THẾ PHONG


KỲ THỨ 12


Về đến nhà, Đỗ cởi quần áo ra treo trên mắc, anh bắt đầu tát hết nước trong bể ra chuẩn bị tái tạo thành một hầm trú ẩn gia đình. Anh làm quên mệt, quên cả ăn cơm, càng lo hơn nữa khi tin chiến sự thông báo trên radio về tình hình chiến sự nóng bỏng, áp lực quân sự vùng Một, vùng Hai, vùng Ba ... nhất là Sàigòn trung tâm nhận loạt pháo kích, càng nhiều hơn nữa vẫn trọng điểm sân bay Tân Sơn Nhất. Một khi máy bay ở hậu cứ còn an toàn, muốn tránh những khẩu pháo từ xa nã vào và tất nhiên hầm trú ẩn của gia đình Đỗ càng phải kiên cố nhiều hơn. Gia đình hàng xóm thường ra chỉ làm hầm trú ẩn dã chiến, bao cát được chất lên giường mỗi khi nghe tiếng ùng oàng chuyển xuống đất nằm. Còn gia đình Đỗ năm đứa con còn nhỏ cả, lúc nhúc từ ba đến chín tuổi không dễ dàng nhẩy ra khỏi giường chui xuống hầm, vợ chồng Đỗ đã thỏa thuận với nhau, mỗi tối xuống hầm ngủ trước cho an toàn.

Bỗng dưng Đỗ lại nghĩ đến Trại David , tên người Mỹ đặt cho một trại lực lượng bốn bên trú tại Tân Sơn Nhất, chỉ cách nhà ở của Đỗ vài con đường. Nơi này có thành phần hai phái đoàn ở cạnh nhau: Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam ăn ngủ tại đó để làm việc với Việt Nam Cộng Hòa và Huê Kỳ. Xếp Tiên Không quân cho đào hầm xung quanh sâu hơn một thước, ngang hai thước, bơm nước vào đấy. Cuộc sống của hai phái đoàn rất êm ả, chiều chiều mặc áo may ô, quần đùi, dượt banh ở sân bóng rổ, hoặc chăm sóc liếp trồng bắp. Ở ngoài nhìn vào, Đỗ có ý nghĩ rất khôi hài, có khi nào hoả tiễn lại pháo trúng nơi này không? Cho đến khi Tân Sơn Nhất bị pháo tơi bời thì nơi này vẫn được an toàn. Một lần Đỗ được chứng kiến tận mắt sân bay bị pháo; họ nhảy xuống đúng hào làm chỗ nấp. Về nhà Đỗ kể lại tình hình ở ngoài phố, thiên hạ nhao nhao đèo nhau trên xe máy, xe hơi với đồ đạc đầy nóc như tìm cách di tản; nên vợ chồng anh cũng bị hoang mang. Và khi Phát vào chơi, giục Đỗ lấy cái túi lớn hỏng giây kéo đem ra chợ Tân Định sửa lại và cả hai tạt vào Brodard như muốn ngồi lâu hơn. Có linh tính như không dễ biết được, Đỗ bảo Phát vậy, rồi ra liệu có còn được ngồi ở đây tọa hưởng nữa không? Nhớ lại lần đi xem phim cao bồi Viễn Tây, phim Bố Già ở rạp Rex vào buổi chiếu dành riêng cho báo chí, truyền thanh, truyền hình do Mai Trung Tĩnh rủ rê. Anh ta nói với Đỗ:

- Xem đi, chứ sau này chắc gì còn được xem, tôi có sẵn hai thiệp mời đây.

Đỗ không nói ra nhưng trong thâm tâm mỗi người như đã biết trước cả. Còn Phát lại chủ quan cho biết đến giờ chót hãy hay, phi vụ có sẵn, bởi anh là chuyên viên không vận. Có một lần Phạm Bình An trở lại nhà Đỗ lấy cái ti vi gửi, bây giờ phi công không còn là xếp Phi đoàn 516 ở Đà Nẵng, nay được chuyển về đặc trách khu trục. Chàng hoa tiêu, độc thân vui tính, bạn học trung học thời xa xưa ở Hà Nội gặp nhau, chẳng hề bàn chuyện đi đứng, ngẫm dạm ý có gì anh lo lieu. Còn cô Hòa, người hàng xóm, vợ chuẩn úy Tiên làm ở Sở Mỹ nói với Khuê “... em đã có sẵn vé máy bay rồi, có gì ta cùng đi chị ạ...”

Một buổi chiều vợ anh đi làm về kể lại chuyện anh Nhàn nhà xuất bản Vàng Son đến Đài phát thanh kiếm nhắn cần gặp Đỗ. Nàng lại quên không nhắn lại, sau Đỗ gặp lại Nhàn mới vỡ lẽ. Có một người Việt gốc Hoa nhờ Nhàn xem có ai quen có thể chở họ qua cổng Phi Long vào sân bay Tân Sơn Nhất. Tất nhiên hộp bích quy chứa vàng, hột xoàn mang theo lọt qua cổng thì Đỗ sẽ được chia đôi. Chờ mãi không thấy Đỗ ra nhà in gặp, người Hoa kia bồn chồn tìm con đường khác, Nhàn kể lại câu chuyện này, còn tiếc mãi; riêng Đỗ chỉ cười trả lời chở người Hoa kia qua cổng không khó; vì Đỗ không có cơ duyên vì vậy vợ anh được quên đi không báo lại. Và việc này hình như cũng có một Đấng nào định trước, Đấng ấy không cho việc được thành tựu, nên Đỗ không duyên gặp đó thôi. Đỗ chìa lá thư của báo Asia News gửi từ Hong Kong báo tin dự định in một tập thơ của Đỗ, qua bản chuyển ngữ sang Anh dịch giả Đàm Xuân Cận. Trong thư ấy, tòa báo khuyên y như lời khuyên của Husband, ở lại chỉ có thể trở thành công nhân, công việc viết lách chấm dứt.

Nhàn bảo Đỗ dịch thư cho nghe, không tiếc về chuyện tự do tư tưởng hoặc làm công nhân thuần túy này nọ, mà anh tiếc hộp bích quy thoát tay thật quá uổng! Đưa người đi qua cổng là việc Đỗ làm thật dễ, như có lần Đỗ đưa Nhàn vào Câu lạc bộ Mây Bốn Phương Trời , thì có ai ngăn lại hỏi giấy tờ đâu? Nhàn biết rất rõ gia đình Đỗ hàng ngày chỉ đủ hai bữa cơm rau, có sữa cho con là may rồi, làm gì có tiền dư; nên thấy công việc dễ làm này Nhàn giới thiệu cho Đỗ. Nói đúng hơn thì ngay từ đầu tháng ba này, đời sống gia đình Đỗ khá hơn lên một phần; hàng tháng có thêm một trăm ngàn đồng, tiền trả lời của nhật báo Sóng Thần vay tiền làm báo từ giám đốc một công ty tư có tên Việt Nam Kỹ Thuật . Công ty này của Ngơi thầu việc xây cất, thiết kế điện nhà. Có một buổi gặp nhau, bây giờ anh có thêm vợ mới ở cùng gia đình nhà vợ trên dẫy lầu tầng ba đường Trần Quang Khải, đối diện Đình Nam Chơn. Vốn đầy văn nghệ tính mà Đỗ biết về Ngơi, là từ khi anh thuê nhà mẹ anh ta ở Lý Thái Tổ vào năm trước 60. Nay gặp lại Đỗ, Ngơi hỏi về tình trạng tài chính của nhật báo Sóng Thần , gợi ý nếu Đỗ gặp Uyên Thao hỏi xem cần vay vốn thì Ngơi sẽ cho mượn một triệu đồng với lời hai mươi phần trăm. Và trong số nửa phần trăm ấy, Ngơi tặng Đỗ để bù vào ngân quỹ gia đình eo hẹp. Khi ấy Uyên Thao làm tổng thư ký tòa soạn, thay mặt chủ nhiệm Nguyễn Thị Thái nhận tiền; hàng tháng Đỗ thay mặt chủ nợ Ngơi đến thâu lãi. Và lần này đột nhiên khi cầm trong tay hai trăm đồng từ nơi ban trị sự, Đỗ có cảm giác như đây là lần cuối.

Tin chiến sự bắt đầu đè nặng đến tỉnh Tuyên Đức, vợ Đỗ bồn chồn nghĩ đến ông bà ngoại, các em còn mắc kẹt ở ĐàLạt. Khuê đưa ra ý kiến, nếu di tản, thì đi phải có cả gia đình bên ngoại; để sang nơi đất khách quê người luôn có người thân thích bên cạnh nhau. Đỗ chưa biết tìm cách nào để biết ngày nào có chiếc máy bay C 130 bay lên Cam Ly; Đỗ sẽ theo đi để đón gia đình bên ngoại; vừa đúng lúc Phát đến chơi báo:

- Này ông ơi, 6 giờ 30 sáng mai 31 tháng ba; một chiếc C 130 do trưởng phi cơ Phương bay chuyến SGN-DLT-NTR-SGN, thế nào ông có tháp tùng không? Và đây là chuyến chót bay lên trên đó, thiếu tá Chu Bình Phương lên đón vợ con ông ta luôn thể.

Đỗ gọi Khuê lên báo tin này thì Phát nói ngay với vợ Đỗ:

- Hình như anh phi công Cargo này là dân Đà Lạt cùng học lớp đệ nhất với chị ở Trần Hưng Đạo, phải không chị?

Khuê gật đầu và biết tin này vui ra mặt, thì vừa lúc đó có một khách gọi cửa, Khuê nhìn ra ngoài bắt gặp Dũng, phi công A37 từ Đà Nẵng vào chơi. Thời gian quen biết viên phi công trẻ tuổi chưa lâu, thân người gầy gầy, nhưng lái máy bay oanh tạc lại thật cừ khôi. Mỗi khi Dũng về Saigon thường ghé ăn, ngủ tại nhà Đỗ. Dũng báo tin cho biết lý do bay gấp từ Đà Nẵng vào, vì vợ anh hiện là y tá làm ở Trung tâm Đa khoa Đà Lạt cùng đứa con nhỏ kẹt trên ấy. Vợ Đỗ báo tin cho Dũng biết mai có chuyến bay C 130 lên Đà Lạt, Dũng mừng quá “... để em đi với anh, em đón vợ con em; còn anh đón gia đình ngoại luôn thể. Thật là may! Vì chuyến này em về cũng chưa biết có cách nào đón vợ con em. Chị biết không, vì em lái máy bay chỉ chở người yêu là bom thôi chị ạ...” Vợ Đỗ giục hai anh em đi ngủ sớm, để sáng mai không thể để trễ chuyến máy bay cuối cùng thật quí giá này!

Sáng hôm sau ra phi đạo, phi công Dũng mặc bộ đồ bay mầu olive , đầy đủ huy hiệu Tổ quốc không gian phía tay trái; huy hiệu Phi Hổ 516 , dao, súng, áo lưới chùm ngoài-đây là loại áo đựng thuốc men, có cả lưỡi câu, mồi nhử cá, kiểu survival jungle, cho dầu ngoài biển cả hay trong rừng sâu vẫn có thể tự cứu mình sống sót. Đỗ mặc quần áo trận, trên nắp túi trái là tên, bên phải có hàng chữ Báo chí-Press để được hưởng ưu tiên di chuyển, phi công Dũng nói đùa, chúng ta ăn uống ở dưới đất, làm việc ở trên trời, em mặc đủ đồ nghề để xin “pắc” cho dễ”. Trưởng phi cơ xưa nay vốn là vua con mà anh”. Hai người tìm được chiếc máy bay C130, rồi gặp ngay trưởng phi cơ Phương thì mừng hết lớn. Đỗ cho Phương biết lý do hai người xin “pắc” đi Đà Lạt và Phương đáp: “Thôi mời chư vị lên là vừa rồi. Thử tua xong là bay liền”.

Ngồi trên phi cơ khổng lồ, Đỗ nghĩ đến phi công người Việt Nam nhỏ thó, nhìn họ de vào ụ như là lái chiếc xe gắn máy quẹo trái, phải hoặc như lái xe hơi bốn chỗ tiến, lùi, thật nhịp nhàng. Đỗ và Dũng không ai nói với ai; im lặng dành để suy nghĩ việc đi đón người nhà cách nào cho thật trôi chảy. Cái khó là phải bỏ nhà cửa, đem cái gì theo, bỏ lại cái gì, còn nữa, chó, mèo là vật thân thương trong gia đình bỏ nó lại thật khổ tâm, không dễ gì mà xa nó cho được. Đỗ sẽ nói, với ông bà cụ là bỏ của chạy lấy người; đó là ưu tiên số một rồi lại phải ra sân bay đúng giờ, tốt hơn là trước giờ trưởng phi cơ đến. Một khi đến chậm bị bỏ lại thật khốn đốn; hơn nữa đây là chuyến bay đặc biệt cuối cùng lên Đà Lạt, Đỗ chắc mẩm rằng đưa điểm này ra thuyết phục ông bà ngoại chắc thành công.

Bỗng dưng có tiếng ồn ào ở phía dưới máy bay, cơ phi chạy lại báo trưởng phi cơ An ninh sư đoàn đến kiểm tra phi cơ rời phi đạo. Là cuộc kiểm tra đột ngột, thường thường ít khi xảy ra, nếu không có tin báo đặc biệt. Có thể vì tình hình nghiêm trọng nên mới có sự vụ này, trưởng phi cơ mời chúng tôi rời băng ghế, nét mặt buồn thiu nói :

-Tôi rất tiếc phải thông báo với quí vị là ai đi pắc thì không thể cùng đi. Còn ai có lệnh di chuyển thì mở hành lý cho khám xét, nếu An ninh yêu cầu. Anh Đỗ ạ (quay sang phía Dũng và Đỗ) đến nước này tôi cũng đành chịu, mong các anh thông cảm.

Đỗ và Dũng rời phi đạo xách hành lý về nhà, báo nàng buồn xo về việc bất khả kháng này. Đỗ giải thích xin đi pắc gây rắc rối cho trưởng phi cơ, một khi An ninh có mặt; Đỗ an ủi vợ như vậy, vì nàng rất có hiếu với bố mẹ.

Có tin từ những người ở Đà Lạt thoat về Sài Gòn kể lại, đa số dân thành phố này chạy xuống Nha Trang theo đường Đà Lạt-Phan Rang. Kể từ mùng 3 tháng tư, người người nườm nượp bồng bế nhau thoát thân, nơi tạm trú đông nhất là Phan Rang.

Đỗ tìm gặp Phát vào ngày 15 tháng tư để hỏi xem có cách nào theo máy bay ra Phan Rang để dò tìm tin tức bên ngoại có di tản đến đó không? Thì buổi tối, tiếng kèn xe Vespa Phát đến. Vào đến nhà, tay cầm lệnh di chuyển đi Phan rang vào ngày 16 tháng tư. Đỗ nói với vợ, đây là cơ hội tốy nhất đi tìm gia đình bên ngoại. Đỗ ra ngay Trạm Hàng Không Quân Sự Saigon, đó là Air Terminal cũ của Huê Kỳ giao lại cho Không quân Việt Nam, sau ngày ký hiệp định ở Paris 1973. Và Mỹ rút quân về nước, cuộc chiến thay màu da thực sự đi vào thực tế. Khi thấy Đỗ, một quân nhân của Trạm quen biết Đỗ nhận lệnh di chuyển, bèn dằn giọng hỏi:

- Này nhà báo Lý Tưởng có điên không đó?

Đỗ lắc đầu, thì anh tiếp:

- Người ta chạy về Sài Gòn thì không được, nhà báo có nhìn thấy cảnh nhộn nhịp ở đây không; người ta đưa thân nhân theo chuyến bay Galaxy đi Phi, Thái, Honolulu, Hawai.. còn ông lại chui đầu vào máy bay đi Phan Rang, nơi này chỉ ngày một, ngày hai sẽ bị thất thủ. Phan Rang đặt dưới quyền chỉ huy tướng tiền phương Nguyễn Vĩnh Nghi, chuyến mai này nhà báo đi sẽ đi cùng với lính Dù ra ngoài ấy thay cho Biệt động quân về hậu cứ. Quân nhân Trạm Hàng kể cho Đỗ nghe cảnh có một không hai, một anh lính Kỹ thuật Không quân ở Đà Nẵng chưa hề học lái trực thăng H34 một ngày nào lái thay cho một phi công đại úy bỏ máy bay chạy lấy người ở Phi trường Phù Cát. Đó la thảm cảnh binh lính đu cả trên hai càng máy bay đông quá, thường ra chỉ chở được dưới một tiểu đội lính Huê Kỳ với quân trang, vũ khí thì nay chở lính Việt Nam ít kí lô hơn lại chở ba chục là quá mạng; còn đằng này họ bu theo, tính sơ sơ trên không dưới ba mươi tên còn đếm được ở bãi đậu Sài Gòn. Ấy là không kể người bị rơi rờt dọc đường, vì du theo càng máy bay quá mệt không chịu nổi với gió bạt ngàn lùa thổi mạnh như cơn phong ba.

Đỗ tra lời quân nhân cầm lệnh di chuyển của anh:

- Cứ ghi tên vào danh sách để tôi đi.

Anh ta chép miệng cầm lấy bút, ghi, qua nét mặt buồn rượi cảm thông cho số phận thật mỏng manh của Đỗ hơn Đỗ cảm nhận được!

 

... CÒN TIẾP ...


__________________________________________________________________

HỠI LINH HỔN TÔI - Truyện Vừa của Thế Phong do NXB Thanh Niên xuất bản Quí 2 năm 2007











© Tác giả giữ bản quyền.
.Cập nhật theo nguyên bản tác giả gởi ngày 19.02.2011.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com