La Gi- Ngày Ấy, Bây Giờ !


PHAN CHÍNH




Trong ký ức tôi còn mãi một hình ảnh đã từ trên 55 năm dọc dài theo sự phát triển vùng đất La Gi. Đó là cảnh ông Cần Ph. người Hoa vai đeo một túi vải, tay xách chiếc đèn măng-xông, dắt đứa con trai chừng 12 tuổi dò dẫm từng bước theo đường mòn xe bò lầy lội ở xóm chợ cũ La Gi. Sau này ông là một người giàu có nổi tiếng với mấy tiệm buôn tạp hóa loại lớn ở vùng này. Đến ngày đình chiến năm 1954, lần lượt dân hồi cư từ các cánh rừng sâu kháng chiến Thị Ngọt, Bưng Sình, Bàu Ong, Láng Bứa, Cù Mi, Thắng Hải… và từ Phan Thiết quay về thì làng biển Tân Long, Phước Lộc kề cạnh ruộng vườn Tân Lý, La Gi mới trở nên nhộn nhịp. Những căn nhà lợp lá buông mọc lên, hình thành dãy phố nối dài đến cửa biển. Hai năm sau, lập tỉnh Bình Tuy, phát triển tiếp khu dân cư mới giáp với bờ sông Dinh cho nên có tên khu Chợ Cũ, Chợ Mới từ đó. Tuổi thơ rất hồn nhiên trước sự đổi thay thời cuộc, tôi nghĩ lại mình thật vô tâm bên nỗi vất vả của người mẹ bấy giờ phải chèo chống thế nào để nuôi bầy con dại.

Tôi nhớ hoài mấy chiếc loa tròn bằng thiếc treo trên ngọn cây dương cao ở đồn quận ra rả suốt ngày và phóng xa tận bìa rừng Láng Găng (Ngả tư Tân Thiện) còn nghe lồng lộng. Những chiếc xe nhà binh 10 bánh chở lính quốc gia từ ngã tư Trường Tiền (Ngả ba 46) theo con đường sứ cũ có từ thời Pháp, đã hỏng nát trong chiến tranh chạy vào đây rồi căng lên những lều trại to đùng bằng vải bạt màu cứt ngựa. Mấy năm sau ở chợ Mới có xây rạp xi-nê Dân Tiến, vách gạch táp-lô, mái lợp lá buông có chiếu phim cao bồi, phim tạc-dăng và tôi nhớ nhất là phim Săm-song và Đa-li-la, anh chàng dũng sĩ với bộ tóc càng mọc ra lại càng có sức mạnh phi thường…Phim chỉ phát tiếng Tây nên phải phụ đề Việt ngữ và có người đọc thuyết minh. Trong buồng chiếu phim trên cao, chỉ thấy lỗ chiếu sáng ở đó có giọng đọc rất ấm của anh Đức. Anh còn có tài bắt gôn điệu nghệ của đội banh La Gi bên cạnh các cầu thủ theo bọn tôi là thần tượng như Hai Lễ, Sáu Tường, Tám Khanh. Tư Xuyên, Tám Suất…Khi đài Phát thanh Sài Gòn tuyển xướng ngôn viên anh Đức được trúng tuyển rồi đến khi có Đài truyền hình anh Đức xuất hiện với tên Trần Nam. Dân địa phương không nhiều nhưng là vùng đất của một tỉnh mới nên chính quyền bấy giờ “chiêu mộ” nhiều người để xây dựng bộ máy. Một đoàn văn nghệ hằng đêm chỗ này chỗ khác dựng sân khấu ngoài trời biểu diễn múa hát, kịch tuyên truyền cho chế độ… Những tên tuổi nổi tiếng sau này đã từng sống ở đây như nhạc sĩ Trúc Phương với bài Đường về Bình Tuy, Chiều làng em, Đò chiều … Thanh Việt dáng thâm thấp chuyên đóng vai hề, Hoàng Long giọng ca trầm ấm. Các nhạc sĩ như Ngọc Liêm, Xuân Vũ, Hoàng Khải, Trương Hoàng Xuân …có những nhạc phẩm được diễn, được hát trên đài.

Mất ba năm học lớp ghép do thầy Tư Ù mở dạy tư, gộp cùng lúc các cở học và tiếp đến vào trường tiểu học do Thầy Phiếm, thầy Hoàng dạy. Sau đó mới có cuộc thi tuyển lớp Đệ thất (lớp 6 bây giờ) vào trường công. Học trò đều lớn tuổi khoảng 15- 16, có người đã 17 cũng ngồi lớp này. Đến năm 1958, khi trụ sở tỉnh Bình Tuy dời từ chợ cũ La Gi lên khu vực mới ở Láng Cát (nay thuộc phường Tân An) để đặt làm tòa hành chánh tỉnh thì cùng lúc xây ba căn phòng làm lớp học cho trường Trung học Bình Tuy. Thầy chỉ có thầy Trịnh Văn Thụy, thầy Đỗ Hữu Trụ là giáo sư trung học mới đổi ra, dạy các môn chính còn lại là các thầy Tiểu học được điều qua dạy các môn công dân, sử địa, vạn vật, nhạc, họa…Khi lớp đệ thất đầu tiên “mò” đến đệ ngũ thì có tuyển thêm lớp đệ tứ. Lúc đó phần nhiều chỉ có học sinh từ Phan Thiết và khu dinh điền Hoài Đức đến học…nên nhà trường thêm lớp thêm thầy. Đến kỳ thi Trung học đệ nhất cấp (tức tốt nghiệp Phổ thông cơ sở bây giờ) thí sinh phải ra Phan Thiết và khi có lớp đệ nhị  (lớp 11 hiện nay), đến kỳ thi Tú tài nhứt thì thi tại Phan Thiết hoặc Nha Trang…Mỗi kỳ thi chừng 40 -50 học trò đi thi nhưng có khoảng năm, bảy người may mắn đậu. Học trò đủ lứa tuổi cùng lớp, có trò đang học lớp đệ ngũ, đệ tứ đột ngột bỏ học, hỏi ra mới biết đã đi lấy chồng…Cũng có người học nhảy, một năm học hai lớp bằng tự học rồi nộp đơn thi Hội đồng thi dành cho thí sinh tự do và đỗ đạt. Trước năm mở trường Trung học công lập Bình Tuy, ở xứ đạo Vinh Tân có mở trường Trung học tư thục và phát triển song song cho đến sau này.

Bộ mặt Chợ Cũ chỉ thay đổi sau vụ hỏa hoạn thiêu rụi cả dãy nhà gần trăm căn bởi ngọn lửa từ lò bánh mì Bảo Anh. Nhà lợp lá, cây rừng nên khi đã cháy thì ngay trong thoáng chốc thành tro bụi. Lệnh của Tòa Tỉnh nhân cơ hội này là nhà cất lại thì phải xây gạch lợp ngói. Dân vùng kháng chiến về thì nghèo, dân Phan Thiết vào thì có đôi chút…cho nên bà Hòa Chánh, nhà hàm hộ ở Phan Thiết đứng ra cho vay cất nhà trả góp. Vật liệu là gạch táp-lô, viên dày bằng ba viên gạch thẻ, mỗi bao xi măng đúc được 70 -80 viên. Sau này tôi mới chú ý hai dãy phố đường Lê Lợi bây giờ thuộc khu Chợ Cũ không có mấy nhà có ban-con để gọi là nhà lầu, mà phần nhiều là nhà chỉ có gác, sàn gỗ và mở cửa sổ tò vò nhìn xuống đường. Ở trên khu Tỉnh mới, còn gọi là Chợ Tỉnh, một số công trình xây dựng kiên cố như Tòa hành chánh, các trụ sở Bưu điện, Canh nông, Ngư nghiệp, Nhà máy đèn… mọc lên cùng với khu kiến ốc cục, nhà xây kiểu biệt thự, căn đơn, căn kép dành cho công chức cao cấp của tỉnh. Có thể coi những công trình này được xây dựng đầu tiên ở La Gi. Như vậy, khu thương mại ở La Gi dọc dài bờ hữu ngạn sông Dinh và khu hành chánh tỉnh được nối với nhau bởi con đường sứ cũ băng qua cánh đồng vẫn còn vắng vẻ với hàng tre già và lùm bụi trâm bầu rậm rạp.

Tôi nghĩ sao hồi đó không phóng thêm một con đường từ khu Tỉnh mới chạy cặp theo bờ Sông Dinh xuống cửa biển La Gi thì đẹp biết bao vì các nơi đô thị có dòng sông chảy qua đều dễ phát triển và lãng mạn hơn. Thời ấy làm gì gặp vướng bận chuyện giải tỏa đền bù, đất đai thoải mái, có người kêu cho cất nhà, giở ruộng không cần giấy tờ gì mà cũng thành chủ đất đến đời sau. Dòng Sông Dinh trong tôi có cảm giác rất sâu và mặt sông đầy màu nước trong xanh tràn rộng đến đôi bờ. Đập Đá Dựng xây lên coi như một kỳ quan với cái chùa một cột đẹp lạ lùng, rồi cá hóa long, kỳ lân nằm vắt mình trên những tảng đá ngổn ngang còn hoang dã đã hấp dẫn bọn trẻ tuổi học trò biết mơ mộng cùng với loài hoa anh đào dịu dàng ở khu đất kề bên bờ đập. La Gi từ bao giờ đã thành một địa danh của một xứ biển trù phú, cá mắm có tiếng. Đâu chỉ riêng mấy chiếc ghe buồm ở địa phương mà từ Phan Thiết, Phước Tĩnh, Long Hải…cũng coi đây là bến đỗ. Bây giờ gần như tuyệt chủng không còn tên loài cá bẹ, đỏ dạ, thiều, mòi, nục sầu…Trã cá mòi dầu kho măng hay muối dùi lót rau răm thịt cá còn đỏ au từ mấy chục năm nay không còn nữa. Mùa cá lưới sẩm khi trời chuyển bấc với nồi canh phớt cá bẹ béo ngậy, thơm mùi hành ngò cũng đã mất biệt…

Tuổi đời người chỉ đếm lại khi giáp mặt với ngày xuân mới biết rằng đã cũ dần, nhưng vẫn quen gọi nhau với lời chào năm mới. Chiếc cầu gỗ Tân Lý ọp ẹp bắc qua sông mấy lần bị lũ cuốn trôi phải làm đi làm lại hoặc mất hẳn chiếc cầu Long- Hội nối bờ xã Phước Hội với làng chài Tân Long rồi thấy chiếc cầu bê tông dài gần hai trăm thước, bề thế giữa lòng con phố đô thị với những căn nhà cao tầng đủ dáng vẻ, sắc màu mới thấy sự đổi thay một cách kỳ diệu. Có ai hình dung được khu phố mới đường 23 tháng 4 trước đây là một khu đầm lầy, chỉ có cây mắm, bần và rác rưới. Nay ngồi tại chỗ gọi di động chỉ vài phút sau có xe khách ô tô đời mới đến đón đi Sài Gòn, không phải so với thời ấy, mỗi ngày một chuyến xe đò Lương Hữu ra Phan Thiết phải mất cả ngày. Gần hơn, thời bao cấp phải thức từ 3 giờ sáng xếp hàng, chen nhau toát mồ hôi mới mua được tấm vé xe cải tiến chạy than ở bến. Sáng ngồi quán cà phê nhìn đám trẻ đi học, rút máy điện thoại từ cặp vở a lô hẹn bạn. Có người nói, anh chạy xe honda ôm, chị bán mì Quảng cũng phải có cái a-lô để sẵn sàng “hầu” khách gọi. Thời đi học, bạn có chiếc xe đạp là sang lắm nhưng chỉ được mấy người và bây giờ nào xe máy tay ga, xe đạp điện…xem như chuyện nhỏ. Buổi sáng đứng ở cảng Chợ Cá Biển nghe tiếng thuyền máy đầy cá nổ dòn chạy vào cập bến, san sát những mũi thuyền gối đầu lên kè cảng khó lòng tưởng tượng cái thưở lưa thưa mấy chiếc ghe đáy nan tre, cánh buồm mỏng manh buông neo dưới rặng dừa nghiêng bóng trên dòng sông tĩnh lặng ngày nào.

Nếu cứ mỗi thứ đều so sánh cái xưa và cái nay bằng cái nhìn “vật chất” quả là ngớ ngẩn, hẹp hòi. Cho nên ở Hà Nội có một góc bảo tàng trưng bày những hiện vật của thời bao cấp, từ rỗ rá cho tới tờ tem phiếu vải, thịt, xăng, dầu…Đó là sự thật lịch sử và có ý nghĩa lịch sử. Hãy khen mấy anh thành đạt, trở thành đại gia bạc tỷ, vung tay làm từ thiện, hồn nhiên vỗ ngực kể lại thời trẻ cha mẹ bắt đi ở đợ, chăn trâu cho nhà giàu. Tôi đang sống ở một thị xã vừa đầy 5 tuổi, trước mắt mình ngồn ngộn sự đổi thay làm nên diện mạo mới của sự phát triển, duy có điều tuổi đời dường như thủng thẳng dừng lại. Nhắc nhớ lại chuyện xưa cũ, không phải để so sánh sự hơn thua, mà vì cái giá trị “bản sắc” của xã hội đời người, đã vượt qua những thăng trầm thế cuộc để cuối cùng trong mỗi người cái gì tốt đẹp sẽ tồn tại với thời gian là tất yếu thôi.  


_________________________________

Tháng 11/2010  




© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ LaGi Phan Thiết ngày 18.02.2011.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com