1.
Không biết tôi mơ hay thức? Cái đầu quay mòng mòng, nhức
tựa búa đập. Đàn vịt xiêm bơi dưới kênh đi lên vườn,
trắng muốt lông thiên nga. Bọn chúng vô sân, ùa tới bụi
chuối gãy tả tơi, xâu xé tàu lá cuối cùng vàng úa. Con
vịt đực có cái đầu vừa bự vừa dài, dang đôi cánh
vỗ loạn xạ, cất cao đầu chạy lạch bạch tới trước
mặt tôi. Cả đàn mấy chục con chạy ùa theo, há miệng
kêu “cáp, cáp”. Bọn vịt bắt đầu cong đít lên ỉa
xoèn xoẹt. Đám phân vịt hôi hám, màu đen đỏ lẫn lộn
tràn ngập cái sân nhỏ. Tôi rùng mình, mắc ói.
Bầy
vịt bắt đầu vũ điệu điên loạn. Chúng
nhảy nhót, lăn lộn dưới đất. Rồi như có hiệu lệnh,
đồng loạt quay đầu chu mỏ về phía tôi, ngáp ngáp, giãy
chết. Tôi kinh hoàng nhìn đám vịt nằm trắng toát khắp
sân. Tôi muốn bước ra kêu thằng Thắng về đào hố chôn
lấp lũ vịt. Không thể nào lội qua bãi phân vịt lênh
láng, thúi hoắc. Tôi lấy đà, nhảy qua sân. Tôi cất người
lên, nhưng không đáp đất. Tôi bay tà tà qua xác đám vịt,
qua vườn chuối chết rũ, rơi tõm xuồng hồ cá. Nước
hồ cũng một màu đen kịt, xung quanh nổi lập lờ xác cá.
Tôi sợ hãi, vùng vẫy cố leo lên bờ. Lớp bùn bên dưới
thum thủm kéo hút chân tôi xuống. Tôi la lớn. “Thắng
ơi! Cứu ba!”.
Chỉ có cậu cán bộ Môi trường đứng ngoài cửa,
người khô mỏng như cái xác ướp. Đến cái đầu cũng
dẹp lép, làm cặp mắt ếch lồi ra, lơ láo. Chiếc cặp
da đen bự tổ chảng làm lệch bên sườn. “Bác Mười
hết bịnh chưa? Nhà đi đâu hết rồi?”. Giọng nó trầm
đục và vang. Thằng nầy được giọng nói gỡ lại.
“Qua
khỏe rồi em! Kiếm qua có việc chi không?”. Chiếc cặp
da nặng nề được mở ra. Một xấp giấy tờ dày cộp
đặt xuống mặt bàn. Cái xác ướp giơ tay áo chấm mồ
hôi trán, giọng chắc nịch: “Hồ sơ kiện Công ty Vuvertes
đứng tên ông Huỳnh Văn Đực, là của bác?” Tôi nhỏm
dậy, ngồi ngay ngắn trên giường. Cái đầu đang nặng
chịch bổng nhẹ bẫng. Cái thằng Vu-vơ-tét đó hả. Nông
dân tôi vẫn kêu là Vu vơ cho dễ. “Ừa! Của qua và bà
con 4 ấp đó em. Có hồi đáp rồi hả?”. Cặp mắt ếch
lồi ra thêm, lòng đen trắng lẫn lộn. Tôi chợt nhớ đến
những cặp mắt bọn vịt xiêm chết trong giấc mơ. Giọng
nói trầm vỡ ra vì vui mừng. “Thắng lợi rồi bác Mười!
Thằng Vu Vơ chịu chi 15 tỉ đồng giúp đỡ bà con nông
dân mình”. “ Ủa! Sao lại giúp đỡ? Nó phải bồi thường
thiệt hại cho tụi tui chớ?”. “Bồi thường hay giúp
đỡ thì cũng vậy mà bác. Nó vẫn phải móc hầu bao trả
tiền cho mình. Vậy là bác nhận lại mớ đơn từ này nghen?”.
Tôi lại thấy cơ thể bã ra, nóng hầm hập. Chỉ kịp xua
tay ra hiệu từ chối, tôi nằm vật ra giường, mắt đổ
đom đóm. Tai tôi còn nghe được tiếng giấy tờ loạt soạt
chui trở lại vô chiếc cặp. Tiếng khóa cặp lạch cạch.
Tiếng người loáng thoáng: “Cho tiền tỉ không lấy. Còn
đòi gì nữa đây?”.
2.
Đường vô chùa Vạn Phước không dễ đi. Càng vô, đường
càng ghập ghềnh gấp khúc, đôi chỗ phải lách qua mấy
hòn đá to như trâu nằm. Sáng nay mình nuốt có một ổ
mì, giờ vừa đói, vừa khát. Từ Biên Hòa lên đây hơn
hai trăm cây số, may mắn hỏi đường, ai cũng tận tình
chỉ tới nơi. “Cậu lên chùa xin thuốc hay cầu phước?
Nếu xin thuốc phải gặp sư trụ trì. Ngài lấy thuốc giỏi
lắm. Còn cầu phước thì gặp sư cả cũng được”.
Sư
thầy trụ trì khó đoán tuổi. Da mặt hồng
hào, râu tóc trắng như tiên ông. Áo dài nâu che kín đám
da thịt trần tục, bên dưới lộ hai bàn chân đất. Sư
thầy bước đi, chân trần thong thả đạp lên lối mòn
lợn cợn đá sỏi. “Thân sinh con bịnh sao?”. Mình hấp
tấp kể lại. Rằng từ mười năm nay, dòng sông quê bị
chết dần. Màu nước từ xanh lục chuyển sang đen nhờ,
rồi đen kịt. Ba con lặn ngụp dưới dòng nước ấy để
cứu những lồng cá bè. Dòng sông đen ấy chảy vô con kênh,
lan tràn qua ruộng rau, ao cá. Bầy vịt xiêm nhà con đang
lớn thuôi thuổi, chúng mò mẫm tìm cua tép dưới đồng,
rồi về nhà lăn ra chết. Cha con tiếc, đem làm thịt nấu
ăn. Má con đi cắt lúa giữa trưa nắng bị cảm chết. Không
biết có phải bà hít thở nhiều quá thứ hơi nước hôi
xì, cay cay ấy không? Nhưng giờ cha con bịnh nặng lắm.
Thân thể ông khô đi, mà cái bụng lại chướng lên, hơi
thở khó khăn, không chịu ăn uống. Con nghe tiếng thầy
nhẹ tay hốt thuốc nên lặn lội tìm tới chùa. Mong cửa
Phật rộng mở, cứu nhân độ thế.
Sư
thầy nghe kể bịnh xong, tay lung túng lần tràng hạt. “Căn
thế nặng lắm con à. Thân sinh con bịnh trọng thân xác
mà còn bịnh trầm uất trong tâm. Cả hai thứ lửa nầy
cùng đốt cháy lục phủ ngũ tạng. Phải dập tắt một
thứ đi, mới hi vọng cứu người”. “Bạch Thầy! Nếu
bây giờ dập bớt một thứ lửa trong người ba con. Ổng
sống thọ được bao năm?”. “Sanh tử hữu mệnh. Thầy
không nói trước được điều gì. Mấy thang thuốc nầy,
đem về sắc cho ba con uống hàng ngày thay nước. Bịnh thuyên
chuyển tới đâu, điện thoại báo cho ta biết. Đây là
số điện thoại của nhà chùa”.
3.
Tiếng
máy lạnh rù rù tựa bầy ong dai dẳng bám trên
đầu. Ta chán những cuộc họp vô bổ, toàn báo cáo
màu hồng. Năm nay thành tích tăng mấy phần trăm so với
cùng kỳ năm ngoái, khuyết điểm giảm mấy phần trăm
so với cùng kỳ…Có lẽ tới đây phải kiến nghị thành
lập một đội chuyên làm báo cáo. Họp sơ kết, tổng kết,
đại hội nhiệm kỳ…cứ giao cho đội nầy số liệu của,
rồi tự nó vẽ rồng vẽ phụng, lãnh đạo đem đọc là
xong.
Ai
bảo làm lãnh đạo là sướng? Xạo bà cố! Cứ thử cho
mấy người làm lãnh đạo nửa năm, đủ thời gian để
chạy chỗ này, luồn chỗ kia, bằng mọi cách giành giật
từng chút quyền lợi cho dân, cho lính của mình thôi. Ai
không có bản lãnh, xem dám làm lãnh đạo không?
Địa
bàn của ta bây giờ việc gì quan trọng nhất? Không thể
ngồi mà lựa được. Nhưng “bó đũa chọn cột cờ”
thì phải tính tới vụ dân mình kiện thằng Vu Vơ. Cái
thằng mặt dày như thớt, trở mặt như bàn tay và thực
hiện lời hứa chậm như rùa bò. Nó ra tay giết chết mấy
dòng sông con rạch nơi nầy, mà còn làm mặt ơn nghĩa. Ta
cũng không hiểu điều kỳ diệu nào giúp nó tồn tại đến
hôm nay. Đầu tuần thằng Lộc bên Môi trường ôm chiếc
cặp to gấp hai người nó, qua báo cáo. Nó giương cặp mắt
ốc nhồi ra nhìn ta. Ta ớn lạnh, tưởng mình cũng là một
đống rác đang ô nhiễm. Bên Môi trường chọn nó làm cán
bộ pháp lý thật hay. Người nó mỏng lét, khô cong. Không
thứ vi khuẩn độc hại nào xâm nhập nổi. Trong bụng nó,
khéo không có cả đám giun sán và vi khuẩn bịnh tiêu chảy.
Vi trùng chỉ tập trung ở những kẻ bụng bự? Có lẽ thế.
“Báo cáo anh. công ty Vu vơ rất thiện chí trong việc giúp
nông dân khắc phục hậu quả. Số tiền họ đồng ý hỗ
trợ đã lên 15 tỷ đồng”. “ Nhưng dân họ không đồng
ý?”. “Dạ!”. “Ý kiến ông Hai Lâm bên Hội nông dân
thế nào?”. “Nhắc tới ông nầy…nản quá thưa anh. Ổng
nói ý dân là ý ổng”. “Tất nhiên rồi!”. “Còn ý
kiến chỉ đạo của anh sao ạ?”. Ta cũng suýt buột miệng
nói như ông Hai Lâm. Lãnh đạo cỡ mình “trên đe dưới
búa”, dưới là dân, trên là quan, khó có chính kiến được.
“Để tôi bàn với Hai Lâm đã. Bên môi trường các cậu
cũng nên tham mưu cho cấp trên điều tra tìm hiểu thật
kỹ những thiệt hại của người dân. Đừng xa dân mà
hỏng đó”. Thằng Lộc ôm chặt chiếc cặp bự trước
ngực. Nhìn ta chằm chằm, như nhìn con khỉ đột.
Ông
Hai Lâm mặt mũi bơ phờ. Con mắt đỏ quạch sau tròng kính
cận. Ta bật cười khi nhìn bộ dạng của ông cán bộ Nông
dân. “Sao! Oải quá rồi hả? Uống ly trà đi. Trà Thái
thơm lắm. Mình lâu nay ghiền trà Bắc”. “Tôi đang mất
ngủ. Quất mấy ly trà vô là đi theo ông bà luôn”. Hai
Lâm nhăn nhó thú nhận. Ta xem đồng hồ. Còn mười phút
nữa hết giờ hành chánh. Bữa nay phá lệ, ra khỏi phòng
làm việc sớm. Ta tự nhủ rằng ra khỏi phòng sớm chớ
không nghỉ việc sớm, chỉ thay đổi địa điểm mà thôi.
“Đi! Xả hơi chút”. “Đi đâu? Không phải anh kêu tôi
tới bàn công chuyện mà?”. “Ngồi riết dưới máy lạnh,
đầu óc tim gan cũng lạnh theo. Tôi với anh kiếm chỗ nào
ngồi uống chai bia coi”. Hai Lâm tỏ vẻ lúng túng. Ta vỗ
vai chả, trấn an. “Đừng có nói là sợ phải bao lãnh
đạo nghen. Bữa nay tôi mời”. “Không phải vậy! Hồi
nào tới giờ tôi toàn ngồi quán bình dân không hà…”.
“Vậy cho tôi bình dân với được không? Đi! Chạy xe honda
của ông nghen. Chớ đánh xe con đi, lộ bem hết. Vậy hén!”.
Bọn
ta chọn cái bàn ở góc sân quán, dưới gốc cây
mận già. Bếp lửa đằng trước, than đỏ rực, nổ
lép bép. Bò lụi cuốn lá lốt. Mực khô nướng. Bèo hơn
thì mấy cái bánh tráng nướng. Bia Sài gòn xanh, đỏ. Đúng
là quán bình dân. Mùi thơm thịt nướng thúc vô khứu giác,
gõ tưng tưng trong bao tử. Lần đầu tiên vô quán nhậu
ta cảm thấy đói. Khác với những phòng ăn sang trọng mát
lạnh, trắng toát. Các em tiếp viên hở hang, tươi như hoa,
với đủ các món đặc sản mà không muốn ăn mới lạ.
Nào!
Dzô! Bia chưa đủ độ mát nên còn nồng nồng. Miếng bò
lụi, mỡ còn sôi lăn tăn trên thớ thịt. Đã quá. Muốn
quên hết mọi việc. Nhưng cha Hai Lâm thì không muốn quên.
“Chắc anh muốn bàn với tôi về vụ nông dân kiện công
ty Vu Vơ?”. “Đúng! Có chắc ăn không? Sự thiệt hại
thì sờ sờ ra đó, nhưng làm thế nào có bằng chứng để
kiện nó?”. Hai Lâm lột kiếng, bỏ vô túi ngực, rồi
nhìn ta bằng đôi mắt ngầu đỏ. “Phải có bằng chứng.
chúng tôi đã nhờ luật sư. Chỉ mong các anh thuận tình,
tạo điều kiện cho nông dân theo vụ này”. Ta gật đầu.
Ta dư biết bản lãnh của nông dân. Ông bà, cha mẹ ta cũng
xuất thân từ nông dân chứ đâu. Hồi nhỏ đi học, có
bài thơ về nông dân ta còn nhớ lõm bõm.
Nông dân đã nói là làm
Đã quyết là định đã vùng là
lên
Đã lật lật dưới lên trên
Đã đánh là đổ bốn bên bạo tàn.
Ta
đọc cho Hai Lâm nghe lại. “Có đúng vậy không ông nông
dân?”. “Chắc là vậy đó anh”. Hai Lâm cúi thấp xuống,
nhỏ giọng. “Bên Vu Vơ nó bám tôi dữ lắm. Họ muốn
chúng tôi rút đơn kiện. Thay vô đó là nhiều tỉ đồng
giúp đỡ nông dân khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trường.
Một thằng bên Công ty tới gặp riêng tôi, đưa chiếc phong
bao mỏng. Nó biểu ông giám đốc bên ấy gởi tôi chút
quà. Tôi giả bộ hỏi trong đó có bao nhiêu? Nó nói năm
ngàn. Tôi giận dữ. Các anh chơi trò gì đây? Nó vội móc
tiền trong phong bao ra. Anh Hai ơi! Là năm ngàn đô la, đừng
hiểu lầm chúng tôi. Tôi giơ điện thoại di động tính
chụp hình thì nó giấu biến. Vậy là mất tang chứng”.
Hai Lâm kể xong vụ hối lộ hụt, giận dữ thở hổn hển.
Ta đưa cho ổng ly bia. “Vô đi cho hạ hỏa. Tức giận dễ
bị cao máu và hư việc. Vậy là ông có giá lắm chớ bộ”.
Hai Lâm lẩm nhẩm. “Nó còn bỏ nhỏ với tôi là nó mua
hết rồi, đừng có bẻ gậy chống trời”. Ta bỗng nóng
bừng da mặt. Đồ khốn! Nó nói mua ai chớ? Bàn tay
ta vô thức đập bốp xuống mặt bàn. Chai bia ngã kềnh.
Hai Lâm liếc vội xung quanh. Không ai quan tâm tới bàn tay
đau rát của ta.
4.
Tôi
đã ngồi dậy được, đôi lúc còn mon men chống gậy
đi từ trong nhà ra sân. Vườn chuối bị úa vàng, chết
rạp đã được thay bằng mấy luống khoai lang mới trồng.
Dây lang héo úa, chưa chịu đâm mầm.
Mấy
bọc thuốc thằng Thắng lấy ở chùa về hay
quá. Nó sắc cho tôi uống ba thang mà trong người
thấy khác hẳn. Chén thuốc thơm ngọt, óng ánh màu hổ
phách. Lúc đầu tôi không muốn uống, vì thấy
nó thơm, ngọt. “Thuốc đắng dã tật”, cứ thơm
thơm, ngọt ngọt thế này làm sao khỏi bịnh? Tôi không
sợ chết. Nhưng tôi muốn sống. Tôi phải theo đuổi vụ
kiện nầy tới cùng. Tôi sợ mình nửa đường nằm xuống
thì phụ lòng bà con, anh em nông dân.
Con
chó phèn nằm trong nhà, lười biếng sủa vóng ra. Từ
ngày tôi bịnh, con phèn như vậy, không còn hung dữ như
trước. Người khách đang dắt xe máy qua tấm ván bắc ngang
rãnh nước là ông Hai Lâm.
Tôi
rất quý trọng Hai Lâm. Anh là người gắn bó, chia sẻ
với tôi từ đầu vụ kiện. Thiếu anh, không chừng nông
dân tụi tôi đã bỏ cuộc ngang chừng. “Hội nông dân
có chút quà gởi biếu anh. Mong anh chóng lành bịnh”. Tôi
cảm động, run rẩy đỡ chiếc phong bì có những đường
viền xanh đỏ. Tôi muốn hỏi anh về vụ kiện, muốn kể
cho anh việc thằng ván ép bên môi trường tới dụ dỗ
tôi như thế nào. Miệng tôi méo xệch, không tuân theo lịnh
của não bộ. Anh Hai Lâm vuốt lưng cho tôi, an ủi: “Đừng
xúc động nhiều, ảnh hưởng sức khỏe. Vụ kiện vẫn
tiếp tục. Tôi đã nhờ luật sư hướng dẫn rồi. Công
ty Vu Vơ vừa đưa ra giá 15 tỉ, nhưng không ai chịu”. “Anh
Hai…đừng bỏ…bà con…”. Tôi không thể nói rành mạch
được. Trong bụng tôi lại như có ngọn lửa thiêu đốt.
Thằng
Thắng đi làm về. Cẳng chân lấm láp những vệt bùn
đen. “Ba ăn cháo cá lóc nghen. Hên quá! Con lóc già
nầy, nó chúi sâu dưới cả thước bùn nên sót lại tới
bữa nay”. Tôi xua tay lia lịa. “Thả nó ra! Thả ra con
ơi. Nó sắp tuyệt chủng rồi. Kiếm chỗ nào sạch sẽ
cho nó sống, còn sinh con đẻ cháu…”. Thằng Thắng cự
nự: “Một mình nó làm sao sinh con? Ba mắc cười quá”.
Tôi lớn giọng, nạt: “Thả nó ra!” Tôi bị sặc, cổ
họng nghẹn lại, khó thở. Thằng Thắng cuống quýt xoa
ngực, rồi cầm chén thuốc ghé vô miệng tôi.
Tôi
trôi bồng bềnh trên cánh đồng xanh lúa con gái, trên những
khu vườn cây trái chín đỏ. Con sông quê lững
lờ cụm lục bình trôi tím sắc hoa. Vợ tôi nhẹ khua
mái chèo, áo bà ba bịn rịn mồ hôi, nụ cười lấp lóa
nắng chiều. Thằng Thắng mới hơn mười tuổi, trần nhồng
nhỗng nhảy từ trên bờ xuống sông. “Thôi cưng ơi! Tắm
vậy được rồi. Mang mớ tôm nầy vô nhà, chút má làm
cơm không ba kêu đói rồi kìa”.
Tôi
thấy vợ tôi da mặt tím ngắt, nằm thoi thóp giữa
ruộng lúa có mùi bùn thum thủm. Tôi bồng vợ tôi lên,
đặt xuống đám cỏ, hết sức hà hơi vô miệng người
mà thổi, nhưng trái tim vợ tôi đã ngưng đập. Tôi loạng
choạng đi về, ngang qua vườn thấy thằng Thắng đang đào
hố chôn bầy vịt xiêm. “Mấy con chưa chết hẳn, để
ba mần thịt ăn đỡ hả Thắng”. Nó không nói gì, cứ
cúi đầu lấp đất.
Tôi
đứng run rẩy trước sân. Thằng Thắng từ đâu đi
về, bàn chân tướp máu. “Thuốc nầy hay lắm ba. Con xin
của sư thầy chùa Vạn Phước đó”. “Thuốc gì mà
ngọt ngay. Tao không uống đâu”. Thằng ván ép cầm tập
đơn vung vẩy trước mặt tôi: “Đồ nông dân khùng! Tiền
tỉ không muốn nhận, muốn theo kiện cho tán gia bại sản
hả?”. Tôi thấy lồng ngực bị xé rách. Lửa đốt trong
đầu bừng bừng. Đầu tôi nổ tung. Tối sầm.
5.
Chưa
bao giờ mình thất vọng và cô đơn thế
này. Chỉ trong vòng hai năm, mình mất cả ba lẫn
má. Mình hối hận vô cùng. Lúc ba đi sao mình không
biết. Sao ba không kêu con hả ba? Lúc đó con đang
ở ngoài vườn, đang trồng lại đám khoai mỡ,
gần ba lắm mà. Mình ngồi gục giữa nhà, khóc. Chú Hai
Lâm và bà con lo đám tang cho ba ra sao mình cũng không rõ.
Từ lúc căn nhà đầy chật người ra vô, cho tới lúc làm
lễ cầu nguyện cho ba, đưa ba ra nơi an nghỉ cuối cùng,
mình vật vờ như xác không hồn, làm theo mọi sự chỉ
dẫn như cái máy.
6.
Một
ngày làm việc cật lực. Ta không hiểu tại sao lại có
nhiều hơi sức đến vậy. Sáng, dự hội nghị
công tác An ninh quốc phòng. Trưa, dự lễ trao tặng
nhà tình nghĩa cho đối tượng chính sách. Chiều, họp
công bố quyết định tặng danh hiệu Trường chuẩn quốc
gia. Còn hai mươi phút nữa thì hết giờ làm việc. Ta vào
phòng làm việc, ngồi ngả lưng ra ghế, nghỉ và nghĩ. Mười
bốn năm làm lãnh đạo, từ cấp phó rồi lên cấp trưởng,
đã có những gì ở xứ sở nầy mà ta chưa hiểu hết.
Đôi lúc cảm thấy mình quá thông thuộc những ngõ ngách,
quá hiểu biết những mặt người, rồi giật mình nhìn
lại như chiều nay. Ta vẫn như một kẻ nghe một tai, nhìn
một mắt.
Cạch!
Cạch! Cạch!
Vẫn
chưa hết khách. Đám khách không mời này còn kéo lằng
nhằng tới buổi tối tại tư gia. Thiệt ớn! Ta uể oải:
“Vô đi!”. Lại là cậu Lộc bên môi trường. Bộ mặt
khô choắt của nó le lói niềm vui. “Báo cáo anh! Có tin
mới từ bên công ty Vu Vơ. Sau nhiều ngày bàn thảo, phân
tích với đối tác. Chúng em đã buộc họ phải tăng số
tiền giúp đỡ dân lên 20 tỉ đồng. Đề nghị anh tác
động bên nông dân cho họ nhận số tiền này. Hiện nay
nông dân rất cần vốn để phục hồi sản xuất, chăn
nuôi. Cứ theo kiện mãi, để vuột tiền vốn của dân đi
là mình có tội”. Ta bắt đầu bực mình. “Ai bảo cậu
đó là tiền của dân?”. Thằng mặt choắt kia tỉnh khô:
“Thưa anh! Họ đồng ý giao cho dân, tức là tiền của
dân rồi ạ”. Nó lại còn lý luận với ta. Dân còn đang
ì xèo vụ kiện, đồng ý nhận hay không là do dân. Lãnh
đạo ép thế nào được. Thằng kia bảo người đứng đầu
lá đơn kiện Vu Vơ là ông Huỳnh Văn Đực vừa mới qua
đời. Ta thoáng bần thần. Ông ta chết rồi sao? “ Cậu
ghé qua Hội nông dân, nói qua với Hai Lâm một tiếng. Tôi
sẽ có ý kiến sau”.
Ta
chỉ biết cầu chúc cho mọi người đi tới đích.
Con đường chân lý kia cũng đã quá dài. Họ đi gần hết
con đường, không lẽ bây giờ dừng lại.
Trường Lưu 4/8/2010
© Tác giả giữ bản quyền.
.Cập nhật theo nguyên bản tác giả gởi từ Tây Ninh ngày 19.12.2010.
. TẢI ĐĂNG LẠI XIN VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM