Ông Đồ Chơi Chữ







Làng cổ Võng Thị ven Hồ Tây, vấn vít sợi tơ hồng quanh những hàng rào dâm bụt, ngăn nhà nọ với nhà kia, bây giờ đã thành phố. Làng biến mất. Phố mọc lên. Con người lạc nhau. Chúng tôi tản bộ loanh quanh những con đường bê tông, nhà cao san sát, cửa sắt đóng im ỉm. Nhà báo, nhà văn Lê Văn Ba gọi điện thoại hỏi, mới tìm thấy Bùi Hạnh Cẩn đang một mình lụi cụi chơi tranh chữ, tại tầng một, ngôi nhà phố Võng Thị.

Ẩn sĩ Bùi Hạnh Cẩn, dáng cao thanh mảnh, nhanh nhẹn, đón chúng tôi bằng giọng điệu hài hước:

- Tôi về hưu một phần tư thế kỷ rồi còn gì nữa. Từ ngày gặp nhau ở Văn Miếu đến nay đã hai mươi mốt năm.

Chúng tôi cười vang: “Hai mốt năm trước anh bảy mươi”.

Nhớ mùa xuân năm Tỵ ấy. Văn Miếu mờ bụi mưa xuân. Bùi Hạnh Cẩn bày tranh chữ, viết tặng khách chơi Xuân. Ông là một trong những người đầu tiên  sau mấy chục năm chinh chiến, bày trò treo câu đối, cờ ngũ sắc trong Văn Miếu, đón Xuân:

Kia bia nghè đẹp

Đây gác khuê cao

Truyền thống ngàn xưa nhớ  quá

Đã ánh sao vàng lại dòng điện sáng

Văn minh hội mới bừng thêm.

Người Hà Thành như tìm lại được chính mình, thốt lên: “Đã lâu, đến Văn Miếu lại thấy câu đối”.

Một chị “văn hay chữ tốt” ra câu đối trêu ông đồ bảy mươi:

Văn một lẻ thơ một bơ

Chưa đủ lơ mơ lòng lữ khách

Không lẽ lại thua chữ mỹ nhân. Ông trịnh trọng lấy bút lông, dùng mực tàu giấy dó viết đối lại:

Tuổi càng cao tài càng kém

Gọi là quấy quá dạ giai nhân

Đám thanh niên vỗ tay tưng bừng. Ông đồ già lòng dạ bâng khuâng. Làn hương đa tình tài tử của Nguyễn Công Trứ, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm… nơi Thăng Long- Kẻ Chợ ùa tràn trong đầu, Bùi Hạnh Cẩn viết câu đối tặng nàng:

Năm Tỵ Miếu Văn bạc nửa mái  đầu, ta vẫn mừng cho má  thắm

Ngày Xuân thành Phượng xanh hoài đôi mắt, ai giờ trao nhỉ bông đào.

Hình như bông đào trong mắt thắm ấy vẫn xanh nơi trái tim ông, để Xuân này, sang tuổi chín mươi ba, hồn ông vẫn tươi xanh cùng chữ.

Hai mươi mốt năm chơi tranh chữ, Bùi Hạnh Cẩn sáng tạo từng ngày. Không xáo mòn xưa cũ. Không lặp lại chính mình. Ông thả hồn nghệ sĩ vào chữ thánh hiền, tinh túy, đầy chất thơ, nhạc, họa, phóng khoáng, mở hết tầng này đến lớp khác, bày chữ ra, giữa Đất- Trời, giữa thanh thiên bạch nhật, giữa lòng người, giữa trăng gió Hồ Tây, xem chữ nó nói gì?

Phòng tranh chữ của ông không hoành tráng, không màu sắc, chữ mực tàu vẽ trên giấy dó trắng, vàng, đỏ, mà sáng bầu không khí tĩnh lặng, thẳm sâu của hiền triết. Ông vẽ tranh chữ Nôm, chữ Hán, thỉnh thoảng pha chữ Esperanto, chú thích bằng chữ Quốc ngữ.

Xem tranh chữ của ông phải suy nghĩ, phải tưởng tượng và khi đã hiểu thì mỉm cười cùng ông. Nụ cười hóm hỉnh và nghĩ: “Kiếp trước ông là bạn của Hồ Xuân Hương”.

Ông chọn những chữ giàu chất tượng hình gợi về nam thanh, nữ tú để vẽ. Khoảng bốn chục bức tranh chữ của Bùi Hạnh Cẩn đã nói với chúng ta những triết lý sâu sắc về Đạo và Đời.

Xem tranh chữ của ông, tưởng như Hồ Xuân Hương vừa du Xuân vừa tung chữ: Quán Trúc, Rượu, Tương tư, Nàng tiên cá, Bầu bí, Tây Hồ phong nguyệt, Song hỷ, Cầu liễu, Hạnh phúc, Ngựa, Sông mã xa rồi, Đạo, Sắc Không…

Tất cả các chữ ông Cẩn vẽ đều gợi bóng hình nam nữ trao duyên, đợi chờ, thương nhớ, “Say người thiên hạ lại say nhau”.

Bùi Hạnh Cẩn vẽ chữ “Này” như trêu chọc Hồ Xuân Hương. Chắc chắn nàng sẽ mỉm cười và bảo “Xin mời. Miễn là duyên phải thắm”.

“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

Này của Xuân Hương đã quệt rồi

Có phải duyên  nhau thì thắm lại

Đừng xanh như lá bạc như vôi”.

Người xem tranh chữ say chữ “Đạo” của Bùi Hạnh Cẩn. Táo bạo và bùng nổ. Chữ “Đạo” được ông vẽ ra, cách điệu, tưởng như bầu vũ trụ, như người khỏa thân.

 Cách đây hai mươi năm, ông trưng bày tranh chữ ở thành phố Hồ Chí Minh, khách Tây, ta đều xúm vào chữ “Đạo”. Họ kinh ngạc hỏi ông:

- Tại sao ông lại viết chữ “Đạo” thế này?

- Chữ “Đạo” là bản chất của vũ trụ, cân bằng Âm-

Dương, sinh sôi nảy nở, tái tạo và hủy diệt, là con đường gọi lòng người hướng thiện. Tôi mượn chất tượng hình ở chữ “Đạo” vẽ gợi hình thiếu nữ khoả thân múa lụa.

Hầu như nam, nữ, cặp vợ chồng, đều nhận chữ “Đạo” mang về nhà.

Khách Tây hỏi: “Ông đã đọc Freud chưa?”

Bùi Hạnh Cẩn tâm sự:

- Thiên hạ đều giỏi cả. Nhân loại hiểu nghĩa chữ “Đạo” theo nét vẽ của ông. Vũ trụ xoay quanh chữ “Đạo”. Thiên nhiên và con người, vạn vật đều sống cùng chữ “Đạo”. Người Trung Hoa coi “Đất là mẹ”- tiền đề triết học sản sinh ra phong thủy. Họ dùng hình tượng nữ âm để tìm huyệt phong thủy. Huyệt phong thủy là những nơi Âm- Dương tương hợp, sinh khí lành, cỏ cây kết trái nở hoa. 

Vấn đề sex thì có gì là lạ. Nhưng sex phải được nhìn nhận và phô bày bằng tư duy nghệ thuật, triết học, khoa học, cùng vẻ đẹp trần thế kết hợp với yếu tố thiêng liêng và cảm quan vũ trụ. Đó là “Đạo”( nghĩa là con đường). Người phương Đông và cả loài người có “Đạo” không chấp nhận sự thô thiển vô giáo dục. Nếu cộng đồng nào thông thái, nghiêm túc giáo dục sex theo tinh thần trên, thì sẽ tránh được những cảnh xấu, người xấu và thảm họa do sex gây ra.

      Bùi Hạnh Cẩn say sưa nói với chúng tôi về chữ “Sắc Không”:

- “Sắc Không” là gì? Tôi dịch bài kệ chữ Hán của Từ

Đạo Hạnh:

“Có thì có tự mảy may

Không thì cả thế gian này cũng không

Trong như bóng nguyệt dòng sông

Ai hay “Sắc Sắc, Không Không” là gì.”

Về chữ Hán tượng hình, “Sắc Không” luôn đi liền nhau. Một chữ “Sắc”, một chữ “Không” líu ríu với nhau, tình tứ không rời. Tôi vẽ chữ “Sắc Không” bìu ríu  nhau, đẻ ra “Sắc Không” khác.

Sự đời nó thế! Chữ nó thế! Ai bảo sao cũng được, nhưng rất lạ là mọi người vẫn thích chơi chữ với tôi…

Không thể cãi cọ với Bùi Hạnh Cẩn. Hồn cốt văn hóa dân gian Việt thấm đẫm trong ông. Ai mà cãi nổi với Folklo.

Bùi Hạnh Cẩn say Thị Mầu, Tăng Thị Loan (mẹ Từ Đạo Hạnh), mê Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm. Ông viết bài thơ dài trăm câu thành bức tranh:

“Đôi mắt đôi sao mà sáng thế

Chị Mầu Thị Kính đêm liên hoan

Là đây là thực hay là mộng

Cô nữ làng Nam Tăng Thị Loan”.

Giáo sư ngôn ngữ người Úc rất thích bức tranh chữ này.

Thủơ còn sung sức, Bùi Hạnh Cẩn đã xuất bản Văn tuyển Đoàn Thị Điểm (dịch, khảo cứu, biên soạn). Ông mê bà Điểm họ Đoàn qua những áng văn thơ đầy nữ tính, thấm đẫm tình người, tỏa sáng dịu dàng khát vọng yêu thương, ngợi ca vẻ đẹp tình yêu trần thế, oán ghét chiến tranh…

Đoàn Thị Điểm đã tạc vào Thăng Long mối duyên tình Bích Câu kỳ ngộ. Cuộc tình ly kỳ, bừng sáng, đầy bi kịch của Tú Uyên, anh học trò nghèo sống nơi kinh thành nhiều cám dỗ, có giá trị thức tỉnh lâu bền.

Dân gian kể nôm rằng: “Ông Tú Uyên gặp tiên Giáng Kiều, về phải bệnh tương tư. Tú Uyên kết duyên Giáng Kiều được ba năm “Mây tuôn bể ái, mưa đào sông ân”. Rồi Tú Uyên say uống rượu. Giáng Kiều bỏ đi. Tú Uyên tỉnh rượu, ngơ ngác, khóc than, toan thắt cổ tự vẫn. Giáng Kiều xót thương, tái hợp. Tú Uyên hối cải. Giáng Kiều hướng cho Tú Uyên tu đắc Đạo. Ông bà cưỡi hai con hạc bay về trời.”

Chuyện tình xưa không khác chuyện tình thời nay. Đời người là vậy. Là tình yêu trai gái. Biết thương yêu, biết sống hợp Đạo thì kết thúc có hậu. Những cuộc tình chớp nhoáng “Liệu mà cao chạy xa bay/ Ái ân ta có ngần này mà thôi” là trái Đạo, là hủy diệt.

Chữ “Đạo” của Bùi Hạnh Cẩn uyên thâm thế, nên nhiều cặp vợ chồng treo nó ở trong nhà.

Bùi Hạnh Cẩn tinh thông Hán học, Pháp văn, có chút ảnh hưởng văn hóa Đông- Tây, nhưng lòng luôn hướng về dân gian, nguồn cội. Ông từng làm báo Nhân Dân, phó Tổng biên tập Hà Nội Mới.

Sống mãi rồi ông cũng hiểu và vẽ ra chữ “Tiền”:

 “Hóa ra vũ trụ bao la thế

Cũng chỉ xoay quanh một chữ Tiền”.

Hiểu mình. Hiểu người. Hiểu đời. Ông chẳng oán thán, giận hờn, thù hận. Phút thăng hoa, Bùi Hạnh Cẩn thốt thành thơ tặng nữ sĩ Ngân Giang:

“Người hồng nhan quá đa đoan quá

Mấy dạo đèn hoa hội múa mời

Tôi cũng mấy lần son phấn giả

Vai hề hay dở thế mà thôi”.

Biết hay/ dở cuộc phong trần là quá đủ. Ông về nhà vẽ tranh chữ chơi. Chơi nhưng là chơi có Đạo. Đạo Trời- Đất. Đạo làm người:

“Lãng đãng Hồ Tây, mờ ảo khói sương làng Võng Thị

Ân tình Hà Nội, viết chơi tranh chữ  xóm Dương Đào”

Cảm hứng chào đón Thăng Long nghìn tuổi làm ông đồ tài tử như trẻ lại. Ông vẽ chữ “Rượu bồ” gợi hình chàng và nàng ngất ngây say đắm:

“Thăng Long hội lớn men bồ  mới

 Chuốc chén nghìn năm cô  với tôi”.

 Làng Võng Thị đã mất.

Trăng Tây Hồ còn mãi bóng thi nhân, ẩn sĩ.

Bùi Hạnh Cẩn ngày ngày xoay xở viết tranh chữ chơi trong “xóm không ra xóm, phường không thành phường”. Bạn tâm đầu ý hợp nay đã vui vầy Tiên cảnh. Còn mình ông vẽ chữ tự mua vui. Cũng vui thật. Bởi bạn ta thì ít, bạn Tây thì nhiều. Họ từ Pháp, Úc, Mỹ, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc… sang chơi, xin chữ, học thú vui tao nhã của Long thành. Nhiều bài báo viết về ông. Có người Pháp bảo tranh chữ của ông có thể đặt tại bảo tàng Louvre. Ông cười: “ Họ yêu quí tôi mà đùa vui đấy mà”.

Thư họa là cách thư giãn, là một kiểu rèn luyện tinh thần của minh triết phương Đông. Lúc sáng tác thư họa, người ta say mê tiến vào một không gian siêu thực, quên đi những lo âu, sầu não, cô đơn… như thiền định. Sáng tác thư họa cũng giống tập Thái cực quyền, phải cúi lưng, lúc đứng, khi ngồi, đưa tay, vai và sườn vận động hài hòa… Tác phẩm hoàn thành, nghệ sĩ thưởng thức, hưởng thụ thành quả của mình, tâm trạng sảng khoái, cảm hứng sáng tạo lại về, say sưa ngày này qua tháng khác. Cái thú ăn chơi của người quân tử, trở thành thuật dưỡng sinh kéo dài tuổi thọ. Bùi Hạnh Cẩn tiếp cận được sự khôn ngoan ấy. Tuổi ngoại chín mươi, ông vẫn bận mải với trò chơi thư họa. Tết nào ông cũng ra Văn Miếu chơi chữ vui Xuân cùng du khách Đông- Tây. Ông bảo: “Đời chưa chán tớ. Tớ còn chơi.”.

Ông đang mải mê chơi chữ cùng Hồ Xuân Hương.  


_________________________________

Hồ Tây Xuân Canh Dần- 2010  

© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 28.01.2011.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com