TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




ĐỖ TIẾN THỤY



Sinh ngày 12.10.1970.
Tại Tốt Động, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây.

. Sĩ quan quân đội.

. Giải thưởng truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Quân đội.













Tranh của cố hoạ sĩ Nghiêu Đề





GIÓ ĐỒNG SE SẮT

Mười năm ăn Tết ở vùng không có mùa đông, giờ tôi về Tết quê nhà. Mẹ mừng tíu tít như thể tìm lại được vật quý vừa đánh mất. Các chị lấy chồng quanh xóm nghe tin, loáng một cái đã dẫn lô nhô, lít nhít gần chục đứa trẻ đến đứng chật cả sân. Nào, đứa nào là Diễm Quỳnh, Hồng Liên, Tú Anh, Phương Trinh, đứa nào là Hồng Sơn, Việt Hoàng, Hữu Thắng... lại đây cậu cho quà nào. Gớm, các chị đặt tên con toàn là diễn viên điện ảnh với cầu thủ bóng đá thế này. Nào, lại đây! ơ kìa, sao chúng mày cứ đứng giương dáo mắt như chão chuộc trông trăng thế? Cậu chúng mày đây cơ mà! Rốt cuộc phân phát hết một bọc kẹo to tướng mà không dụ được đứa nào chịu ngồi yên trong lòng cho cậu ôm một tý. Con cháu mất nết thật!
- Thì cậu chăm về quá mà. Quà nhiều thế chứ nhiều nữa chúng nó cũng nhìn cậu giống như ông bán quán đầu cầu thôi.
- Mẹ đúng là... Tại con bận công tác chứ đâu phải...
- Nhàm tai lắm rồi. Anh sợ cái làng này như sợ hủi. Giá tôi có chết anh cũng chẳng biết đấy là đâu.
- Mẹ thì... Mẹ cứ yên tâm, bao giờ ổn định con sẽ “cẩu” mẹ ra khỏi cái “làng Vũ Đại” này.
- Anh ở đâu mặc xác anh. Tôi đẻ ở đây, tôi chết ở đây.
Khổ quá đi mất. Gặp nhau mà mẹ con cứ nhấm nhẳng thế này, mất cả vui. May nhờ các chị mỗi người một câu xuê xoa đấu dịu mới tạm qua. ấy thế nhưng khi chỉ còn hai mẹ con thì lại có chuyện.
- Tôi điện cho anh về là để...
Mẹ chưa nói hết câu tôi đã nảy lên:
- Con nói với mẹ bao nhiêu lần rồi. Con không lấy vợ quê đâu.
Mẹ vẫn thủng thẳng:
- Tôi đẻ ra anh tôi lại chẳng biết à. “Bao giờ rau diếp làm đình...” Tôi chẳng thèm ép. Tôi điện anh về vì chuyện khác... Con én nó về!
à... én. Hằn sâu ký ức tôi là hình ảnh một con bé láng giềng gầy đét, tóc xơ tướp lông gà, cái áo gụ bị thằng em hai tuổi mũi dãi tèm lem trên lưng gặm rách lòi cả hai cục xương vai thô lố. Bốn con mắt chăm chắm vào bát cơm khoai vàng ệch như đất thó trên tay cậu học trò háu đói. “ơ cái con này, nhìn gì?” Cậu học trò xoay lưng lại. Miếng cơm đầu tiên chưa kịp nhai đã lại thấy bốn con mắt xoáy vào mồm mình. Chờ đợi. Thèm thuồng. Khó ăn quá. Len lén như loài mèo ăn giấu, cậu tha bát cơm vào xó cửa úp mặt nhai phồng phạo. Hết nửa bát cơm, cái bụng không còn ùng ục réo, cậu mới từ từ quay đầu lại. Sững sờ và nổi cáu: “Sao mày cứ ngõm ngọ ông ăn?”. Hai con mắt đen tròn rấn nước. Cái miệng nhỏ méo xẹo run run. Toàn thân con bé rung tít mà vẫn không tắt được tiếng “măm măm” đang giục giã trên lưng. Tự dưng cậu học trò thấy cái bụng ngang phè. “Cho mày”. Một ân huệ quá lớn làm cho con bé tròn mắt không dám tin, giật lùi một bước: “Cậu ăn đi... em...”. “Không. Tao no rồi”. Bàn tay khô khẳng gân xanh chìa ra đón nhận ngập ngừng: “Em xin”. Nhưng nó không ăn. Thằng em nuốt chửng hết nửa bát cơm rồi toét miệng cười nhệch nhạc. “Xoè!”. Tiếng đánh diêm làm cậu học trò giật mình ngước lên - ông nội ngồi trên sập gụ, sau lưng là những chồng sách chữ nho cao ngất, bên cạnh tủ thuốc bắc nhiều ngăn đen bóng màu sừng. Ông giữ khư khư se điếu nhìn cậu gật gật đầu nhè nhẹ, chòm râu bạc rung rung. Que diêm cháy sát tay ông mới giật mình xoè que khác...
- Con bé về một mình hở mẹ?
- Rõ thật... Anh đi bao năm rồi mà hỏi thế? Bé với bỏng gì nữa. Nó lớn tướng rồi, xinh xinh là. Nghe nói làm cô giáo. Nó về với chú Tình.
- Thế thím Tình không về hở mẹ?
Không ngờ câu hỏi của tôi khiến mẹ chùng giọng xuống:
- Thím không về nữa... Sao đời thím lại khổ thế thím ơi!
Mẹ kéo khăn chấm mắt, ngồi lặng nhìn qua bờ rào râm bụt. Bên đó có cả một thời quá khứ buồn đau...
Đêm ngày nhập nhoạng. Bờ ruộng thân cau. Người đàn bà nước mắt nước mũi ròng ròng trong gió mùa đông bấc tái tê, xiêu vẹo cùng chồng gánh cá đi bón ruộng. “Mình về trước nấu cơm cho con ăn!”. Người đàn ông khẽ khàng bảo vợ rồi cắn răng làm tiếp. ì ọp đến nửa đêm vẫn chưa vùi hết cá xuống dõng cày. Sáu mươi gánh oằn vai chứ có ít đâu. Cái rốn hồ đặc ngẫn cá kia mà. Chỉ có ông bộ đội đặc công vẫy vùng sông nước một thời mới dám mạnh tay nhận thầu cái hồ hoang nằm giữa đồng với giá hai tấn cá một năm. Một năm, dân trong vùng tấm tắc khen cựu chiến binh giỏi, chỉ có ông mới nghĩ ra cách tháo cạn hồ cấy lúa, chỉ chừa cái rốn hồ để thả cá con. Lúa lên. Cá lớn, ông hãm nước từ từ. Một năm, ánh đèn măng-xông sáng choá loá giữa đồng, bao nhiêu cào cào, châu chấu, bướm rầy bướm nâu bắt đèn lao đến rã cánh rơi lả tả xuống hồ như vãi trấu. Tiếng cá đớp mồi tăm tắp, rồi bằm bặp, ủm oẳm... Mặt hồ cồn lên như một chảo mật mía khổng lồ sôi. Những câu chuyện một thời đánh tàu chiến Mỹ của chú bộ đội đặc công kể trong cái chòi chon von giữa hồ nước mênh mang và rập rờn sóng lúa dưới ngần ngận trăng quê đã mê hoặc cậu học trò ham hiểu biết. Một năm, lũ trộm cá trong vùng lắc đầu lè lưỡi. Vậy mà, ông cựu chiến binh đứng ngập bụng giữa lềnh bềnh cá chết, hai tay lẩy bẩy hai vỏ chai nồng nặc thuốc sâu. Mắt ông đỏ vằn, nghiến bành quai hàm, vết thương ở ngực tấy đỏ, căng cứng tưởng chừng bật miệng. Thuốc trong những lá đơn tố cáo xã bán cho xã viên phun lúa là thuốc giả, còn thuốc sâu ném xuống cái hồ vừa tháo cạn mới là thuốc thật.
Vùi hết chỗ cá, ông bã bượi trở về. Chưa kịp rã rời ông đã phải dựng chồm lên. Nồi cháo cá tanh lạnh giữa nhà. Cụ Đồ và cậu học trò hàng xóm đang cuống cuồng bên cạnh người đàn bà gập mình oằn oại, mắt trợn trừng, miệng sùi bọt trắng. Con cá chòi to như bắp tay vẫn còn ngớp miệng, bà giấu chồng mang về rửa sạch. Con én ghì dịt em trong lòng nhìn cha mếu máo: “Mẹ không cho chúng con ăn... Để mẹ ăn trước...”.
Người đàn bà nằm im. Cụ Đồ bải hoải ôm tráp thuốc đứng lên nghiêm mặt dặn mọi người: “Chớ để lộ ra ngoài, nhục lắm!”.
Làng Bùi ồn ĩ tin đồn nhà Tình mất của đâm ra ngơ ngẩn, ngày nào cũng ra đồng ngửa mặt lên trời kêu “cá cá”. Xóm giềng nườm nượp tới thăm mang theo những bìa đậu phụ, những quả trứng gà kèm lời an ủi “hại nhân nhân hại”. Một đêm, cậu học trò đi giải thấy có một người khách đến thăm nhà chú Tình. Vòng vo mãi ông ta mới nhỏ to: “Anh nên một vừa hai phải. Chúng tôi đang có ý định đưa anh vào Hội đồng nhân dân và xét miễn giảm giá thầu hồ cá...”. Chú Tình đứng phắt dậy nói to: “Tôi không cần. Đến mùa tôi sẽ trả bằng lúa!”. Vị khách lủi thủi ra về, ngang qua chỗ cậu học trò đứng đái còn quay lại rít khẽ: “Được rồi, xem mày làm gì được ông”.
Mưa tháng tư. Ao hồ uôm oam tiếng chão chuộc, ộp oà tiếng ếch giao tình. Bờ thửa bờ vùng cua bò lổm ngổm, sùi bọt trắng nhả hàng triệu triệu con cua nhỏ li ti xuống ruộng. Lúa chiêm uống nước no nê bung đòng trắng xoá, hương nhả ngát đồng. Một đêm, làng Bùi đang ngủ ngon trong thanh bình bỗng bật thức bởi tiếng tù và thổi rúc. Sân đình náo loạn bởi tua tủa gậy gộc, dáo mác, đuốc cháy phừng phừng thịnh nộ. Hai kẻ lạ mặt bị tuần nông trói giật cánh khuỷu khiếp đảm giữa trùng trùng tiếng hét. Vòng vây giãn ra. Tiếng la ó lặng im khi cụ Đồ ra tới cất giọng vang vang như sấm: “Thứ nhất là tội phá đồng. Thứ nhì là tội cắm chông giữa đường! Cứ theo lệ xưa thì phải cắt gân gót!”. Tiếng hú hét lại rộ lên. Bắp tay trai làng huơ dao cuồn cuộn. Nhà Tình đâu? Nó phá ruộng nhà ông đấy. Ai đời lúa đang ngậm màu, hai thằng hai sào gạt bấy hết rồi. Giết chết mẹ quân ác nhân thất đức kia đi! Chú Tình đón con dao nhọn từ từ tiến tới. Phen này hai kẻ kia phải cù lìa bất toại. Con dao nhọn dí vào cái bụng còm nhom đang hi hóp thở cùng tiếng gầm: “Ai thuê chúng mày?”. Tiếng khóc rống lên như bò chọc tiết. “Khai hay là chê...ê...ết!”. “ối giời ôi! Con có biết ai đâu mà khai... Đang thua bạc, có người dẫn lên ruộng bảo làm xong sẽ trả tiền... hu... hu”. “Quân chó má!”. ánh dao hoa lên cùng tiếng rú rùng rợn của thím Tình: “Đừng làm điều thất đức anh ơi!”. Phựt! Phựt! Hai kẻ lạ mặt đổ ụp xuống như thân chuối bị dao lia ngang gốc. Thím Tình nhào tới ôm lấy hai cái xác không hồn mà lắc lay. Nhưng thím nhầm. Hai nhát dao chỉ cắt đứt hai sợi dây trói. Hai kẻ lạ mặt he hé mắt lấm lét nhìn lên. “Cu...u...út!”. Mũi dao chỉ ra đường. Hai kẻ lạ mặt vùng dậy lạy như tế sao rồi ù té chạy. Con dao quật mạnh xuống sân đình toé lửa. Chú Tình lảo đảo ra về bỏ lại sau lưng những lời bàn tán lao xao: “Sao không giao cho công an xã?”...
- Gì mà ngồi thừ thế con? Mẹ từ dưới bếp đi lên, mặt hồng màu lửa - Nước mẹ đun rồi đấy. Xuống tắm đi. Tí nữa thế nào con én cũng sang. Từ hôm về nó nhắc mày suốt. Con bé nhớ đến tài. Miệng lúc nào cũng “ngày xưa cậu Thưởng thế này, ngày xưa cậu Thưởng thế kia...”.

Ngày xưa... Vâng, ngày gọi là xưa ấy mới hai chục năm chứ mấy. Vậy mà mỗi khi nhớ lại tôi lại thấy hãi hùng. Mùa mất liên miên. Suất cơm trưa của cậu học trò lớp sáu cũng bị cắt. Con én không còn cõng em sang vào giờ đó nữa. Bi kịch xảy ra lại chính từ việc ấy. Một buổi chiều, chú Tình vừa quẳng phịch gánh củi xuống sân đã thấy cô Chung láng giềng bên kia tru tréo: “Ông Tình ơi là ông Tình, ông đẻ con ra ông phải biết dạy nhá. Ngày nào tôi cũng nẹn chặt một bát cơm, giấu vào trong chăn để phần thằng Tũn. Thế mà ngày nào cũng mất một nửa. Hôm nay tôi rình bắt được tận tay con én ăn vụng nhá. Nghèo cho sạch, rách cho thơm nhá. Kiện cáo cho lắm vào để con ăn vụng nhá. Rõ dơ!”. Mệt mỏi. Nhục nhã. Trong cơn cuồng quẫn, người bố rút soạt cây củi vung lên, quạt ngang, xả dọc trong tiếng thét xé trời của người mẹ: “Cô Chung ơi, cô giết con tôi rồi!”. Khi hàng xóm xé rào sang kịp thì con én đã tơ tướp như một mớ giẻ máu. Nằm thiêm thiếp trong tay Cụ Đồ nó khẽ rên: “Con không ăn... Tại em Đồng... đói... quá”.
Đêm ấy, gà gáy canh ba Cụ Đồ vẫn ngồi lặng phắc như pho tượng. Nước mắt thầm thĩ chảy qua râu rồi giọt giọt xuống chõng tre thon thót. Gần sáng thì Cụ Đồ lấy mực ra mài. Tiếng thỏi mực xoáy xìn xịt vào đêm đen kịt. Rồi cụ chấm bút. Ngọn bút lông ngần ngừ, nâng lên lại hạ xuống trầm ngâm trong nghiên, mãi sau Cụ Đồ mới bất ngờ phóng bút. Một chữ nho to tướng gục đầu bi phẫn trên nền tường trắng lạnh. Rồi chẳng hiểu sao cụ vung tay hắt cả nghiên mực đè lên chữ vừa mới viết. Những dòng mực chảy ngoằn ngoèo như những giọt nước mắt đen.
Sáng sau Cụ Đồ gọi người bán bức hoành phi gia bảo. Gã lái buôn hấp háy mắt cười: “Sao cụ không để dùng?”. Cụ Đồ thẫn thờ: “ Cả làng cả nước đói, ta cầu phúc cầu lộc là tham. Trẻ con sinh ra chưa biết sống chết ra sao, ta còn lòng nào mà cầu thọ”. Số tiền bán được, Cụ Đồ cho hết thím Tình. Cụ lại sai các cháu mỗi bữa nấu cơm đong gạo vào nồi thì bóc ra một nắm, bỏ vào hũ như hồi “hũ gạo nuôi quân”. Cả làng Bùi làm theo, và chính cô Chung lại là người hăng hái nhất. Từ hôm con én bị đánh, cô Chung ra đường gặp ai cũng len lén cúi đầu...
- Thôi, nghĩ ngợi làm gì, con. Đi tắm cho sạch sẽ rồi lau rửa bàn thờ cho mẹ!
Nghe lời, tôi miễn cưỡng đi tắm, cố gạt đi hồi ức đau buồn. Thế nhưng khi đối diện với hai bức ảnh trên bàn thờ thì tôi lại thừ người. ảnh cha tôi quân hàm quân hiệu sáng ngời, nụ cười rạng rỡ, chắc hẳn lúc cắp súng lao vào bời bời lửa đạn cha tôi không thể nghĩ quê hương mình lại có thể xảy ra những điều khốn nạn. ảnh ông nội tôi, Cụ Đồ áo the khăn xếp sống qua mấy thời kỳ, gặp thời Nho học suy vi, chuyển sang bốc thuốc cứu người, vậy mà cuối cùng lại ra đi tức tưởi...
Oăng oẳng trong đầu tôi là tiếng loa thúc thuế. Danh sách đứng đầu là nhà chú Tình. Hai tấn cá qui bằng mười tấn lúa, cộng thuế sản lượng là mười hai. Một ngày hè oi ả, đường làng nồng ải mùi rơm rạ, phân trâu, đội 203 ầm ầm kéo đến nhà chú Tình. Chú đi củi vắng, chỉ có thím Tình người xanh bủng đang ngồi đập rơm giữa sân, thỉnh thoảng lại ngửa cổ lên trời cười ngơ ngẩn “cá cá, lúa lúa”. Đội 203 xục xạo khắp nhà, dùng thuốn chọc vào cả các đống rơm đống rạ mà chẳng tìm thấy gì. Tài sản duy nhất chỉ có con lợn còm đang nhai trấu nhóp nhép trong chuồng. “Bắt lợn!”, sau cái khoát tay của đích thân ông Chủ tịch xã, một người nhảy vào xách tai con lợn quẳng ra định giá. “Hai mươi cân. Ký vào!”. Thím Tình cầm bút nắn nót viết một chữ “Nga” tròn như hạt gạo rồi lại ngửa mặt lên trời cười: “cá cá, lúa lúa, lợn lợn”. Chẳng hiểu có phải vì câu nói lảm nhảm từ miệng thím Tình hay không mà cậu học trò hàng xóm bỗng đánh liều lần tay giở nút sợi dây chun chằng ngang bụng con lợn đang thở è è trên gác-ba-ga xe đạp. Mọi người không ai nhìn thấy, duy có đôi mắt của én, cái nhìn rất lạ, óng ánh như hai viên bi thuỷ tinh bắt nắng. Hành động của cậu đã gây nên một cuộc rượt đuổi náo loạn. Tiếng lợn kêu, tiếng hò hét, tiếng khóc dậy trời. Cụ Đồ không thể ngồi yên đọc sách, vén rào bước qua: "Các anh làm cái trò gì mà như cường hào ác bá ngày xưa thế?". Ông Chủ tịch sững người: "Loa mãi rồi, không chấp hành thì phải cưỡng chế. Ai cũng như nhà này thì làm sao xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.". Cụ Đồ nghiêm mặt: "Chủ nghĩa xã hội là gì?". "Là là là... tốt lắm...". Cụ Đồ cười nhạt: "Anh như con vẹt nhại tiếng người rồi cậy thế làm càn. Thế anh có biết câu "Quốc dĩ dân vi bản, dân dĩ thực vi tiên" không? Không à? Cục súc như anh làm sao biết được. Chả trách...". Cụ Đồ chắp tay sau đít thong thả ra về, bỏ ông Chủ tịch với cái mặt tía như cà trâu đực, bọt mép sùi trắng ởn, rít lên: "Thằng già, rồi biết tay ông".
Cô Chung ốm, người gầy dộc như que củi. Đi khám hết viện này viện kia không khỏi. Bác sỹ kết luận cô bị suy nhược thần kinh nặng do không ngủ được. Hễ cứ chợp mắt là thấy máu khiến cô la hét vùng dậy khóc nức lên: "Tại tôi trót làm điều ác nên Trời Phật phạt". Cô sang năn nỉ Cụ Đồ làm lễ cúng giải hạn. Cụ Đồ suy nghĩ rất lung rồi bảo: "Nhà Chung tự kỷ ám thị. Ta phải chiều, may ra...". Lễ giải hạn được bày, Cụ Đồ chưa đọc hết bài văn tế thì dân quân xã ập vào, giải đi. Đêm mưa phùn gió bấc căm căm, ông Chủ tịch bắt Cụ Đồ ngồi giữa sân, nắm râu cụ, cười sằng sặc: "Cúng xem có đổ được trụ sở hay không!". Gần sáng thì Cụ Đồ đổ. Dân quân khiêng cụ về trả cho gia đình. Gần một tháng trời Cụ Đồ chỉ nằm trân trân nhìn trần nhà, trước lúc chết chỉ nấc lên một tiếng, mắt vẫn mở trừng trừng. Đám ma Cụ Đồ to nhất làng Bùi. Chú Tình khóc không thành tiếng; truớc mộ, chú cắn môi hứa trong nước mắt sẽ đưa những kẻ giết người ra trước vành móng ngựa...
- Sao con khóc thế? Trời ơi, con tôi mệt mỏi quá đây mà... Thôi, để đấy mẹ làm. ốm thì chết!
Tôi bơ thờ để mẹ dìu đến giường, đắp chăn kín mít. Thời quá vãng đau buồn vẫn không buông tha tôi...
Nhan nhãn trên các bức tường kho, đền chùa, miếu mạo và oang oang trên loa phóng thanh là câu vè của ông Chủ tịch:
"Quê ta đất chật người đông
Ai đi Sông Bé, Lâm Đồng thì đi."
Ai muốn đi? Không, không ai muốn bỏ quê hương bản quán, mồ mả ông bà mà đi cả. Xã phải điểm đầu. Chú Tình là số một. Lý do không chối cãi vào đâu được: Nợ đọng quá nhiều. Xã sẽ xoá nợ cho những người ra đi. Nhưng cái chính chú Tình là đảng viên phải gương mẫu chấp hành chủ trương. Con cá kình một thời vùng vẫy sóng nước Tiên Sa, đánh chìm bao tàu giặc, giờ lại không thoát khỏi những mắt lưới bủa vây ở chính quê mình. "Không, đất quê ta không chật, người quê ta chưa đông, chỉ có bụng dạ của một số kẻ vô lương chật hẹp!" - Chú Tình gào lên trong buổi tiễn đưa. Con én ôm em khóc như ri, chới với gọi qua thành xe: "Cậu Thưởng ơi... Mai em lại về với cậu!...". Chỉ có thím Tình dường như vô cảm, vẫn ngửa cổ lên trời: "Cá cá...".
Tôi sốt. Sốt thật rồi. Người hâm hấp nóng. Đầu ong ong váng vất. Trong cơn mê sảng chập chờn tôi nghe loáng thoáng có tiếng mẹ tôi, tiếng chị tôi và những đứa trẻ. Tôi thấy tôi đang lang thang dọc bờ biển xanh cát cháy tìm mộ cha tôi. Cha tôi đâu không thấy? Tôi thấy mình lặn lội trên những nẻo đường cao nguyên đầy bụi đỏ, nắng lửa, gió Lào tìm những người thân quen nhưng vô vọng. Đúng lúc tôi cảm thấy rã rời trong cuộc kiếm tìm kỷ niệm, kiếm tìm tình yêu cho chính mình thì vẳng bên tai tôi có tiếng nói quen quen và mắt mờ nhoè hình ảnh. Chú Tình đây. Vẫn khuôn mặt chữ điền và đôi mắt sáng, nheo nheo nhìn tôi cười:
- Thế nào, yếu lính thế?
én đây ư? Tôi không nhận ra em nếu không nhờ đôi mắt trong veo đã đóng ấn vào ký ức tôi. Khuôn mặt em không còn nét võ vàng thời đói kém, mà đẹp, đẹp thuần hậu gái quê nhưng rạng ngời tri thức. Mười mấy năm bươn chải trong dòng đời tấp nập, tôi đã qua mấy cuộc tình. Môi hồng Líp-ai, môi đen Hàn Quốc... đủ cả. Vậy mà nhạt. Mục tiêu kiếm tìm tưởng chỉ là ảo ảnh, giờ hiển hiện trước mắt tôi.
- Cậu... Em...
Bàn tay ấm mềm đặt lên trán tôi. Tôi muốn vùng dậy hét lên một tiếng nhưng đầu nặng chìm chìm, không ngóc lên được, đành nằm im mấp máy môi:
Một vốc thuốc đắng ngét vỗ vào cái miệng khô khốc. Tôi rơi vào cảm giác li bì, mộng mị. Lõm bõm bên tai là những lời đối thoại giữa mẹ, én và chú Tình...
- Thím Tình làm sao mà?...
Tiếng nấc bật ra tức thì từ miệng én:
- Thảm lắm bà ơi!... Vào Tây Nguyên, bệnh mẹ con đỡ dần, rồi khỏi hẳn. Ai ngờ... Hôm ấy có một đoàn khách đến tham quan trang trại nhà con. Bố con vừa giới thiệu xong, mẹ con lên cơn ngay tức khắc.
Chập chờn. Nức nở. Giọng én, giọng chú Tình... một chuỗi miên man...
Người đàn bà tóc tai rũ rượi, lúc bò, lúc lết như con thằn lằn len lỏi qua gai góc bám sát theo đoàn người lạ mặt. Những cái chức sợ lắm! Những cái chức ghê lắm! Họ làm gì thế kia? Họ xăm xoi từng gốc cà phê. Họ lội cả vào ruộng lúa. Không! Không! Không được phá! Công lao mười mấy năm trời, mồ hôi nước mắt của nhà tôi! Mười mấy hộ vào đây sốt rét, đói ăn đã bỏ về hết, chỉ còn nhà tôi khiêng đá, phát cây, đào ao bám trụ. Mình ơi, đừng cho họ xem. Họ đến để phá đấy. Đừng, đừng cho họ ra chuồng lợn!... Đừng, đừng cho họ ra hồ cá! Trời ơi! Biết ngay mà. Chết rồi mình ơi!... Cái hồ lềnh bềnh cá chết. Nồi cháo cá tanh rợn thuốc sâu. Khu ruộng lúa trắng lốp phất phơ không uốn câu. Con lợn nhép bị dồn đuổi đến cùng... Trốn đi! Trốn đi! Họ đến đấy! Biết ngay mà! Trời ơi! Nhà tôi có làm hại ai đâu mà các người đang tâm ném thuốc sâu xuống hồ nhà tôi? Cứu! Cứu! Cứu! Ô, ai bịt mồm tôi thế này? Cái chai bập bềnh. Bập bềnh giữa ao. Bơi. Nhà tôi còn nợ bà con làng Bùi tám trăm năm mươi bát gạo. Bơi. Nhà tôi còn nợ làng Bùi mấy chục rổ khoai. én ơi! Đồng ơi! Mình ơi! Còn sống trên đời phải nhớ cái ơn. Cố lên! Mấy sải nữa thôi. Hụp. Lặn. Chới với. Rướn tới. Được rồi! Chìm. Chìm. Chìm... Đàn cá táo tác, lượn vòng. Những mắt cá tròn xoe...
Mình ơi. Mình đâu rồi? Sao bỏ nhà cửa vắng tanh thế này? Đã dặn làm cơm đãi khách rồi mà? Nháo nhào. Cuống cuồng. Vườn cây vắng ngắt, u i tiếng ong. Mặt hồ sủi tăm. ùm! Một hơi. Hai hơi. Giời ơi! Các ông giết vợ tôi rồi! Ai, ai ném cái vỏ chai nước khoáng xuống hồ? A.a.a.a.i? Choét, choét, choét! Đàn chim giật mình kinh hãi trên ngọn cây muồng. Người đàn ông đặt vợ xuống vạt cỏ cạnh hồ, rũ người như tàu lá héo. Lẩy bẩy vuốt mắt. Đôi mắt trợn trừng, u ám. Đừng nhìn đời như thế mình ơi!...
Trời ơi, mẹ! Mẹ làm sao thế này? bóng áo dài trắng nhào vào. Gào thét. Ngất lịm... Tĩnh tâm, nhìn. Thi thể đẫm đụa nước, tay còn bóp chặt vỏ chai nước khoáng, mắt mở tròn kinh hãi nhìn đoàn người lạ mặt vây quanh ngơ ngáo... Cô gái chợt hiểu, reo to: Mẹ, mẹ ơi, mẹ tỉnh lại đi! Vườn nhà mình vẫn nguyên. Hồ nhà mình vẫn nguyên. Không ai phá cả. Họ chỉ vô tình mà, mẹ ơi! Lời diệu kỳ. Đôi mắt người đàn bà ánh lên tia nhìn ấm áp rồi từ từ khép ngủ, miệng phảng phất nét cười...
Thôi, thím đã chả may, chú cũng nên tĩnh lại. Đau buồn thím cũng chẳng sống lại được... Vâng, nhà em mất, em đau một. Nhưng chỉ vì vài thằng chó má mà nhà em nhìn đời như thế, em đau mười... Thôi mà, chú. Cái thời ấy đã qua rồi...
Tôi thấy cơ thể mình nhẹ dần, nhẹ dần rồi bay bổng trên cánh đồng tuổi thơ. Cậu học trò ngật ngưỡng trên lưng trâu đọc sách, nhưng hễ con trâu mộng no tròn như sim chín dạng chân, cong đuôi là vội tụt xuống, vơ một cọng rạ cắm ngay vào đóng phân nóng hổi xí phần cho én. Con bé láng giềng dụt đầu dụt cổ gánh đôi quang dài lê thê trên bờ mạ xanh. Cái áo gụ rách vai bị gió thổi phất phơ, phất phơ...
Chị ạ, lần này bố con em về, trước là thăm xóm làng, sau là để trả cái ơn ngày xưa... Thôi mà, lúc hoạn nạn có nhau, chẳng ai nhớ đâu. Không, bà con không nhớ nhưng nhà em phải nhớ. Tám trăm năm mươi bát gạo. Mấy chục rổ khoai... Đã bảo không ai nhớ đâu mà. Bây giờ chú có trả cũng chẳng ai nhận. Vâng, em biết thế nên mua biếu mỗi người một túi tám thơm ăn Tết, chứ tình nghĩa thì trả bao giờ cho hết... Thế còn nợ xã, chú tính thế nào? Em đã mang trả nhưng uỷ ban không nhận. Em đã xin đưa hết vào quĩ đền ơn đáp nghĩa. Chú làm thế là phải. Vâng, Cụ Đồ ngày xưa vẫn nói “Làm ơn không nên nhớ, nợ ơn chớ nên quên.”...

Mùi cơm thơm lựng xộc vào mũi tôi.
- Cậu Xưởng mở mắt, bà ơi! - Giọng thằng cháu đích tôn ngọng nghịu. Nhà lại ríu rít tiếng cười.
- Gớm, cậu sốt xình xịch cả ngày cả đêm, làm chị lo lo là. Để chị hái lá đun nước cậu xông.
- Cậu Xưởng còm, bà nhể.
- ờ, cậu mày mười mấy năm cơm thiên hạ...
Mâm cơm tất niên ú hụ mỡ màng. Tôi ngảnh ngót. Mẹ xót xa:
- Cậu mày mới sốt dậy, đắng miệng...
Chị Cả đon đả:
- Cậu thích ăn gì chị mua? à, nhớ rồi, ngày xưa cậu thích nhất món chân giò chấm muối.
Chị Hai đay lại:
- Không, cậu Thưởng thích nhất món cá chòi luộc. Nhà chị mới tát ao, có con cá hơn cân, để tối chị mang sang. Hay là... cậu thích ăn còng gà? Ngày xưa mỗi độ giỗ cha, thịt một con gà, có hai cái còng ba chị em tranh nhau khóc mấy ngày là gì...
Chuyện. Thời đói kém cái gì chả thèm. ơ hay, thế anh thích cái gì? Tôi nói cái thích của mình ra, mẹ cười chảy nước mắt nước mũi. Cơ khổ, thèm gì không thèm lại đi thèm cái thứ lăn lóc đầy gầm bàn xó bếp, cho ăn mày còn chê nặng. Mẹ nói làm sao ấy chứ, bây giờ ở các bữa tiệc món khoai tây nấu cà-ry là nhất đấy. ơ thế à. Vậy mà ngày xưa tôi nịnh mãi "ăn cơm béo dài, ăn khoai béo tròn" anh còn hấm hứ. Anh tuyên bố học thật giỏi để khỏi ăn khoai kia mà? Thì, mẹ tính, khoai, khoai, khoai, lúc nào cũng khoai. Cơm khoai. Canh khoai. Bánh khoai. Ròng rã mấy tháng trời, ai chẳng sợ. ờ ờ, nhờ vậy mà qua được kỳ giáp hạt đấy...

Mùng 4 Tết mẹ con đã quang gánh ra đồng. Thích ăn nên kỳ nèo chứ đang kỳ khoai xuống củ, theo lịch phải qua tết Thượng Nguyên mới dỡ. Gió đồng đặc ngọt như có thể sắn ra thành từng vẩng. Cánh đồng mới cấy, hôm tôi về còn tía hơ tía hất, phải đưa nước vào dầm cho khỏi quắt rễ, vậy mà xuân hừng có mấy ngày đã lúp búp xanh. Mẹ đi trước bỏm bẻm nhai trầu. Tôi đi sau vung vẩy tay chân, ngửa mặt hít căng mùi lúa thơm non mâng mấng, ước ao: "Lạnh thêm chút nữa thì thích". Mẹ mắng yêu: "Dày da áo dạ thế kia, lạnh nó chui vào đâu được".
Cứ tưởng gò khoai chỉ có hai mẹ con, ngờ đâu én đã đợi sẵn rồi. Ngày xưa, những mùa dỡ khoai, én nhỏ thó như cái kẹo, mang cái giỏ to tổ bố, cái cuốc cao hơn đầu người đi mót khoai. Còn tôi, những ngày đó thực sự là ngày hội. Tôi được thoả thuê chạy nhảy để bắt chuột đồng. Sau vụ mùa, những con chuột thoát khỏi sự truy đuổi của lũ trẻ chăn trâu thường chạy lên ruộng khoai tị nạn. Khoai đầy ra đấy, chuột chỉ cần cào nhẹ sườn luống là có thể ung dung, trễ nải gặm vài nhát kiểu con nhà giàu chán thịt, rồi bỏ mặc củ khoai hở nắng xanh lét màu chàm. Thế nên mới ví "béo nuỗn nuột như chuột ruộng khoai.". Sướng quá hoá nhờn. Những con chuột cứ nhởn nhơ, thí tha thí thó trước cửa hang nông choẹt đã kích thích tính trừng phạt của tôi. Khi tôi mải mê trò săn đuổi thì én lẽo đẽo bám sau mẹ tôi xấp xoải bổ cuốc tìm khoai sót. Không hiểu sao mẹ hay để sót, mà lại toàn khoai “gộc” mới lạ. Những củ khoai to như vốc tay bị lưỡi cuốc của én xả làm đôi ứ nhựa, lem nhem đất cát. Mẹ xuýt xoa nhìn những củ khoai bị sát như bị lưỡi cuốc bập vào ngón chân mình. Thế rồi mẹ bảo én: "Thôi, cháu đừng xới nữa, mất công. Đưa giỏ đây". Mẹ trút đầy giỏ khoai cho én rồi bảo: "Mang về luộc cho em ăn mau, kẻo nó khóc hết hơi!". én lí nhí "Cháu xin" rồi lệch người tha cái giỏ ra về. Tôi đứng nhìn theo cái dáng con cón, lun cun trên đồng, bỗng chán trò bắt chuột. Tôi vớ cuốc mót sau lưng mẹ. Cuốc cuốc, xới xới mỏi nhừ cả cánh tay mà tuyệt nhiên không tìm được củ khoai nào, dù là những củ khoai "bi"...
- Ngày đó cháu đâu biết bà cố tình bỏ khoai sót cho cháu - én nói trong lúc thoăn thoắt cắt dây khoai. Mẹ cười cười, ngượng nghịu.
- Khi lớn lên cháu cứ nghĩ mãi. Quê mình khốn khó thật nhưng cũng tình nghĩa thật. Giá đừng có những kẻ khốn nạn kia thì...
- Ôi dào, những đứa sống bẩn đến chó cũng chê thời nào chả có, ở đâu chẳng có. Nhưng nhân nào quả nấy. Như lão Truy đấy. Từ ngày đi tù về giống nửa người nửa ngợm, gặp ai cũng cum cúp như chó cụp đuôi. Trời Phật có mắt cả.
- Mẹ thì lúc nào cũng trông vào Trời với Phật. Trời Phật mà có mắt thì đâu đến nỗi ông con chết oan chết ức, thím Tình phải sống khổ sống nhục rồi chết tức chết tưởi - Tôi bỗng nổi cáu. Chẳng ngờ mẹ tôi không mắng lại tôi mà lại thẫn thờ cam chịu:
- Chứ tôi còn biết trông vào ai bây giờ? Trông vào con học hành tử tế, có chút chữ nghĩa thì lại bỏ làng đi. Tôi tưởng anh bằng nọ bằng kia thì thấu hiểu lẽ đời, ai dè câu “con sâu bỏ rầu nồi canh” anh cũng chưa tường.

Tôi nín bặt trước lời trách cứ. Trước mẹ, tôi vẫn chỉ là cậu học trò lớn xác. Cúi mặt xuống luống khoai, tôi miên man bới tìm kỉ niệm. Mười đầu ngón tay bật máu, xon xót đất đồng. Giật mình nghe tiếng cuốc xới lại sau lưng. Tiếng mẹ bùi ngùi trong gió đồng se sắt: Sao bỏ sót nhiều thế, con ơi?


Tây Nguyên tháng 4 năm 2002.



ĐỖ TIẾN THỤY


TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC