KIM ĐỒNG NGỌC NỮ


PHÙNG PHƯƠNG QÚY


      Mưa gió quật từng cơn, muốn giựt tung tấm bạt che phía trên mái lều. Nước bắn qua tấm phên bồ, lạnh ngắt vùng da thịt bị hở ra ngoài quần áo. Chị quay qua ôm chặt thân hình ốm ròm bên cạnh.

- Đừng sợ nghe má! Hồi chiều chồng con nó chắn thêm mấy ngọn tầm vông trển.

- Hổng có sao hết! Má chết được cũng tốt. Chỉ thương con mù loà. Ráng đi con! Ông Bảy trưởng ấp nói, có nhà từ thiện cho hai má con mấy chục triệu rồi, mai mốt xã cất nhà tình thương cho mình… khắc…khắc…khắc.

Cơn ho kéo lên làm bà Hai ngẹt thở. Chị vuốt lưng cho má, chặn lời.

- Chừng nào có hẵng hay má. Mà thằng chồng con kì cục thiệt. Biết trời trở mưa mà còn đi đâu?

- Thì nó nói đi mần ăn mừ. Mần ăn gì đi hoài mấy tháng mới về? Tao sợ …hay là nó…Con coi coi, không chừng lại sanh tật như hai thằng trước.

- Kệ nó đi má! Số kiếp con vậy, chạy trời không khỏi nắng. Lâu lâu nó về phụ má con mình ít bữa được rồi.

Chị thấy đau nhói nơi ngực, bầu vú tròn trịa thanh tân nhức nhối như bị bàn tay vũ phu bóp nặn. Đã 40 tuổi, qua ba đời chồng mà chị chưa một lấn sanh nở. Cuộc đời rơi vào hoàn cảnh éo le như hôm nay thiệt ngoài ý muốn của chị, nhưng hình như đã được báo trước. Chị muốn sám hối, mà sao con tim bất trị không chịu nghe lời. Hai lăm năm trước chị là một đồng nhi trong ban nhạc lễ của Thánh thất. Tuổi 15 mắt nai ngơ ngác, tóc dài chấm lưng, chị đẹp như Ngọc nữ trên trời. Hai Giàu là một đồng nhi nam bên nhạc lễ, vào học trong Thánh thất trước chị hai năm. Anh không đẹp trai, nhưng ngón đờn và giọng ca thì nhứt hạng. Mỗi khi Hai Giàu cầm tới cây đờn cò, cất tiếng ca, chị cảm thấy trái tim như muốn rụng xuống đất. Ba năm sau, khi chị 18 tuổi thì trái tim nhạy cảm đó rụng thiệt, rụng cái độp vào tay Hai Giàu. Đêm lễ khánh thành thánh thất họ đạo, ban nhạc lễ và các đồng nhi nữ mệt muốn xỉu vì cả ngày phải hành lễ, hết quỳ lại đứng. Tan lễ chèo hầu trời khuya lơ khuya lắc. Hai Giàu tình nguyện đưa chị về, nhưng mới tới trường tiểu học thì anh lôi chị vào, không nói năng chi, anh ôm ghì lấy thân hình thiếu nữ phổng phao, bàn tay lần mở hàng nút sát nách chiếc áo dài. Những nụ hôn như thiêu như đốt, những vuốt ve làm bủn rủn toàn thân. Sự mệt mỏi rã rời sau một ngày cực nhọc cộng với niềm ái mộ đã lâu khiến chị không làm chủ được mình. Chị ngả dần xuông, hiến dâng một cách vô thức.

Kỳ cục là tình yêu. Con tim mù loà không còn nhìn thấy gì, không cần nghe lời phải quấy. Cơn đam mê chợt tỉnh, hai người cũng nhớ tới lời nghiêm cấm của vị Lễ sanh họ đạo rằng Nhạc lễ và Đồng nhi vốn là Kim đồng- Ngọc nữ trên trời, không được yêu nhau, không thể thành vợ chồng. Nếu cố tình lấy nhau sẽ chịu hậu quả khôn lường. Nhưng lúc đó chị đẹp lắm, mơn mởn như nụ hoa mới nhú. Lúc đó giọng ca của Hai Giàu càng mùi mẫn hơn, như có có bùa bả cuốn hồn người ta. Và họ trót nếm trái cấm tình yêu, mê mẩn không mở mắt ra được nữa. Cả hai bị đuổi khỏi thánh thất.

Một năm sau con mắt chị tự nhiên bị mờ, rồi mù hẳn. Hai Giàu dù còn luyến tiếc sắc đẹp của vợ, nhưng vẫn phải dắt chị trả cho má. Gia đình nhà chồng không chấp nhận một cô con dâu không biết sinh con, lại bị mù. “Cô làm ơn buông tha con trai tui ra cho nhà tui kiếm chút cháu nối dõi”. Bà má chồng nói thẳng vào mặt chị như vậy. Chị thất vọng, tìm ra bờ sông tính quyên sinh. Ngồi lại một chút với cõi dương gian, trong khoảng mù đen vô vọng chợt loé lên ánh chớp thời thiếu nữ đồng nhi. Lời ca khúc Phương tu đại đạo buột ra miệng, tiếc nuối.

Nếu dâu ngoan hiếu hạnh kỉnh nhường
Mẹ chồng chắc thương hơn gái ruột
Cơn bịnh hoạn ân cần thang thuốc
Khi ràu buồn dịu ngọt khuyên lơn
Làm cho vui đừng chọc cho hờn
Già giận dữ một cơn đủ chết…

Mình đui mù, lại vô sinh, chọc giận má chồng còn hơn cả những điều ngài Đức hộ pháp dạy, bả đuổi cũng là điều dễ hiểu. Nhưng chị hận Hai Giàu sớm phụ ngãi, bạc tình. Mới hơn năm nay chớ mấy, đôi Kim Đồng - Ngọc Nữ còn say đắm yêu nhau quên hết mọi điều luật trần gian. Thôi thì chết đi cho hết ân oán cuộc đời. Dòng sông rì rầm thôi thúc ngay dưới chân. Chị lần mò bước xuống, bàn tay quờ quạng đụng những cánh lục bình dày đặc, mềm và mát. Nếu con mắt còn sáng, chị sẽ nhìn thấy lục bình trôi từ thượng nguồn về ken kín mặt sông Vàm cỏ. Vạn vạn cánh lục bình trôi chấp chới hàng cây số, giận dữ ngăn những chiếc chân vịt của xuồng ghe, không cho xuôi ngược. Chính một đám lục bình dày đặc có cả đám khoai môn mọc bên trên đã ngăn thân hình chị lại. Chị nằm im chờ cái chết tới mà lâu quá, thấy mình trôi đi cùng dòng sông, bên tai vẫn líu ríu tiếng bầy chim én. Có tiếng quẫy nước ùm ũm, một bàn tay nhớp nháp, sần sùi nắm lấy tay chị. Dù biết là thuỷ thần đã tới rước, chị vẫn hoảng sợ hét lên.

- Sao vậy cô Ba? Loạng quạng ra sông làm gì mà rớt xuống đây? Xém chết đuối còn gì.

Người đàn ông ấy khó nhọc ẵm chị lên bờ, đưa vào một chiếc lều nhỏ. Bên cạnh nghe tí tách tiếng củi cháy và mùi khói cay xè của gỗ tươi. Má hiểu tại sao chị rớt xuống sông. Bà trả ơn người cứu con gái mình bằng cách gả con gái cho anh ta. Năm Đước nghèo rớt, sông độc thân trong túp lều rách ngoài bờ sông với nghề đốt than. Nghề này lẽ ra phải ở trong rừng, nhưng Năm Đước nghèo lấy đâu vốn liếng mở lò lớn, nên loay hoay vớt mấy cây gỗ trôi đem về đốt lại. Lấy được chị, Năm Đước thu dọn về trong ấp gửi rể. Anh bỏ nghề đốt than, đi mua cây trúc về phụ chị đương bồ.

- Em à! Nghề của anh là chặt cây đốt than, giờ ngồi chẻ ba cái nan trúc thấy khổ như bị cầm tù. Hay là mình nói với má giúp cho ít vốn vô rừng mở lò than đi. Đảm bảo chỉ ít năm là giàu có.

Không biết chị năm nỉ sao, hay thương con gái mù loà mà bà Hai gọi người sang lại căn nhà và vườn nhãn.

- Vợ chồng bây cầm một nửa tiền đặng làm ăn. Má giữ một nửa về ở nhờ dì Tư, chừng nào khá thì về rước má.

Họ vạch ra một tương lai đầy sáng tươi. Chị lận lưng ba chục triệu đồng, nắm tay chồng vô núi tìm hạnh phúc. Họ dựng một ngôi nhà nhỏ, mua sắm dụng cụ, đắp lò đốt than. Chị mù nhưng lo được cơm nước, giặt giũ. Lần hồi còn tập phụ chồng xếp gỗ vào lò, xếp than ra bãi. Đêm năm ôm tấm thân hầm hập mồ hôi của chồng, chị mỉm cười đón nhận sự may mắn của số phận. Than của họ rất đượm, khách lái tới tận nơi cất hàng. Năm Đước coi quãng đời lặn lội ngoài bờ sông Vàm cỏ như chuyện từ kiếp trước. Từ kẻ không biết nhậu, nay anh đã biết say xỉn, biết hút thuốc lá thơm. Mỗi sáng còn chạy chiếc xe cub rách ra quán cà phê ngoài bìa rừng nhâm nhi.

Trưa đó anh nhậu một trận đã đời với thăng Đực kiểm lâm. Nó nói đã có lệnh đóng cửa rừng, cấm các lò than hoạt động, nhưng nếu khéo khéo thì cũng nhu nhi được. Dẫn nhau đi “lầu cái lảm”, cưa hết can rượu hai lít, xong cuộc anh còn dúi cho thằng Đực một trăm cà phê.

- Chú mầy thương anh chị, cho tao làm lén kiếm miếng cơm nuôi bả. Tội nghiệp bả mù dở mà em.

- Anh Năm cũng biết ăn ở đó. Gìơ thì được, chừng nào mấy ổng làm rát tôi sẽ báo.

Nhưng chẳng cần thằng Đực báo. Ngay chiều đó lơ mơ chưa tỉnh rượu thì khách kêu Năm Đước mua than. Anh vội vàng xối nước vào lò, than chưa nguội hẳn, bốc lên xe còn nghi ngút khói. Chạy được mấy cây số, gió thổi ào ào làm những thẻ than còn ngậm lửa ngun ngún. Rồi cả xe than hồng rực lên, bùng cháy. Tài xế nhảy xuống đất, chỉ biết huơ tay kêu trời. Cả xe cháy rụi. Chủ xe bắt Năm Đước phải bồi thường. Chiếc xe công nông cũ giá năm chục triệu, có bán hết cả cơ ngơi đi Năm Đước cũng không đủ trả. Đang đêm anh trốn đi đâu không hay, bỏ lại người vợ mù.

Nghe tin dữ, bà Năm hớt hơ hớt hải tìm vào rừng. Tay trắng rồi má ơi! Chị gục đầu vào vai má khóc ngất. Bà Hai xoa đầu con:

- Của đi thay người con à. Đừng có tiếc! Thôi về với má.

Người con của dì Tư mượn hết số tiền của má. Giờ thấy bà dắt con gái về thì trở mặt.

- Số tiền dì gởi tui cơm thuốc hai năm nay hết rồi. Gìờ tui lo nuôi má tui còn chưa xong, dì với em về trển sinh sống đi.

Còn nhà đâu mà về. Hai mẹ con xin ở nhờ ngôi nhà cũ của người hàng xóm đi làm kinh tế trên Tây Nguyên. Bà Hai ngày càng già yếu, nội đi ra đi vô cũng mệt lắm rồi. Chị nhờ người mua giùm mấy bó trúc, ngồi chẻ nan đương bồ. Mỗi tấm bồ dài 4m, rộng 8 tấc bán được hai chục ngàn. Bình quân mỗi ngày chị làm được mười ngàn, đủ tiền cơm rau nuôi mẹ. Những ngày má trở bịnh, chỉ lo đủ tiền thuốc, cháo, còn chị ăn cơm với muối ớt hoặc củ mì trừ bữa. Rồi tai hoạ lại tới khi chủ nhà làm ăn thất bại tìm về quê, đòi lại nhà. Hai má con lại dắt díu nhau đi ở nhờ chỗ khác. Lần này một người nghèo cho mượn thẻo đất kế hông nhà. Chị mua tấm bạt cũ, xin mấy cây tầm vông dựng lều, sẵn mấy tấm bồ chưa bán đem dựng xung quanh làm vách. Nắng thì nóng hầm hập, mưa thì dột ướt tứ tung. Hai mẹ con cuộn chặt lấy nhau chịu trận.

Người đàn ông thứ ba đến với chị quê đâu tận ngoài miền Trung. Anh ta nói chỉ còn một mình, vào Nam kiếm sống. Kiếm được việc làm mướn ở đâu, anh ăn nghỉ tại nhà chủ, xong việc lại đi nhà khác. Cứ như vậy cho tới ngày bước chân lang bạt tới ấp này và nghe bà con kể về hoàn cảnh của má con chị. Anh muốn tìm một bến đỗ, vả lại chị còn mặn mà lắm, tuổi bốn mươi, thiếu thốn đủ thứ mà chị còn duyên dáng gấp chục lần mấy bà cùng tuổi vàng đeo trĩu cổ. Bà Hai rên lên thảm thiết:

- Bộ chưa ngán đàn ông sao con Ba? Chuông vàng còn chẳng ăn ai…Thứ mình là mảnh chĩnh chó không thèm ỉa vô đó mầy biết không?

Chị năn nỉ má đừng chửi. Số kiếp con nó vậy, ráng chịu thôi. Con mù loà nên cần một người đàn ông để nương nhờ má ơi. Má già rồi, như chuối chín cây, lỡ …con biết làm sao? Người đàn ông nầy chịu cực, siêng năng nhưng hơi nhím, đi làm mướn được đồng nào, anh ki cóp cất đi, chỉ mua gạo mắm ăn cho khỏi chết đói. Nghe nói đàn ông xứ ngoải ai cũng nhím vậy. Cả chuyện vợ chồng anh cũng hờ hững, miệng lúc nào cũng than van không có việc làm. Mấy tháng nay anh nói đi mần ăn xa, ít về nhà. Má lại rên rẩm. Nó giống hai thằng trước thôi con ơi. Chị lo lắng bời bời nhưng vẫn cười. Thì mình lại đương bồ sống như cũ chứ chết sao má.

Hồi đầu tháng có cô nhà báo người nhỏ xíu tìm tới chụp hình hai má con trước chiếc lều bạt. Rồi chừng nửa tháng ông Bảy trưởng ấp chạy qua.

- Có tin mừng cho bà Hai rồi nghen. Chủ tịch xã nói với tui, một Mạnh thường quân sau khi coi báo có tặng cho hai má con bốn chục triệu. Mấy ổng đang hối tui kiếm cho bà Hai miếng đất đặng cất nhà tình thương đó.

Bà Hai khóc oà. Vậy là trời còn thương hai má con.

Một buổi chiều bà Hai lóc cóc đi bộ lên nhà thuốc từ thiện trong Toà thánh xin thuốc bịnh. Ông Bảy lò dò tới đúng lúc chị đang ngồi đương bồ. Hai bàn tay thoăn thoắt từng cọng nan như người sáng mắt.

- Ủa! Bữa nay cô Ba ở nhà một mình? Bà Hai đâu rồi?

- Dạ má em đi xin thuốc ông Bảy. Có chuyện chi vậy ông?

- Tôi ghé báo tin ấp đã tìm được miếng đất cho bà Hai rồi, kế nghĩa địa đó nhưng xã sắp di dời mồ mả đi rồi. Cô Ba về…Ông trưởng ấp chợt nhìn thấy hai bầu vú tròn trắng của chị trễ nải qua hàng cúc áo ngực. Ông nuốt nước bọt khan, khe khẽ.

- Cô Ba phải thưởng công cho tui chớ. Hè…hè. Công nhận Ba dễ thương thiệt đó.

Bàn tay ông thọc ngay vào ngực áo chị. Chị bất ngờ té ngửa, ré lên. Tay phải quơ nhằm cây rựa bên cạnh, chị chém bừa về phía có tiếng cười khùng khục. Ông Bảy hoảng hồn thối lui. Con mù này dữ như cọp. Vậy còn khuya mới có nhà con ơi. Người ta lo cất nhà tình thương cho thì cũng phải thương tình lại chớ.

Mưa đột ngột ngớt. Chỉ còn hơi nước lạnh ngắt hắt lên chiếc giường tre ọp ẹp. Chị xoa hoài tấm lưng rổn rảng xương của má. Con bạc phước nên làm má khổ nhiều quá. Ước gì con là Ngọc nữ thiệt, con sẽ năn nỉ xin Thượng đế cho má một ngôi nhà tường để an hưởng tuổi già.

Có tiếng phên cửa mở nhẹ. Chị giật mình la lớn.

- Ai đó?

- Tui nè mình! Hai má con ngủ gì mà trưa trật không dậy.

- Hồi hôm mưa gió vậy mà anh bỏ má con tui đi đâu?

- Đi đâu? Cái nhà trển còn mấy liếp lá chưa lợp nốt, sợ gió thổi bay mất nên chạy về cột nốt.

Chị ngồi phắt dậy. Nhà nào? Thì nhà mình chớ nhà nào. Chị không hiểu gì hết. Anh nói nhỏ, giọng miền Trung trọ trẹ đã pha giọng Nam bộ. Tôi có sang được mảnh đất mì trên Suối Ngò, hơi xa một chút nhưng cũng rộng rãi. Vừa rồi mua cây lá về dựng tạm cái nhà, xong rồi mới nói với má và mình. Tôi coi ngày rồi. Hai mốt nầy đẹp ngày mình dọn về trển, ở nhờ hoài người ta ngại quá.

Chị không tin ở tai mình. Chị bắt anh nói laị một lần nữa cho chắc ăn. Có phải em nằm mơ không? Bà Hai ngơ ngác ngồi dậy.

-Vậy là khỏi chờ xã cất nhà tình thương hả thằng Ba?

- Khỏi cần má! Chỉ cần vợ con ráng sanh một thằng cu là được.


3/2009










© Tác giả giữ bản quyền.
.Cập nhật theo nguyên bản tác giả gởi từ Tây Ninh ngày 18.02.2011.
. TẢI ĐĂNG LẠI XIN VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM