Chương 4


    Đêm rằm tháng bảy. Nguyễn Trãi dạo ngoài vườn một mình ngắm trăng. Vầng trăng tròn lơ lửng cao xanh soi khắp thế gian. Trăng vô tình hay trăng hữu ý? Lòng ta thao thức cùng trăng. Trăng ơi! Trăng có thấu? Nỗi nhớ nhà, nỗi thương dân thống khổ, đè nặng lòng ta. Ta đi ở ẩn nhưng đâu quên nỗi thương mình, thương đời.

    Nguyễn ngâm nga một mình:

    Oan thán

    Phù tục thăng trầm ngũ thập niên
    Cố sơn tuyền thạch phụ tình duyên
    Hư danh, thực hoạ, thù kham tiếu
    Chúng báng cô trung tuyệt khả liên
    Số hưu nan đào, tri thị mệnh
    Vân như vị tang, dã quan thiên
    Ngục trung độc bối, không tao nhục
    Kim khuyết hà do đạt thốn tiên

    Than nỗi oan uổng
    Cuộc thế thăng trầm mấy chục niên
    Non xưa suối đá phụ tình duyên
    Danh xuông vạ mắc vòng oan uổng
    Dạ thẳng đời bao kẻ ghét ghen
    Định mệnh ta đành cam lúc bĩ
    Tư văn trời có tựa khi nên
    Tròng bao tủi nhục trăm chiều đủ
    Bệ ngọc khôn thông một mảnh tiên.

Mải ngâm ngợi trải lòng cùng trăng, Nguyễn không nhìn thấy Nguyễn Thị Lộ đã đến bên chàng từ lúc nào. Nàng như mèo con bám theo từng bước chân Nguyễn lay động nhẹ trong vườn. Nàng ôm vai Nguyễn nói nhỏ, giọng hơi run:

- Có người của triều đình đi ngựa xuống Côn

Sơn trao lệnh của đức vua Lê Lợi triệu chàng về Thăng Long.

- Thật sao? Hay nàng trêu chọc ta cho vui?

- Chuyện hệ trọng thế, sao thiếp dám đùa vui.

- Đức vua vời ta về để làm gì nhỉ? Nàng có đoán

được không?

Dưới ánh trăng mơn man, gương mặt trẻ tươi của Nguyễn Thị Lộ mờ ảo ẩn hiện, thật quyến rũ. Nguyễn hôn lên đôi mắt đen nhung huyền của nàng. Cảm xúc ái ân tràn cả sang cây cỏ, rung giọt sương đêm. Nhưng Nguyễn phải nén lại. Nỗi lo được vua triệu về cung, choán hết mọi cảm xúc yêu đương.

Nguyễn nói nhỏ:

- Thôi được, sáng mai ta lên đường về Thăng Long bằng ngựa. Nàng ở lại Côn Sơn trông vườn, tưới cây và nhớ bảo trọng. Xong việc ta sẽ trở lại Côn Sơn cùng nàng.

- Vâng. Thiếp xin nghe lời phu quân dặn. Phu quân lên kinh đô mau trở về với thiếp. Thiếp không muốn xa chàng một phút giây nào. Thiếp muốn cùng chàng khoác áo bào lên ngựa. Có chàng, thiếp không cảm thấy sợ hãi bất cứ một điều gì. Thiếp cần có chàng ở bên. Chỉ cần một mình chàng thôi…

Thăng Long tháng bảy 1433. Mưa lớn chưa từng có. Mưa sầm sập trút nước xuống kinh thành. Các hồ ao, đầy tràn nước, ngập đường. Dân kinh thành phải dùng thuyền đi lại quanh các phố Hàng Đường, Hàng Gai, Hàng Bông… Chợ Đồng Xuân nước ngập trắng, hàng hoá, rau hoa quả nổi lềnh bềnh. Vậy mà dân chúng vẫn tưng bừng vui sống cùng nước. Thuyền ai chở đầy hoa, ghé các nhà chào mời mua hoa. Đám cưới cô dâu áo đỏ thắm tươi bồng bềnh trên thuyền cùng chú rể thư sinh, khăn xếp áo the, mấy nàng áo trắng bưng khay trầu lễ độ, cung kính.

Nguyễn Trãi vào Cấm thành. Khu vực Hoàng thành trên núi Nùng cao hơn mặt đường phố nên không bị ngập nước. Lê Lợi tiếp Nguyễn trong cung cấm. Ngài đã yếu, nhưng vẫn thiết triều giữ phong độ. Hôm nay, ngài tiếp riêng mình Nguyễn Trãi trong Cấm thành, như tiếp một người thân.

Nguyễn Trãi nhìn đức vua héo mòn vì năm tháng, vì bệnh tật. Đức vua mới bốn mươi chín tuổi. Anh hùng dọc ngang một thủa, bây giờ tiều tuỵ, tàn tạ. Nguyễn thấy xót thương Lê Lợi vô cùng. Đời người tựa giấc chiêm bao. Không ai cưỡng được sự tàn phá nghiệt ngã của thời gian. Tóc bạc không thể chuốc lại ngày xanh. Công danh và sự giàu sang, quyền thế, như mơ, như huyễn. Làm đến ngôi cao như đức vua, oai phong, lẫm liệt, chém giết tung hoành, rồi cũng ra nông nỗi này đây. Đời người ngắn tựa tấc gang. Đời người ngắn như hơi thở, có nghĩa gì đâu.

Nguyễn vái lạy ngài ba lạy.

Lê Lợi mỉm cười:

-Ta miễn lễ.

Nguyễn Trãi thưa:

- Muôn tâu bệ hạ, thần xin được tha tội vì bệ hạ yếu mệt mà thần thì ở xa, không thường xuyên về chăm sóc.

- Ta biết. Ta không trách tội khanh đâu. Ta nhớ khanh nhiều lắm. Nhớ ngày xưa, hai ta uống chung chén rượu đắng môi mà lòng ngọt ngào. Nhớ đêm sâu rừng thẳm, ta cùng khanh đọc Bình Ngô sách. Lê Trãi ơi! Bây giờ ta không còn mạnh như xưa nữa. Tình cảm của ta trở nên mềm yếu. Ta muốn khanh đọc thơ của khanh cho ta nghe.

- Vâng thần xin đọc Phú núi chí Linh cho bệ hạ nghe. Muôn đời sau sẽ không quên đức vua cùng núi Chí Linh ở phía Tây Bắc- Thanh Hoá với chiến công lừng lẫy của ngài nằm gai, nếm mật, lo rửa nhục cũ, khôi phục đất xưa:

Rồng thiêng bay chừ trên Lam Kinh
Giáo trời chỉ chừ ải Bắc yên
Núi sông miền Tây thật là thiêng!
Ôi! Vua tài thánh võ
Gánh việc bốn phương kinh doanh
Lao tâm khổ tứ, vận nước gian truân
Đã do Trời mà biết thời
Lại cố chí để công thành
Nhờ thế ngày nay Hồ Việt mới hoá một nhà
Mà núi này được thiên cổ lưu danh…

Bệ hạ hãy tin, Núi Chí Linh hiển hách ngàn sau còn dâng lời ca:

Trời sinh thánh chừ đất dựng vương
Càn khôn mờ mịt chừ , vận hội phi thường
Thấy núi này vòi vọi chừ, nhớ đến gian khổ xưa
Vỗ nền vương nghiệp chừ, mãi mãi vấn vương
Xin ghi thịnh đức vào đá chừ, để truyền mãi mãi về sau
Suốt thiên cổ vạn cổ chừ cùng trời đất cửu trường.

Nghe Lê Trãi đọc bài phú núi Chí Linh hào sảng ngợi ca mình bất tử, Lê Lợi như trẻ lại, khoẻ ra. Ngài nhớ về những năm tháng oanh liệt xưa.

Lê Lợi trút bầu tâm sự cùng Lê Trãi:

- Trẫm xưa gặp lúc hoạn nạn, nương mình ở Lam Sơn, vốn muốn mưu giữ tròn tính mạng mà thôi. Không có ý mưu lấy thiên hạ. Đến khi giặc càng ngày càng bạo ngược, dân không sống nổi, người có tri thức đều bị hại. Trẫm tuy dốc hết gia tài để cung phụng nó, mong được khỏi vạ, nhưng cái bụng nó muốn hại trẫm, không từng nới chút nào. Việc khởi nghĩa thực là bất đắc dĩ mà phải làm vậy thôi. Đương lúc ấy, trẫm ngụ ở tha hương, vợ con thân thích lìa tan, ngày không đủ hai bữa, áo không phân biệt Đông Hè, bị nạn ở Chí Linh, lương hết quân tốn. Trời kia bức khốn lòng ta, cân nhắc chí ta cũng đã tột bậc vậy.

Lê Lợi ngừng một lát để thở.

Lê Trãi tâu:

- Thần còn nhớ bệ hạ từng động viên tướng sĩ: “Nhiều hoạn nạn mới dựng được nước, lắm lo phiền mới dạy thành nhân. Cái khốn khó ngày nay là Trời thử ta thôi. Các khanh nên bền giữ lòng xưa, thận trọng đừng vì thế mà chán nản”.

- Ta thật lòng với tướng sĩ thế. Mà họ vẫn dần dần bỏ trốn. Trong hoạn nạn, mười người không còn được lấy một hai. Lúc ấy, Trẫm đâu dám nghĩ đến ngày nay. May mà Trời chán kẻ trái đức, phàm điều giặc muốn đẩy trẫm đường cùng, thì lòng trẫm vì thế lại càng vững. Xưa khi quân sĩ đói thiếu, thì lại nhờ vào lương của của giặc. Xưa khi quân sĩ trốn tan, thì lại nhờ vào binh của giặc trở giáo đánh nhau. Phàm cung tên, giáo mộc của giặc đều là chiến khí của ta. Cái nó dùng để hại ta, ngược lại, lại hại nó. Cái nó dùng để đánh úp ta, ngược lại, lại đánh nó. Không phải chỉ có thế thôi. Đất Ai Lao là đất láng giềng của trẫm, trước cùng giao hảo, xưa trẫm bị giặc khốn, đem quân sang nhờ họ, nghĩ rằng môi hở răng lạnh, thế nào họ cũng dung. Không ngờ họ lại lòng lang dạ thú, thấy ta bị tai ách thì vui. Thấy ta bị hoạ thì sướng, thông tin cho giặc, ngầm chứa mưu gian, muốn để bắt vợ con của quân ta. Thế mà ta đối với họ lại ung dung quá. Họ vốn cậy quân giặc để đánh úp ta. Ta cũng nhân thế của họ mà đánh lui giặc. Họ vốn muốn lấy khách đãi ta. Ta cũng đối xử với họ là khách. Phàm họ có ý gì ta biết trước. Phàm họ muốn làm gì ta đều chặn trước. Cho nên ta có thể lấy đất của họ mà giấu quân ta. lấy chỗ hiểm của họ mà làm chỗ hiểm để đánh giặc.

Ngừng giây lát, Lê Lợi vẫy tay thái giám mang thuốc vào.

Ngài uống thuốc một cách khó nhọc.

Lê Trãi đỡ lời đức vua:

- Bệ hạ đã theo binh pháp nói: “Lấy khách làm chủ, lấy chủ làm khách là như thế chăng?”

- Nhưng trẫm đối đãi với người chẳng bao giờ

là không hết lòng thành. Thà người phụ ta chứ ta không phụ người. Phàm người bất bình vì chuyện nhỏ mà bỗng sinh chí khác, thì trẫm thường khoan thứ, dung cho đổi lỗi, tuy từng lật mặt oán thù, trẫm vẫn tin dùng như lòng dạ. Nếu biết sửa đổi thì thôi, vốn không có ý cầu toàn trách bị. Ấy cũng là bởi trẫm trải nhiều hoạn nạn, nếm đủ gian nan, cho nên hay động lòng nhịn tức, không lấy việc nhỏ mà hại việc lớn, không lấy nhìn gần mà lãng nhìn xa. Trong khoảng vua tôi, lấy nghĩa lớn mà xử với nhau, thân nhau như ruột thịt, không hiềm gì, không ngờ gì. Thế cho nên được lòng người, mà ai ai cũng vui theo. Tuy nhiên trong buổi hoạn nạn, thập tử nhất sinh, lâm vào cảnh nguy cũng nhiều lần lắm. Ngày nay thành công là do hoàng thiên giúp đỡ, mà tổ tiên của trẫm chứa đức tích nhân đã lâu, cũng ngấm ngầm phù hộ, nên mới được thế này. Kẻ làm con cháu về sau được hưởng phú quí phải nhớ tổ tiên trẫm tích luỹ nhân đức bao nhiêu đời, và công lao trẫm dựng nghiệp khó khăn bao nhiêu. Được mặc gấm vóc rực rỡ phải nhớ ngày xưa trẫm mặc áo quần lam lũ, không kể mùa Đông hay mùa Hạ. Được hưởng cỗ bàn ngon quí, phải nhớ trẫm mấy tuần hết lương, nhịn đói, nhịn khát. Thấy cung điện tráng lệ phải nhớ xưa trẫm nằm đất ngủ sương mà trốn nấp trong rừng núi. Thấy cung tần xinh đẹp phải nhớ trẫm xưa vợ con lìa xa, lưu ngụ quê người. Bảo rằng Trời khó khăn mà mệnh không thường, tất phải nghĩ chỗ khó mà mưu việc dễ. Bảo rằng công khó thành mà lại dễ hỏng, tất phải cẩn thận lúc đầu mà tính về sau. Phải coi chừng mối hoạ loạn, có khi do yên ổn mà nên. Phải đón ngăn ý kiêu sa, có khi do sung sướng mà đến. Tất phải thế thì sau này ngõ hầu mới khá…

Lê Lợi ngừng lời.

Ông đã nói cùng Lê Trãi những điều nung nấu tâm can mình. Ngài linh cảm mù mờ, lo sợ cho đời sau. Con cháu của ngài, được hưởng thái bình vinh quang. Choáng ngợp. Đại hoạ từ đó mà ra.

Nguyễn Trãi hiểu tâm sự của đức vua.

Nguyễn từ tốn dâng vua những lời bình an:

- Bệ hạ chớ lo xa. Con cháu hậu duệ họ Lê nhà ta tâm tính rất tốt. Tấm lòng cởi mở. Trí tuệ phong lưu. Con cháu của ngài sẽ noi gương ngài. Người có mệnh sẽ được làm vua. Người có mệnh làm nên việc lớn.

- Khanh nói rất đúng. Ta tin ở mệnh Trời. Ta làm vua cũng do mệnh Trời sắp đặt. Tuy vậy, đã làm vua là tất phạm nhiều tội lỗi của thế gian. Không tránh khỏi nghiệp chướng. Hôm nay, ta muốn hỏi thật khanh. Khanh có oán hận gì trẫm không?

Nguyễn Trãi hơi ngạc nhiên trước câu hỏi này của đức vua.

Nguyễn im lặng.

Nguyễn muốn tìm cách trả lời sao cho đẹp lòng con người đang sám hối, thanh thoả trước khi về cõi vĩnh hằng.

Nguyễn ngồi trước mặt Lê Lợi trong mối tâm tình đầy xúc động. Nỗi ám ảnh về sinh tử biệt ly, làm cho Nguyễn không thể thù. Không thể giận. Không thể oán hờn. Không thể trách. Chuyện cũ qua rồi như giấc mộng. Nỗi buồn đau uất hận riêng mình, Nguyễn đã âm thầm chịu đựng. Những tháng ngày bị Lê Lợi giam trong ngục tối, rồi bị bỏ rơi, ghẻ lạnh, nếu không có thơ, Nguyễn biết bám tựa vào đâu mà sống? Nếu không có nàng? Nguyễn Thị Lộ dâng đầy cảm xúc tri âm, tri kỷ, cảm xúc ái ân, yêu nhớ, đợi chờ, thao thức, hỏi Nguyễn sống làm sao?

Tình yêu thật diệu kỳ. Nó truyền sức mạnh vô biên cho hai kẻ yêu nhau. Người ngoài làm sao hiểu được. Ngay giây phút này đây, hình ảnh Nguyễn Thị Lộ hiện lên như thiên thần, như ảo ảnh, dâng đầy trong đôi mắt Nguyễn, chặn ngang dòng nước mắt, để nó khỏi trào ra.

Nguyễn chậm rãi từng lời, như giảng giải cho Lê Lợi thấu lòng mình:

- Muôn tâu bệ hạ, thần không dám nghĩ rằng có lúc bệ hạ hỏi thần câu hỏi đầy tình nghĩa con người, tình nghĩa vua tôi, coi nhau như ruột thịt. Thần xin mạo muội tỏ bày tâm tình của mình chân thực để bệ hạ hiểu. Thần từ bé đã được đọc sách Thánh hiền, được ông ngoại và cha là hai bậc trượng phu thời trước dạy dỗ. Thần đã hiểu, làm trai cho đáng trí trai và nuôi mộng người quân tử tu thân, bình thiên hạ. Say hết tấc lòng như chim hồng chim hộc bay cao, hoài bão lớn vì dân, vì nước. Nhưng thần luôn giữ tâm hồn mình như nước ao trong, sen nở vượt trên bùn, toả hương thơm xóm, thơm làng, không bị vẩn đục vì những lợi lộc tầm thường. Thần đã phải sống trong sự khó nghèo, ngày càng ngặt đến xương. Nhưng thần hiểu đó là số mệnh tất yếu của kẻ sĩ chân thật, hào hùng, say văn chương, yêu đời, yêu dân lành cùng khốn. Thần hiểu đường trường hiểm khúc quanh co, đời người cũng vậy. Thần học cha, học ông ngoại, sớm tìm về thú sơn khê, vui cùng tùng, trúc, bạn cùng hoa mai bên sườn non núi biếc, gẩy đàn ngâm thơ, đốt lò trầm thưởng thức hương đưa, phát cỏ ương sen, thả bè rau muống, quên chuyện công danh. Tuy vậy, thần vẫn “Còn có một lòng âu việc nước / Đêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung”. Lòng chẳng mắc tham của báu, chức quyền, nhưng vẫn mơ “Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn/ Dường ấy là ta đã phỉ nguyền”…

    Nghe Trãi nói thành thật lòng mình, Lê Lợi không ngăn nổi dòng nước mắt tràn trên đôi má đã nhăn nheo của ngài.

    Ông nói:

    - Lê Trãi ơi! Giờ đây, đêm đêm ta thường nằm vắt tay lên trán nghĩ về khanh. Nỗi nhớ tình thương trỗi dậy ào ạt lòng ta. Ngẫm lại chiến tích của ta, không lúc nào vắng bóng ngòi bút của khanh. Ngòi bút ấy có sức mạnh như một mũi tiến công sắc bén. Những lời hiệu triệu quân dân, chiêu dụ hào kiệt, với đạo lý quang minh, ý tình tha thiết, lời văn hào hùng lôi cuốn, đã góp phần làm cho mọi người, ai nấy đều “đá vàng một tiết, chung thuỷ một lòng”, “làm cho mọi người đồng tâm hợp lực, tận trung với nước, mưu rửa quốc sỉ, diệt giặc hung tàn”. Nước non Đại Việt muôn vạn năm sau sẽ nhớ mãi khanh. Lê Trãi ơi! Ta muốn gọi tên khanh tạc vào quốc sử. Khanh đã khẳng định sức sống mãnh liệt của nền văn hiến Đại Việt. Khẳng định độc lập chủ quyền của non nước ngàn thu.

    Nguyễn Trãi nghe những lời ngợi ca của đức vua, khiêm tốn tạ ơn.

    Lê Lợi vẫn chưa muốn rời Nguyễn Trãi.

    Ngài thì thầm tri kỷ:

    - Từ ngày về Côn Sơn, khanh chuyên đọc, sách, làm thơ, vui thú cảnh non xanh. Có gì vui khanh kể cho ta nghe đi.

    Dạ thưa bệ hạ, thú sơn lâm thần ở thảo am, suối reo rừng thiền định, hùm nằm chực, núi láng giềng chim bầu bạn, mây quyến khách, nguyệt vô tình, cơm ăn chẳng quản dưa muối, áo mặc nài chi gấm là, sớm tối thần ngẫu hứng cầm bút đề thơ… Cảnh vui của thần chẳng có gì đáng để phải kể ra cùng bệ hạ.

    - Lâu rồi, ta chưa được nghe những bài thơ khanh viết trong cảnh thanh bình.

    - Thần đọc cho bệ hạ nghe bài Côn Sơn ca của thần. Bệ hạ chắc sẽ vui.

    Côn Sơn hữu tuyền, kỳ thanh linh linh nhiên, ngô dĩ vi cầm huyền.
    Côn Sơn hữu thạch, vũ tẩy đài phô bích, ngô dữ vi đạm tịch.
    Nham trung hữu tùng, vạn cái thuý đồng đồng ngô ư thị hồ yển tức lỳ trung.
    Lâm trung hữu trúc, thiên mẫu ấn hàn lục, ngô ư thị hồ ngâm khiếu kỳ trắc.
    Vấn quân hà bất qui khứ lai, bán sinh trần thổ trường dao cốc.
    Vạn chung cửu đình hà tất nhiên, ẩm thuỷ phạn sơ tuỳ phận túc.
    Quân bất kiến Đổng Trác hoàng kim doanh nhất ổ, Nguyễn tải hồ tiêu bát bách hộc?
    Hựu bất kiến Bá Di dữ Thúc Tề, Thú Dương ngã tử bất thực túc?
    Hiền ngu lưỡng giả bất tương mâu, diệc các tự cầu kỳ sở dục.
    Nhân sinh bách tuế nội, tất cánh đồng thảo mộc.
    Hoan bi ưu lạc điệt vãng lai. Nhất vinh, nhất dạ hoàn tương tục.
    Khâu sơn hoa ốc diệc ngẫu nhiên, tử hậu thuỳ vinh cánh thuỳ nhục?
    Nhân gian nhược hữu Sào Do đồ, khuyến cừ thính ngã sơn trung khúc.

Côn Sơn ca

Côn Sơn có suối

Tiếng nước chảy rì rầm

Ta coi làm đàn cầm.

Côn Sơn có đá,

Mưa dội rêu phô xám

Ta coi làm chiếu thảm.

Trên đèo có thông

Muôn dặm biếc mông lung

Ta thảnh thơi nằm nghỉ bên trong.

Giữa rừng có trúc,

Nghìn mẫu xanh chen chúc

Ta đủng đỉnh ca ngâm dưới gốc.

Hỏi ai sao chẳng sớm quay về?

Nửa đời vùi mãi trong lầm đục.

Muôn chung chín vạc để làm gì?

Nước lã cơm rau hãy tri túc.

Kìa chẳng thấy Đổng Trác bạc vàng đầy một ổ

Nguyên Tải hồ tiêu tám trăm hộc

Lại chẳng thấy Bá Di cùng Thúc Tề

Nằm khô trong núi không ăn thóc

Hiền ngu tuy có khác nhau xa

Đều chạy đi theo lòng sở dục

Người sống trong trăm năm

Sẽ cùng cây cỏ mục

Vui buồn sướng khổ đuổi thay nhau

Một tươi một héo thường tiếp tục

Đồi rậm lầu hoa cũng ngẫu nhiên

Chết rồi hỏi ai vinh với nhục?

Nhân gian nếu có bọn Sào Do

Khuyên hãy nghe ta hát một khúc.

Nguyễn Trãi đọc Côn Sơn ca, nước mắt đầm đìa. Lê Lợi ôm chầm lấy người thi sĩ của nhà Lê. Nước mắt hai người hoà vào nhau, tan cùng nước mưa tuôn chảy ngập đất trời Thăng Long.


... CÒN TIẾP ...

© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 10.01.2011.
TÁC PHẨM CỦA MAI THỤC CHỈ PHỔ BIẾN
DUY NHẤT TRÊN HỆ THỐNG VIỆT VĂN MỚI - NEWVIETART