NGUYỄN HIẾN LÊ & THƯ VIẾT TAY GỬI BẠN VĂN

Lời dẫn:


Tôi tạm đặt một tiêu đề khác khi viết cảm tưởng đọc” Quách Tấn –Nguyễn Hiến Lê : Những bức thư đầm ấm”( Saigon Media + Nxb tp. HCM 2010, 558 tr., khổ 14,5 x 20,5cm ). Đó là những bức thư viết tay giữa hai bạn văn, một ở Saigon, một Nha Trang, khởi sự từ 9/4/1966 tới thư chót đề 11/12/1984 (trước 11 ngày N.H.Lê qua đời ở Kỳ Đồng, Quận 3, tp.HCM).

Thư Nguyễn Hiến Lê (N.H.L) là trả lời thư bạn văn Quách Tấn gửi tới, kéo dài cho tới sau biến cố 30/ 4/ 1975. Bài viết này chỉ đề cập nội dung thư viết tay N.H.Lê mà thôi, đây mới chính linh hồn tác phẩm của ” những bức thư tay đầm ấm”. Buổi sinh thời, N.H.L. nhận được rất nhiều thư văn hữu, già, trẻ, nam nữ, có ngày tới 30 lá từ vĩ tuyến 17 trở vào - với bất cứ ai, gửi văn phẩm cho đọc, thì ông đọc hết, tay cầm bút chì gạch ngoài lề bầy tỏ ý kiến riêng, và thư tay thăm hỏi, cũng không bỏ sót. Với một nhà thơ trẻ LT..M, ông phê ”háo danh”, với Bàng Bá Lân ”chỉ rặt nói về bản thân” còn Toan Ánh và Lê Văn Siêu ”quê mùa”, may không ghi rustique : “ .. qui a le caractère, la simplicité de la campagne.” ( Le Petit Larousse en Couleurs)- bởi đặc tính N.H.L hay chua tiếng Pháp xen kẽ. Dầu "phê” bạn văn’ háo danh” hoặc” quê mùa”, tôi xác quyết ông ta rất chân tình ,nghĩ sao, viết vậy- không ngụ ý xỏ xiên. Thích ai thì khen hết lời, có khi chẳng đạt tới vậy ! (Giản Chi, Võ Phiến ..).Nhớ lại, qua thư tay viết vào năm 1959,ông khuyên tôi không nên chua tiếng Pháp nhiều quá- có thể đây là cách trách móc nhẹ nhàng, có thể tôi chú ( giải nghĩa) tiếng pháp không mấy” propre “chăng? Trong tập này, theo tôi, một vài chú giải sai chữ tây mà N.N.L xen kẽ , người sưu tập và người biên tập sách dich sai, hiểu cạn chữ pergola ( cổng kết cấu đơn sơ, ngoài bờ dậu cho giây leo) thì lại ghi tiếng tây “pagoda “ vv.. Công lao sưu tập thư N.H.L , nhờ ở Lê Ngộ Châu cho Quách Giao ( con trai Quách Tấn và còn là một tác giả) biết cô Liên ( cháu N.H.L) ở Long Xuyên “…đã tìm được xấp thư của Quách Tấn gửi cho nhà văn Nguyễn Hiến Lê rồi. Nhiều lắm…”

Buổi ra mắt sách vào một chiều tháng 12/2010 tại Quán Cà phê Sách của Cty Sách Phương Nam thật” đầm ấm” ( đây mới đúng”” đầm ấm’, còn “Những bức thư đầm ấm” ( lấy từ một câu thơ nào đó của Quách Tấn), theo tôi không “ propre” cho lắm ! ! Có mặt tiến sĩ văn học Văn Giá ( từ Hà Nội vào), ts Huỳnh Như Phương, Nguyễn thị Thanh Xuân, nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương, Hoàng Hương Trang, Trụ Vũ, Lữ Quốc Văn , ngâm sĩ Thúy Vinh.. vv.. Kiểu ra mắt sách” reception” như các nhà văn hải ngoại thường làm ở Mỹ (ở đây không phải mua vé và được mời thức uống “free” nhưng khác bên kia, khách ẩm thực thưởng- ngoạn- rất ít người chịu bỏ 130 .000 V.N.Đ. để sở hữu một cuốn cắp nách mang về. Có lời mừng Saigon Media do cựu Tổng biên tập báo Phụ Nữ tp.HCM điều hành , đã giới thiệu được đôi ba cuốn sách - tập truyện ngắn mới nhất Nguyễn Ngọc Tư, nhà văn nữ tài danh đang có ” giá’ bậc nhất hôm nay.

Hay chua tiếng tây, đây là một thí dụ:
“…Tôi được thư ông non ba tuần rồi mà hôm nay mới hồi âm được, vì nay năm vận hạn, tôi bị cúm nặng, hết diarrhée thì biến chứng ra nấc cụt ( hoquet) cả tuần… ( thư Saigon 2.11.72 -tr.61).

Cháu của Trương Vĩnh Ký là Trương Vĩnh Lễ( từng Chủ tịch Thượng viện Quốc hội VNCH), giàu có, thế lực, chủ nhà in Imprimerie Saigonnais hay Cơ sở Trương Vĩnh Ký ( gần chợ Tân Định) dự định thành lập một nhà xuất bản lớn cỡ Hachette. Nhớ ”ông nội” xưa kia, in sách không có tiền, in chịu nhà in Bảo Tồn ở Boulevard de la Somme ( đường Hàm Nghi bây giờ) khoảng năm 1928 bị kiện ra tòa- nay “đứa cháu” phất lên không tái bản sách ‘ ông nội” , chỉ nhằm đầu cơ "có lợi” , in sách giáo khoa bộ Giáo dục, sách chính trị nhất thời.:
“…Họ có một chương trình rất lớn, muốn làm như Hachette của Pháp- sẽ in cả sách giáo khoa bộ Giáo dục cho phép, in lại cả những sách của vài nhà xuất bản Pháp để độc quyền bán ở Đông Á, từ Nhật Bản tới Singapour.(…) Một người trong ban giám đốc quen tôi: ông Ngô Trọng Hiếu, người đã giúp đỡ tôi in cuốn đầu tiên: Tổ chức công việc theo khoa học. Tôi không ưa đường lối chính trị của ông ta, nhưng về văn hóa thì ông ấy vẫn thường hỏi ý kiến tôi..” ( thư Saigon 14.12.73 – tr. 75).
Nói thêm, khi Ngô Trọng Hiếu cộng tác với N.H.L xuất bản Nxb Nguyễn Hiến Lê, thì N.T.Hiếu có tên tây Paulus Hiếu, Trưởng ty Ngân khố Long Xuyên. Triều đại Ngô Đình Diệm, ông ta đổi họ, giữ tên NGÔ TRỌNG HIẾU,( Hiếu kính trọng họ Ngô ) được làm Đại sứ ở Campuchia, sau Bộ trưởng Công dân vụ ( 1960) . Thời kỳ này Tủ sách bộ Công dân Vụ có tái bàn truyện S. Maugham do N.H.Lê dịch để phát cho công nhân viên chức.

“Văn chương làm cho người ta trở thành bất tử, người làm cho văn chương trở thành bất hủ”, N.H. L khoái chí tử:
“…-Trang 209.” Văn chương làm cho người ta trở thành bất hủ. Người làm cho văn chương trở thành bất hủ”. Khoái. Nhưng tôi nghĩ như vậy là cái phước hay cái họa cho Tôn Thọ Tường ? Nếu thơ ông ta hay thì ngày sau không có người khen 6ng mà cũng có không có người chửi. Được khen thì bị chửi. Không được khen thì không bị chửi. Lựa đằng nào? Tôi nghĩ tội cho Phạm Quỳnh và cho cả Trương Vĩnh Ký lúc này nữa..” ( thư Saigon 22.10.74 – tr. 101-2).
N.H.L lập nxb, ban đầu có Hư Chu, nhà văn trẻ chuyên lái xe hơi cà tàng Citroen chở sách đi phát hành, chết sớm. bản thảo Hư Chu được N.H.L giới thiệu với Ngô Trọng Hiếu ( Cơ sở Trương Vĩnh Ký) xuất bản bản thảo Khảo về thơ Đường luật. Bà Hư Chu Mừng có nhuận bút, chờ mãi hơn 1 năm rưỡi và ông N.H.L nhắc ông hiếu tới 3 lần mà sách vẫn chưa ra mắt được. Khổ !:
“… Ông Hư Chu là bạn của ông H. ( Ngô Trọng Hiếu- NV ghi) và của tôi. (…) Ông ấy( ông Hiếu) bảo cuốn sách đó quí lắm, thế nào cũng phải xuất bản – vì là bạn thân- sẽ đổi tựa cho nữa. Bà Hư Chu và mấy người con( nhà nghèo) mừng lắm. Nhưng từ đó đến nay trên một năm, gần năm rưỡi rồi, tôi nhắc ông H. 3 lần, con ông Hư Chu cũng nhắc 3 lần nữa mà vẫn chưa thấy gì cả. Thôi, chúng tôi không nhắc nữa….” ( thư Saigon 12.3.75 – tr. 110)
Trong những lá thư N.H.L gửi cho Quách Tấn, từ sau biến cố 30/4/1975, nhiều tư liệu văn học ghi về các nhà văn VNCH( cũ ) xất bất xang bang, được kể lại, bây giờ đọc lại thấm cảm niềm” vui-nhục:”Nói như nhà phê bình văn học Thiếu Sơn ( người bị VNCH cầm tù vì ủng hộ’ bên kia”) lại cho rằng :… ”người ngoài đó phải bớt mặc cảm tự tôn, mà người trong này phải bót mặc cảm tự ti đi”( tr.235)

” …Vâng, trong này Hội Văn nghệ giải phóng đã mở hai khóa học tập cho các ông bà thất nghiệp đó rồi, không bắt buộc nhưng đã bảo là” được mời” mà mình không đi dự thì vô lễ, nên người ta đi đông đủ lắm. Và có nhiều ông bà ( cả trăm) không được mời cũng tình nguyện xin dự ( như Nguyễn Mộng Giác chẳng hạn – tội nghiệp anh ta mất việc ở Bộ Giáo dục rồi, đương kiếm đất trồng cây. Đất vẫn là mẹ của loài người muôn thuở). Khóa đâu hơn 200 người. Tôi được mới nhưng đau, xin hoãn lại. Khóa nhì được trên 600, tôi cũng đau xin hoãn nữa. Khóa ba chưa mở….” ( thư Saigon 20.9.76- tr. 123-24).
N.H.L. còn có tiền để sống, không phải đi bán quần áo cũ, buôn thuốc tây chợ trời, làm mọi việc, miễn là kiếm ra tiền ( 500 đồng VNCH ăn 1 đồng GPMN), riêng ông Lê lấy cây viết làm sự sống: “…Có ai vui được anh. Giản Chi hết dạy học rồi, vợ cũng đau, con đi cải tạo như con anh ( ….) Rồi sẽ túng thiếu hết.(…) Vì buồn mà chúng mình đều cặm cụi viết – có vậy mới đỡ đau mà sống thêm được. Mà biết viết gì bây giờ ?(…) (thư Saigon 5-7-1977- tr. 130).
“…Giản Chi cũng nhận dịch thơ chữ Há của Nguyễn Trãi .. .cho Hội Văn nghệ Giải phóng ở đây. Còn hơn là bói hà Lạc như cụ tản Đà. Mà thời nay ai choc ho bói nữa….”( thư Saigon 6.8.78 – tr. 168)
Ít năm sau , Giản Chi được nhận lãnh trợ cấp, đâu vài trăm ngàn / tháng , ở một cơ quan xã hội trên đường Pasteur.( nhờ Trần Bạch Đằng đề nghị, - Lữ Quốc Văn chở Giản Chi trên xe gắm máy đi lãnh tiền đôi ba lần) .
Thư N.H.L. gửi cho Quách Tấn đều ghi ”Kính ông” , cho đến thư viết ở Saigon, 14.1.79 mới đề ”Kính anh” . N.H.L. vốn trầm tĩnh tính tình, không vồn vã với kẻ sơ giao, không quá suồng sã với người thân, một công chức tây lại có phong cách ông đồ á đông.
Bàn về “ mai chiếu thủy”, N.H. L. rất sành điệu, khi trả lời một cô ”yêu văn chương có tên tắt C.T. ở Nha Trang”, cô này có quen Quách Tấn :
“…Thứ hoa mà cô C.T. hái đó, tôi đáon là hoa mai chiếu thủy. Nó đâm ra từng chum nhỏ bốn năm cái một, mỗi cái có năm cánh trắng, có đặc điểm này là luôn luôn rủ xuống, mà loài đó thích nước, cho nên người ta gọi nó là mai 5 cánh trắng như mai) chiếu thủy. Có hoa quanh năm, thơm, lá cũng thanh, cành rất dễ uốn thành con rồng con phượng. ..” ( thư Long Xuyên, 17-7-79 – tr. 224).
Bản thảo viết ra chưa in được, với tác giả là niềm đau, và bảo quản được để trở thành oeuvre posthume là một điều rất khó, nhất là nhà văn VNCH “ thất thế còn ở lại trong nước”. Với N.H.L. , thì: “…Tôi cũng biết bản thảo mình chết rồi thì 3 năm sau không còn. Nhưng cũng vẫn tìm người nào có học, biết thích nó để họ giữ giùm. Chứ không nỡ đem con bỏ chợ..” ( thư Saigon 3.9.1979.)- tr. 237).
Tiếng tây được “chua” chỉ chính xác khi người chú giải có trình độ, ở đây chuyên viên kỹ thuật được chua Apert technique thì đúng là chửi cha văn hóa Phú lãng sa rồi! Hẳn rẵng lỗi này không phải của tác giả Nguyễn Hiến Lê:
“…Tôi biết đi xe đạp chứ. Làm apert techinique (1) mà không biết đi xe đạp thì sao di chantier?...” ( thư Saigon 13.10.79 – tr. 244).hoặc “ chính là nhờ đọc những correspon dans ( correspon dant mới đúng) của những nhà đó chứ…” ( tr.285 Apert techinique: chuyên viên kỹ thuật.
Nói về kẻ hám danh, thiển nghĩ, chẳng "có thằng làm văn chương” ( biên khảo, dịch thuật, văn, thơ vv..) mà lại không hám danh- khác ở chỗ ‘ hám danh’ thế nào cho phải đúng hám danh, tránh ” tài” bằng “ con nhái bén thổi phồng thành con nghé” chẳng hạn. Ngay như tác phẩm đầu tay của N.H.L. ra đời, tác giả gửi tới báo Đời Mới ( Saigon 1954) mong được báo viết đôi lời giới thiệu để” đưa danh lên”- tôi nhớ Tình nữ /Thế Phong (đầu tay) được giới thiệu chung với một tác phẩm N.H.L.”
“…Tôi không biết Lương Trọng Minh: đoán là còn trẻ; có đọc tập phê bình các nhà văn của anh ta ( trong số đó có anh), thấy viết chưa được, có vẻ hám danh…” (thư Saigon , 29.11.1979- tr. 249).
Hoặc:
“… Bàng Bá Lân có tật nói về mình nhiều quá mà nói dai, tôi cũng không thích gặp. Toan Ánh có vẻ quê mùa. Lê Văn Siêu cũng vậy…” ( thư Saigon, 10.6.80 - tr. 282).

Tôi nhớ gặp N.H.L lần đầu khoảng 1954, khi ông ở 50 Monceaux ( Huỳnh Tịnh Của bây giờ), tiếp tôi ở phòng học dạy học sinh( bà vợ họ Trịnh dạy các em học sinh)- sau chuyển về 12/3c Kỳ Đồng Saigon 3, trong một biệt thư có lầu. Tiếp khách ở phòng khách dưới tầng trệt, tôi và ông giao du v đến 1966, năm tôi lập gia đình- ông gửi thư bằng tờ pelure gập hai- từ đó tôi không còn lần nào gặp ông nữa. Chính ông là người tán đồng việc tôi giải tỏa bản thảo bằng cách in “mimeographed book” ( rô nê ô),( 1959) vừa tránh được kiểm duyệt và là một cách tồn bản thảo cho bạn bè giữ giùm.


_____________________________
 
Saigon đầu năm 2011.

ĐƯỜNG BÁ BỔN.


© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải ngày 05.01.2011 theo nguyên bản của tác giả .
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại