúp đỡ. Về đến nhà, cậu sờ túi thì ôi thôi hơn năm trăm ngàn bán lợn của bà ngoại mà cậu mang theo đã đi theo người đẹp!
Đất đai nhà ông bà ngoại tôi rộng lắm, phần do các cụ để lại, phần do ông bà ngoại tôi tích góp mua được. Cái đợt xã dồn vườn đổi thửa, nhiều gia đình thấy cấy lúa chẳng có lãi bằng đi buôn nên muốn sang nhượng để lấy vốn làm ăn, ông bà ngoại tôi đứng tên cậu Hàm mua được thêm mười sào, tương đương với ba nghìn sáu trăm mét vuông. Nhà cửa, đất đai rộng rãi lại chỉ có hai người già và một trẻ nên ông bà ngoại tôi rất muốn cậu tôi lấy vợ để có cháu nội bế ẵm. Hơn nữa làng tôi, người ta lấy vợ lấy chồng sớm lắm; con gái mười sáu, mười bảy; con trai mười tám, mười chín đã có con bồng con bế nhưng cậu tôi mải chơi, lại chê con gái quê dù cho xinh mấy nhưng cứ đẻ con ra là trông đã như bà già nên cậu có ý định muốn lấy vợ ở thị xã hoặc thị trấn để vợ được trẻ, được đẹp lâu. Bây giờ đã ba mươi tư tuổi mà cậu vẫn chưa tìm được cô vợ ở phố. Ông bà ngoại tôi than ngắn, thở dài, tổn thọ vì cậu; còn mẹ tôi cứ hễ đi đâu, gặp được cô gái nào kha khá là lại mai mối. Mấy lần đầu cậu tôi còn hăng hái đi, sau cậu chán, mẹ tôi cũng chán mặc cậu muốn lấy ai thì lấy.
Dạo này cậu Hàm hay đi lên thị xã lắm, tôi nghĩ không khéo mà cậu đang chạy xin việc ở thị xã để trở thành người thành thị, nhưng không, chú Đồng, bạn thân của cậu Hàm bảo cậu tôi đang phải lòng con bé cave ở quán Karaoke trên thị xã. Tôi không tin, lẽ nào cậu tôi lại đi yêu cái loại gái bán trôn nuôi miệng ấy? Tôi đang định đạp xe sang nhà ông ngoại để hỏi cho ra nhẽ thì cậu tôi đã dẫn cô cave về giới thiệu với ông bà ngoại tôi đây là người yêu của cậu, làm nghề uốn tóc ở trên thị xã và yêu cầu ông bà tôi tổ chức đám cưới trong tháng tới!
Người yêu của cậu Hàm hơn tôi ba tuổi, có cái tên rất thành thị, cũng mang tên một loài hoa- Thủy Tiên, khác với cái loài hoa mang tên tôi- Nhài. Chẳng biết có phải do di truyền hay do cái tên mà người yêu của cậu Hàm trông xinh lắm; mắt sắc, lông mi cong, mũi dọc dừa, miệng trái tim, chân dài có nhiều lông. Lần đầu tiên về nhà ra mắt bố mẹ chồng tương lai mà mặt người yêu cậu cứ lạnh tanh lạnh ngắt, gặp ai cũng giương mắt lên nhìn mà chẳng thèm mở miệng chào hỏi lấy một câu. Tôi bảo với cậu Hàm, sao người yêu của cậu khinh người thế? Thì cậu quát tôi dân nhà quê biết cái gì, người thành thị họ phải thế chứ không như con gái quê chưa chi đã toét miệng ra nói cười!
Không ai trong gia đình ông ngoại tôi đồng ý với cô con dâu thành thị này. Ông ngoại tôi bảo, lấy nó về thì nó sẽ làm chồng cậu tôi. Bà ngoại nói, đẹp chẳng gặm ra được mà ăn, sướng không muốn sướng, muốn khổ thì cứ đi mà lấy. Mẹ tôi van nài cậu tôi nên lấy cô Thắm, giáo viên trường làng, cô tuy không xinh như người yêu của cậu nhưng có duyên và nhất là đảm đang. Ngay cả bố tôi, tuy chỉ là rể, lại rất ngại can thiệp vào chuyện riêng của nhà ngoại nhưng cũng lắc đầu bảo rằng cậu Hàm đang tự giết chết đời mình! Cậu Hàm tôi mọi khi hiền hiền là thế mà chẳng hiểu do ăn phải bùa mê thuốc lú gì của người yêu, hằm hằm cái mặt tuyên bố với ông bà ngoại tôi rằng, nếu không cho cậu lấy cô Thủy Tiên thì cậu sẽ bỏ nhà ra đi! Tất nhiên ông bà ngoại tôi có mỗi mình cậu là con trai nên đành ngậm đắng nuốt cay mà chiều theo ước nguyện của cậu.
Vợ cậu là người thành thị nên theo ý cậu phải tổ chức đám cưới theo nghi lễ thành thị. Nghĩa là phải có xe hơi đón dâu chứ không phải là xe máy như ở quê; có ban nhạc sống chứ không phải là mở băng; thuốc lá không thể là thuốc du lịch mà phải là ba con năm; nước uống không thể là chè xanh mà phải là chè mạn ướp hoa Sen; đồ uống là bia chai Hà Nội chứ không thể là rượu quê nấu. Đặc biệt là cỗ, ngoài các món thông thường ở quê còn phải có các món ở thành phố như chim câu quay, gà tần thuốc bắc, cá quả hấp muối, nho Mỹ tráng miệng. Để khoe với vợ xinh thành thị rằng mình quan hệ rộng rãi, có nhiều bè bạn nên bạ ai cậu cũng mời; có người cậu gặp đúng một lần chỉ nhớ tên mà không nhớ mặt, cậu cũng mời. Tôi được cậu Hàm giao làm tổ trưởng tổ viết thiếp mời gồm bốn người mà viết liên tục trong ba hôm, rã rời cả ngón tay mới xong. Mỏi tay, mờ mắt nhưng dẫu sao tôi cũng mừng cho cậu đã có vợ thật sự ; ở làng, vào cái tuổi của cậu, khối người đã có cháu ngoại gọi bằng ông rồi đấy thôi! Tôi mừng cho cậu nhưng trời không mừng cho cậu. Hôm cưới, trời mưa sầm sập từ sáng sớm đến hai giờ chiều, chỉ có ba bảy mâm cỗ được tiêu thụ còn hơn một trăm mâm nằm la liệt trong nhà, ngoài sân. Toàn bộ cháu, chắt họ hàng bên ngoại nhà tôi được huy động bê cỗ đến từng nhà trong làng để biếu. Sau đám cưới cậu Hàm, cả ông bà ngoại tôi lăn đùng ra ốm, may mà có tiền thuốc thang chứ không, khéo hai cụ đã rủ nhau sang bán cỗ ở thế giới bên kia!
Hưởng tuần trăng mật ở thành phố xong, cậu mợ tôi xách vali về quê sinh sống. Mợ Thủy Tiên cũng trương cái tấm biển” Uốn tóc môđen!” bên cái quán ven đường trước cửa nhà ông ngoại nhưng được đúng ba tuần thì cất biển. Nguyên nhân, mợ quen hát karaoke chứ không quen uốn tóc; ba cái đầu mợ uốn thì hai cái bị cháy khét lẹt còn một cái suýt nữa thành sọ dừa vì bị điện giật!
Không làm được nghề thành phố nhưng cậu cũng không cho mợ làm nghề nhà nông; cậu sợ móng chân, móng tay của vợ bị màu ăn vàng khè, sợ mái tóc xanh mướt của vợ bị quăn đi vì nắng, sợ cái dáng đi thanh tú người thành thị của vợ chuyển thành thình thịch vì bị gồng gánh nặng. Mọi cái từ cày, cấy, gặt hái cậu đều thuê hết. Không phải làm gì nhưng vợ chồng cậu mợ vẫn sống an nhàn từ lúa má, hoa màu trên vườn, trên ruộng của ông bà ngoại tôi.
Năm sau, vợ cậu đẻ con gái thiếu tháng, nhưng vẫn nặng ba cân rưỡi . Cậu đặt tên con là Thành- Hoàng Thị Thủy Thành. Cậu đã lớn tuổi, lại khát có con trai nối dõi nên cái Thành mới được bảy tháng đã phải cai sữa vì vợ cậu lại mang thai. Đứa con thứ hai của cậu là con trai. Cậu sung sướng lắm, đặt tên con là Phố. Hôm mẹ tôi và tôi đến thăm, cậu Hàm giải thích về cái tên của con, cậu bảo chị nó tên là Thành, em nó tên là Phố để sau này chúng nó lớn lên sẽ trở thành thị dân chứ cứ mãi cái kiếp nông dân này vừa nghèo vừa khổ; hơn nữa... cậu Hàm nói đến đây thì ngập ngừng, tôi và mẹ đều hiểu, cậu muốn khoe “hơn nữa” vợ cậu là người thành thị. “ Vâng vợ cậu là người thành thị, ăn trắng, mặc trơn, để bà ngoại phải tự giặt quần áo của mình và của ông”, tôi đang định nói ra câu này thì vội kìm được; tôi sợ mẹ tôi sẽ mắng mình là kẻ hỗn láo? Lúc mẹ tôi ra cầu ao tranh thủ giặt quần áo cho ông bà, cho vợ con nhà cậu, cậu Hàm vỗ vai tôi:
- Mày cố mà học để thoát khỏi cái kiếp nhà quê! Có lẽ lứa lợn tới tao sẽ bán cùng với hai tấn thóc, dùng tiền chạy việc hay buôn bán ở thị xã rồi mua nhà, đưa dần vợ con ra, nâng cấp cái thành phần nông dân của mình thành thị dân cho nó văn minh!
Tôi bĩu môi:
- Cậu đừng có nghe vợ bán nhà lên thị xã kẻo có ngày đứng đường đấy! Cậu không có trình độ, không có nghề nghiệp lên thị xã mà ăn xin à?
- Mày đúng là dân quê, tầm nhìn không vượt qua nổi lũy tre làng!
Tôi hứ một tiếng rồi bỏ đi, tôi chẳng muốn tranh luận với cậu; ngày cậu chưa lấy vợ tôi còn hay trò chuyện với cậu nhưng từ ngày cậu lấy vợ, nghe vợ nên tôi thất vọng về cậu. Vốn hay được bạn rượu nịnh cậu là người hào hoa phong nhã giống người thành phố; cậu thích. Nay lại được vợ xui bán nhà, bán ruộng lên thành phố cho nó nhanh giàu, nhanh văn minh; cậu muốn, nhưng ông bà ngoại tôi kiên quyết không cho nên vợ chồng cậu hậm hực lắm!
Ông bà ngoại tôi không cho cậu Hàm trở thành thị dân nhưng cậu, con cậu, ông bà ngoại tôi và cả làng tôi bỗng dưng trở thành người thành thị ở cấp thành phố đàng hoàng chứ không thèm ở cấp thị xã! Cậu Hàm đứng chắp tay sau đít oang oang thông báo cho cả nhà cái tin đặc biệt mà cậu mới nghe được, mấy tháng nữa thị xã sẽ được mở rộng và nâng cấp thành thành phố; cái làng giáp ranh này sẽ trở thành một phường của thành phố, rồi một khu công nghiệp sẽ mọc lên ở đây!
Đúng là làng tôi từ làng biến thành phường thật rồi; ngay cái tên làng Thông có từ hàng trăm năm, gắn với cái đồi Thông nổi tiếng quanh năm rì rào gió thổi cũng biến thành cái tên phường Quyết Thắng. Thế làng tôi, à quên phường tôi sôi động hẳn lên. Này nhé đường làng không tên, không đèn sẽ thành phố mang tên một danh nhân, có đèn cao áp chiếu đêm đêm. Ngõ có số, nhà có số hẳn hoi! Nước máy sẽ thay nước ao! Nhất là đất, giời ơi là đất , người khắp nơi ùn ùn đổ về mua đất làm cho giá đất tăng chóng mặt. Những quí ông, quí bà bước từ xe hơi xuống, chỉ tay chỗ nào là chỗ ấy mấy tháng sau mọc lên ngôi nhà đẹp đẽ hoặc bán sang tay kiếm vài trăm triệu chênh lệch. Người dân làng tôi thi nhau bán đất thổ cư, bán ruộng để xây nhà to, mua xe máy, ti vi, tủ lạnh, máy điều hòa đắt tiền ... toàn những thứ xa xỉ mà mấy tháng trước đây, người nông dân quê tôi chỉ có thể nhìn thấy trong siêu thị trên thị xã!
- Ha, ha, ha! Giàu nhất phường là tao!- Cậu Hàm tôi vỗ ngực trong cái quán thịt chó, bia hơi mới mở ở cạnh phố. Không cần phải bán đất thổ cư và cái ao rộng, chỉ nguyên ba ngàn sáu trăm mét vuông ruộng mà ông bà ngoại tôi mua thêm hồi nào nay nằm trúng trong khu qui hoạch công nghiệp, lại là mảnh đất đẹp nhất mà một ông chủ nước ngoài xây nhà máy nên được đền bù khá thỏa đáng. Hai triệu một mét vuông nhân với ba nghìn sáu trăm mét vuông thành bảy tỷ hai trăm triệu đồng! Một số tiền có nằm mơ cậu Hàm cũng không dám mơ tới? Có lẽ thế mà hôm ký giấy nhận tiền đền bù, nhìn đống tiền lù lù trước mắt, cậu phải vả vào mặt mình mấy cái, thấy đau, cậu mới biết là mình không mơ!
ở đời có tiền mua tiên cũng được thành ra cậu Hàm tôi bắt đầu công cuộc chuyển đổi thành phần; từ nông dân thành người thành phố thì đã có quyết định hẳn hoi, giờ chỉ cần biến đổi cái chất cho mạnh mẽ nữa là ổn! à, cái nhà cổ hơn một trăm năm, gỗ lim, lập ngói rêu phong mát mẻ kia, nơi mà cậu đã được sinh ra và lớn lên sao mà bây giờ trông nó lạc lõng so với những ngôi nhà bêtông, cao tầng san sát đến thế? Phá, lừa cho ông bà ngoại tôi đi Hạ Long nghỉ mát với tôi và bố mẹ tôi, cậu Hàm đã cho rỡ ngôi nhà cổ, rồi thay vào đó là cái mẫu thiết kế ngôi nhà bốn tầng, chín phòng. Ông ngoại tôi đi nghỉ mát về, nhìn thấy ngôi nhà mà bố mẹ mình và vợ chồng con cái mình đã từng sống gắn bó cả đời, nay chỉ còn là một đống gỗ, đống ngói, ông ngoại đã tuyên bố không nhìn đến mặt cậu Hàm nữa. Cầm một tỷ rưỡi đồng bán đất mà ông bà giữ lại, ông về làng Sâm- quê bà ngoại mua một thửa đất có cả ao, dựng lại ngôi nhà gỗ lim cũ. Ông cho mẹ tôi hai trăm triệu, mua tặng tôi chiếc xe máy và chiếc điện thoại di động mừng tôi thi đỗ vào đại học, còn bao nhiêu ông gửi tiết kiệm để hàng tháng lấy lãi chi dùng cho ông bà.
Xây xong ngôi nhà cao to lừng lững giữa phường, cậu tôi mua một loạt trang thiết bị đắt tiền của Mỹ, Nhật, ý. Cậu cũng mua liền một lúc hai chiếc xe máy của Nhật trị giá gần một trăm triệu cho cậu và mợ. Xe của cậu thì sáng sáng cậu đèo vợ và con ra quán ăn cách nhà hai trăm mét để ăn phở, bún, bánh mì batê hay để cậu lượn lờ đến nhà bạn bè uống bia, chơi bài ăn tiền. Còn xe của mợ thì để mợ đi chợ cách nhà hai trăm ba mươi mét để mua thức ăn hay đi đến các đền chùa để hương khói. Lúc đầu vợ cậu còn đi chợ, nấu ăn, sau kêu mệt nên cậu phải thuê một cô ôsin về giúp việc chợ búa, cơm nước, quét dọn.
Mợ đi chùa nhiều nên hay gặp thầy bói bói bài ở trước cửa chùa. Một thầy đeo kính đen, nhìn vào cặp đùi mỡ màng sau làn váy mỏng của mợ vẫy mợ lại bảo rằng số mợ không là phu nhân thì cũng rất giàu có. Mợ thở dài nói rằng lấy chồng thích đái bụi chuối hơn đái bồn thì phu nhân cái nỗi gì? Thầy xoa đùi mợ rồi bảo:” Giai cấp nông dân à? Nhưng sắp giàu to nhờ có lộc lớn!”. Đôi mắt mợ lóe sáng, hỏi thầy làm thế nào để lấy được lộc? Bàn tay thầy lùa vào trong váy, mợ chặn lại. Thầy bảo không muốn lấy lộc thì thôi, bàn tay mợ lại lỏng ra. Mãi rồi thầy bảo chiều nay đánh con đề bốn mươi.
Mợ chưa từng đánh đề, lại cũng chẳng tin lắm nên về nói lại với cậu thử ra quán nước bà Lại ghi năm mươi ngàn xem nào? Quả nhiên tối đó đề về bốn mươi. Cầm ba triệu rưỡi, cậu tiếc ngẩn ngơ; mợ xỉ vả mình ngu như chó, thầy cho lộc giàu có không biết đường mà ăn, biết thế rút một trăm triệu tiền tiết kiệm ra ghi đề, ghi lôtô thì có phải được bảy tỷ, gần bằng tiền bán đất không? Tối hôm sau, hôm sau nữa, rồi tối nào cũng vậy, cứ đến giờ tivi thông báo kết quả xổ số là cậu mợ lại nín thở xem đề, lô về bao nhiêu? Được thì ít mà thua thì nhiều, đã thua, cậu lại càng đánh to để hòng gỡ lại, càng đánh càng thua.
Không làm, miệng ăn đến núi cũng lở; nhà cậu Hàm trừ ôsin ăn theo định mức nông dân còn vợ chồng, con cái ăn theo tiêu chuẩn thượng lưu của người thành phố, không những thế mà còn lô, đề “ăn” nữa nên hơn ba tỷ bán ruộng gửi tiết kiệm để lấy lãi sinh sống đã rút đến đồng cuối cùng. Thế là đồ đạc trong nhà dần dần đội nón ra đi, bắt đầu từ máy điều hòa, máy giặt rồi đến tivi, tủ lạnh, bàn ghế salông, chiếc xe máy của cậu và cuối cùng là chiếc xe máy của mợ. Đồ đạc mua thì đắt, bán thì rẻ nên chẳng mấy tháng, nhà cậu lại hết tiền!
Trước đây còn có ruộng, có lúa gạo để ăn, nay không còn ruộng, nhà cậu chỉ còn cái xác không. Chẳng thể gặm bêtông mà ăn được, cậu đành rao bán nhà, đi mua mảnh đất be bé để xây nhà, số còn lại lấy vốn làm ăn! Nhưng bây giờ đất đai, nhà cửa đang vào giai đoạn đóng băng nên chẳng có mấy người ngó ngàng đến nhà cậu. Có mấy người hỏi mua thì họ trả giá quá rẻ, chỉ bằng tiền mà cậu đã xây nhà. Họ bảo mua là để mua đất chứ cái nhà xây kệch kỡm nửa ta, nửa Tây thì chó nó mua!
Nhà cậu đã bắt đầu phải đi vay nặng lãi 3% một tháng để ăn. Đang lúc túng quẫn thì cậu Hàm gặp được vận may, chính ông chủ Tây đã mua đất ruộng của cậu đến mua tiếp ngôi nhà của cậu với mức giá cao nhất so với những người đã từng trả. Ông chủ Tây mua, cải tạo lại ngôi nhà của cậu Hàm để làm kho chứa hàng, chả là sản phẩm băng vệ sinh phụ nữ, siêu mỏng, siêu thấm, siêu khuyến mại của công ty ông đang bán rất chạy. Vậy là lần thứ hai trong cuộc đời, cậu Hàm phải hàm ơn ông chủ Tây!
Bán được nhà, cậu Hàm đi tìm mua đất; đất không đắt nhưng cũng không rẻ, chỉ chững lại thôi nhưng giá cả vật liệu xây dựng như ximăng, sắt, gạch, công xây thì lại tăng gấp đôi thời kỳ cậu xây ngôi nhà to vật. Nếu mua đất, cho dù be bé để xây nhà thì số dư còn lại chẳng là bao. Còn ra ngoại thành đất đai rẻ hơn thì lại trở thành nông dân, cậu mợ chẳng thích. Bàn đi, tính lại, cậu quyết định mua căn hộ chung cư hiện đại đang xây. Cậu phải nộp trước một trăm triệu, số còn lại nộp khi giao nhà nhưng tính theo giá vàng. Cậu phải đi thuê nhà, hai triệu đồng một tháng. Đến lúc nhận nhà chung cư thì giá vàng đùng đùng lên cơn sốt, từ một triệu một chỉ nhảy phắt lên một triệu tư. Nộp nốt tiền, nhận nhà xong, cậu còn đúng hai trăm bốn mươi triệu. Cậu dùng một trăm triệu mua sắm đồ dùng, xe máy, còn một trăm bốn mươi triệu lấy vốn mở cửa hàng bán bia hơi. Theo như quan sát của cậu thì người dân phường cậu bây giờ nghiện bia hơi và nghiện đề nhiều nhất. Làm chủ đề thì cậu không đủ vốn, vậy nên mở nhà hàng bia hơi là thượng sách!
Nhờ có nhan sắc của vợ mà nhà hàng bia hơi Thủy Tiên của cậu rất đông khách. Nhưng cậu Hàm, tuy đã là người thành phố mà vẫn thật thà như người nông dân, cậu cho rằng đến ông chủ Tây còn được ưu đãi huống chi cậu là người Việt Nam; hơn nữa cậu đã đóng thuế đầy đủ theo qui định của pháp luật thì cứ đàng hoàng mà làm ăn nên mỗi khi có thuế vụ, quản lý thị trường đến kiểm tra, cậu chỉ chiêu đãi vài vại bia mà không có phong bao. Thậm chí ông phó phòng thuế còn gợi ý cho cậu Hàm rằng có muốn nộp thuế ít đi một nửa không, ông sẽ vẽ đường cho bằng cách chỉ khai báo doanh thu thấp đi một nửa, tất nhiên một nửa này cưa đôi như tất cả các doanh nghiệp tư nhân, Nhà nước khác đã từng hợp tác với các ông! Lợi cả đôi bên là thế song cậu Hàm nói rằng ông làm vậy là tham nhũng. Thế là tháng sau, nhà hàng của cậu phải nộp gấp đôi tiền thuế. Cậu làm đơn khiếu nại thì thanh tra thuế về làm việc, kết luận gia đình cậu trốn thuế năm mươi triệu đồng, phải nộp truy thu và nộp tiền phạt nếu không sẽ bị truy tố ra tòa!
Cậu Hàm rất sợ bị đi tù, vừa khổ cực, vừa bị người đời khinh rẻ, lại mất vợ đẹp như chơi nên cậu bán tống bán tháo cái nhà hàng bia hơi và rút chút tiền tiết kiệm còn lại để nộp phạt!
Tránh được tù tội, cậu Hàm lại rơi vào cảnh tù túng. ở quê, hết gạo, cậu Hàm có thể chạy sang hàng xóm để vay vài bơ gạo; hết cái ăn, có thể chạy ra ao cá, thả cái vó xuống là có cá ăn, chạy ra vườn hái nắm rau là có rau ăn, bẻ cái que tre là có tăm xỉa răng. Nhưng mà cậu đang ở thành phố, cái gì cũng phải tiền, từ cái tăm, mớ rau, cân gạo, ngay cả nước sinh hoạt- một thứ thừa mứa ở nhà quê nhưng ở thành phố cũng phải mất tiền mà nhiều khi cũng chẳng đủ hoặc đủ thì nước đục, vàng, có cả giun. Cái nỗi nhục lớn ở đời là phải đi vay tiền, kể cả vay tiền anh em, chính cậu Hàm tôi đã từng bảo với tôi vậy khi mà cậu đã từng đi vay bạn bè không được đành phải đi vay nặng lãi để có tiền ăn. Hết tiền, lại ở chót vót trên tầng bảy của chung cư, gia đình cậu tôi như chim nhốt trong lồng. Ông bà ngoại tôi và bố mẹ tôi vẫn hay gửi gạo và tiền lên tiếp tế cho gia đình cậu nhưng gia đình cậu vốn đã quen với lối sống thị thành phong lưu nên không thể hạ cấp mà ăn cơm rang hay khoai lang luộc buổi sáng mà phải là phở đặc biệt có thêm một quả trứng gà; ăn trưa, ăn tối phải có thịt quay, giò chả, có bia non vậy nên một lần nữa đồ đạc trong nhà cậu lại đội nón ra đi. Hôm tôi mang gạo đến cho nhà cậu Hàm, chung cư mất điện, tôi phải gửi bao gạo ở chỗ nhà gửi xe, leo lên tầng bảy, bảo cậu xuống lấy gạo. Nhà cậu giờ trống trơ trống hoắc, cậu giữ tôi ở lại ăn cơm, tôi từ chối phải về ngay để chuẩn bị đồ đạc sáng mai còn lên Hà Nội bắt đầu vào học năm thứ ba.
Ông bảo vệ lấy tôi hai ngàn tiền gửi xe, tôi dắt xe máy ra, đi loanh quanh mãi mà vẫn chưa ra được đến phố chính; không những thế, ở những chỗ khuất nẻo, tôi rùng mình trước những kim chích ma túy vứt chỏng chơ. Mới có mấy năm mà nhà cửa san sát, chen chúc xô đẩy lẫn nhau; tôi bị lạc, lạc ở chính cái làng tôi xưa kia. Làng đã biến mất, mất hết rồi, ngay cả hai cái biểu tượng vốn là niềm tự hào của làng cũng không còn nữa. Đó là cây đa cổ thụ gần hai trăm năm nằm cạnh đường làng bị chặt hạ để nắn đường cho nhà ông trưởng phòng nhà đất ra mặt phố. Đó là đồi thông vi vu gió thổi bị chặt hạ cả trăm cây để nhường chỗ cho nhà hàng Karaoke Đồi Thông cao cấp; toàn thấy những VIP và dân ăn chơi giàu có đi xe hơi, xe máy đắt tiền đến giải trí với những cô gái chân dài, đẹp như người mẫu.
Tôi đã lên thủ đô, đã vào học được hai tuần nhưng nỗi buồn về cậu Hàm, về mất làng lúc nào cũng chập chờn trong đầu tôi. Nhiều lúc tôi buồn quá, phóng xe máy từ nhà trọ ra vườn Bách thảo để thèm được nghe lại một tiếng chim hót trên cây. Chiều nay, trời đã vào thu nhưng vẫn còn nắng chang chang, ngày mai thi hết môn rồi mà tôi chẳng nhét được chữ nào vào đầu. Tôi đứng lên, chụp chiếc mũ lên đầu rồi dắt xe máy đi ra; tôi thèm được ngồi bệt xuống đám cỏ tựa lưng vào gốc cây râm mát, bứt mấy cọng cỏ đưa lên mũi ngửi cái mùi hăng hắc; thèm được lắng nghe tiếng chim Chích kiếm mồi.
Tắc đường, người và xe vón cục trước mặt, tôi lao xe lên vỉa hè, suýt đâm vào mấy người đàn ông đang đứng ngồi quanh gốc cây:
- Mả mẹ mày, mù hả?
Một người đàn ông chửi tôi, nghe tiếng rất quen, tôi dừng xe quay đầu lại. Quái lạ, người thì ngồi thụp xuống, người thì quay mặt đi, người thì kéo mũ sụp xuống mặt? ơ, ai như chú “yêu xe hơn yêu vợ?”, đó là biệt danh mà mọi người đặt cho chú Khoái; chuyện là nhà chú có chín sào ruộng, được đền bù tám triệu, chú bán thêm đất vườn, dồn tiền mua chiếc xe máy hai mươi triệu. Trước chú Khoái thường ngủ với vợ nhưng từ ngày mua xe máy, chú ra ngủ với xe có tới ba cái khóa, khóa cổ, khóa càng và khóa xích vào chân giường của chú. Tôi dắt xe đi lại. ơ, cả bác Toàn, chú Tiện, chú Kim nữa? Tôi chào mọi người, họ ngượng ngập hỏi tôi đi học về đấy à? Tôi đáp:
- Chiều nay cháu nghỉ. Các bác, các chú đi đâu đấy?
- à, à, bọn tao lên Hà Nội du lịch xem thủ đô thế nào!- Chú Kim bảo.
Đi du lịch mà quần áo lôi thôi như nông dân đi làm ruộng thế này? Mà sao lại mang cả xà beng, xẻng, quang gánh? Thấy tôi nghi ngờ, bác Toàn nói toẹt ra:
- Sĩ diện cái đếch gì , chúng tao không còn ruộng nữa, có mấy chục triệu đền bù thì xây nhà, mua xe máy hết rồi; bây giờ còn cái xác nhà không, lên đây đi cửu vạn kiếm tiền cho con ăn học.
Tôi thấy ngực mình như có ai bóp ngẹt. Tôi đã học xong môn Triết học và môn Kinh tế chính trị nên tôi phần nào hiểu được rằng muốn chuyển đổi từ cái cũ lên cái mới, từ cái thấp lên cái cao thì phải có đầy đủ cơ sở hạ tầng và thượng tầng kiến trúc. Những người nông dân quê tôi ngủ một đêm, sáng ra biến thành người thành phố chỉ thông qua cái quyết định nóng vội, chạy theo thành tích của một số cán bộ tỉnh; thấy người ta lên thành phố mình cũng lên thành phố; thấy người ta có các nhà đầu tư nước ngoài, mình cũng ưu đãi đặc biệt vượt cả chính sách của Chính phủ, trải thảm, rạp người mời gọi. Người nông dân không được trang bị kiến thức, lối sống, văn hóa của người thành phố và đặc biệt không có công ăn việc làm gì thì chỉ góp phần làm cho họ bần cùng đi.
Nhìn thấy mồ hôi đang chảy nhễu nhại trên mặt những người nông dân làng tôi xưa kia, nay là dân phố phường tôi, tôi thương họ quá, tôi đang phân vân không biết có nên mời họ vào cái quán giải khát trước mặt kia, chiêu đãi mỗi người một ly kem ăn cho mát ruột không thì chuông điện thoại di động của tôi đổ liên hồi. Tôi rút máy ra nghe, giọng mẹ tôi hốt hoảng, đau đớn. Chiếc điện thoại tuột khỏi tay tôi rơi xuống đất, tôi quỵ xuống hè. Bác Toàn vội bế xốc tôi lên, lúc sau tôi mới tỉnh lại, mọi người xúm vào hỏi tôi bị làm sao? Mãi, tôi mới nói cho mọi người biết rằng cậu Hàm tôi nhảy lầu tự tử. Chú Khoái trèo lên chiếc xe máy của tôi, giục tôi ngồi lên rồi lượn lách thoát khỏi đám đông, phóng ngay về quê.
Cậu Hàm tôi tự tử thật, cậu nhảy từ chính căn hộ chung cư của cậu xuống đất. Cậu Hàm tự tử vì tiếc ngẩn tiếc ngơ, trước được thừa kế bao ruộng đấy mà nay không còn tấc đất cắm dùi!
Cậu Hàm tự tử vì vợ cậu lại ngựa quen đường cũ, đi làm cave ở nhà hàng Karaoke Đồi Thông và bán dâm bị công an bắt được. Đau đớn hơn, đứa con gái đầu lòng của cậu, sinh thiếu tháng với cậu nhưng lại đủ tháng với người ta. Thế mà ngày đầu gặp cậu, nàng Thủy Tiên bảo mình là thợ uốn tóc, chỉ đến đây hát vui vẻ chứ tấm thân vẫn còn trong trắng!
Cậu Hàm tôi tự tử nhưng may mắn thay cho cậu, cậu chỉ bị gãy ba rẻ xương sườn và gãy tay trái mà không tan xác. Cậu đã được chính mảnh đất làng xưa còn sót lại cứu sống; đó là một vũng bùn lầy trên cái nền sân bêtông do bị rút ruột quá nhiều mà tạo thành. Cậu rơi trúng vào đấy! Lúc tôi vào thăm cậu trong phòng cấp cứu ở bệnh viện tỉnh, cậu đã tỉnh lại, nhìn thất tôi, cậu hối hận:
- Cậu muốn trở lại thành thằng nông dân, lấy một con vợ nông dân..!
- Cậu ơi! thật ra cậu vẫn là ...
Tôi còn chưa kịp nói hết câu thì một bà y tá đi vào quát nhặng lên:
- Con nhà quê này, ra ngoài!
Hừ, ai cũng sinh ra ở quê nhưng vừa bước ra khỏi làng đã quay lại chửi quê nhem nhẻm! Tôi làu bàu trong miệng, bước nhanh ra ngoài, bắt gặp sáu, bảy người đang nói chuyện với bà ngoại và mẹ tôi ở hành lang; người xách cam, chuối, người xách cái làn có con gà mái tơ. Họ là những người nông dân ở làng Sâm, cạnh nhà ông bà ngoại tôi; nghe tin, vội vã lên thăm.