Hà Tiên Trời Đất Đa Tình


Hội văn nghệ dân gian Hà Nội chúng tôi sau một năm lặng thầm sách bút, tự thưởng cho mình chuyến du lịch khám phá Tây Nam bộ, mà Hà Tiên cùng trời cuối đất làm mọi người nao nức.

Trên ô tô từ sân bay Trà Nóc (Cần Thơ) về Châu Đốc tới Hà Tiên, anh Cường với chất giọng phương Nam mềm mại, hướng chúng tôi cảm thấu Hà Tiên. Cường luôn nhắc: “Hà Tiên- Vùng đất thơ và mộng”.

Đường Châu Đốc- Hà Tiên dọc kênh đào Vĩnh Tế chín mươi cây số, gập ghềnh cát bụi, bờ kênh. Trời mênh mông. Nước mênh mông. Những cánh đồng chấp chới cánh cò cánh vạc. Những rừng đước, rừng chàm, những mái nhà đơn lẻ lẫn trong cây và nước. Xa xa thấp thoáng bóng cây thốt nốt nối biên giới Campuchia.

Phong cảnh hữu tình gợi nhớ thương những tháng ngày xa xôi, ông cha mang gươm đi mở nước.

Con đường Sài Gòn đến Cà Mau- Hà Tiên đẫm hơn ba trăm năm máu, mồ hôi, nước mắt ông bà, kể từ năm 1698 Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh Chúa Nguyễn vào kinh lược xứ Đồng Nai, để lãnh thổ Đại Việt rộng dài mảnh đất hình chữ S từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau mà đường bộ cuối cùng là đất Hà Tiên.

Chưa sử liệu nào ghi người Việt đến Đồng Nai từ bao giờ. Tuy nhiên không thể sớm hơn năm 1472, vua Lê Thánh Tông chiếm Trà Bàn. Không muộn hơn đầu thế kỷ XVII, năm 1623, sở thu thuế hàng hoá Chúa Nguyễn lập ở Sài Gòn vì người Việt kinh doanh tại đây.

Sử sách ghi toàn bộ bán đảo Nam bộ, từ Bà Rịa, Rạch Giá, Cà Mau, xưa thuộc lãnh thổ vương quốc Phù Nam. Một vương quốc hùng mạnh với nên văn minh Óc Eo. Thế kỷ VI, Phù Nam bị người Chân Lạp thôn tính. Chân Lạp không khai phá bán đảo này, dân cư thưa thớt.

Sau thế kỷ VII thời Angkor, triều đình Chân Lạp chia rẽ, suy yếu, nội chiến liên miên, bên ngoài bị vương quốc Xiêm và Chămpa tấn công.

Thế kỷ XVII. Năm 1618. Preés Chey desda II vua Chân Lạp xin cầu hôn, cưới công nương Đại Việt, con Chúa Nguyễn Phúc Nguyên làm vợ, phong Hoàng hậu tước hiệu “Smodach- Pria- Khsattrey” để dựa sức mạnh quân sự Chúa Nguyễn, chống Xiêm.

Cuộc tình êm đẹp này kết giao đằm thắm Đại Việt- Chân Lạp. Cư dân hai nước tự do đi lại, sinh sống trong hoà bình, hạnh phúc. Người Việt đến Chân Lạp cày cuốc biến rừng lau sậy thành đồng lúa phì nhiêu, xóm làng trù phú, cấy lúa, trồng cây trái, buôn bán, đóng thuyền qua lại trên sông, ven biển.

Trước khi Nguyễn Hữu Cảnh vào đã có hơn bốn vạn hộ người Việt.

Với sự xuất hiện của Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh, toàn bộ đất Chân Lạp đã thuộc về Đại Việt. Cuộc đại khẩn hoang của triều Nguyễn diễn ra sôi động, hào hùng, mở nước về phương Nam.

Riêng vùng đất cuối cùng mỏng manh, giáp vịnh Xiêm do Mạc Cửu (1655- 1736) khai lập. Mạc Cửu người Lôi Châu- Quảng Đông- Trung Quốc, không thần phục nhà Thanh, lên thuyền cùng bốn trăm người Hoa rời Phúc Kiến, lưu lạc đến đây, chiêu tập dân, lập xứ Hà Tiên. Ông vừa cùng dân cuốc cày đất ruộng, rừng hoang, đầm lầy, chinh phục biển, giao thương buôn bán, vừa chống chọi với Xiêm và các nước lân cận quấy nhiễu.

Năm 1708 Mạc Cửu xin dâng đất Hà Tiên cho Chúa Nguyễn. Vùng đất mênh mông từ Hương Úc- Hà Tiên qua Rạch Giá tới Bạc Liêu- Cà Mau từ đó thuộc lãnh thổ Việt Nam. Mạc Cửu được chúa Nguyễn phong Tổng trấn Hà Tiên.

Thượng đế công bằng và linh diệu, dâng tặng đất Hà Tiên hoang vu, bùn lầy, rừng rậm một không gian “Trời Đất đa tình” các nàng Tiên ngự.

Nơi tận cùng đất Hà Tiên, biển, trời, sông, hồ, cồn cát, núi đá vôi, cánh đồng, rừng chàm, bãi đước, đảo xa, hang sâu, động đá hiện ra. Cảnh Thiên Thai kỳ thú như thực như mơ, say đắm hồn người.

Bạn Cường râm ran kể chuyện cha con Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích đã xây một vùng non nước, văn hoá Hà Tiên, đậm khối tình Hoa- Việt chung sống nghĩa tình nơi mảnh đất thần tiên này.

Người cha Mạc Cửu bất khất, kiên trung, dày công vỡ đất, đào sông, hồ, đắp núi, lấn biển, cùng cư dân, xây thành luỹ, tạo cuộc sống phồn thịnh, hải cảng buôn bán, quán xá, hiệu ăn, cá tôm, hải sản, đồ mỹ nghệ, hấp dẫn tàu buôn các nước phương Tây và Nam Á. Tầm nhìn xa, trông rộng, Mạc Cửu cuốn hút nhân tài từ Trung Hoa và các vùng miền đất Việt ở lại Hà Tiên và mở trường dạy học, khai sáng dân lành. Mạc Thiên Tích (1708- 1780) con trai ông, nhờ các thầy giỏi mà văn võ toàn tài, chữ nghĩa tinh thông, đa tình vui sống hết mình cùng trời đất Hà Tiên.

Mạc Cửu qua đời.

Người con Mạc Thiên Tích cai quản đất trời Hà Tiên. Mạc Thiên Tích nâng niu sông núi biển, đồng ruộng, con người Hà Tiên- “sơn hà xã tắc” cha gửi lại.

Mạc Thiên Tích sáng tạo văn hoá Hà Tiên, thổi hồn mình vào non nước. Ông sáng tác Hà Tiên thập vịnh (mười bài thơ Đường luật chữ Hán vịnh mười cảnh đẹp Hà Tiên) và lập tao đàn Chiêu Anh Các, thi đàn đầu tiên ra đời ở Nam bộ (1736) âm vang mãi mãi Hà Tiên trời đất đa tình.

Nhà thơ Nguyễn Khôi với biệt tài đọc thơ, bình thơ, kể chuyện, tiếp sinh khí, niềm vui, tri thức cho chúng tôi mỗi chuyến đi.

Hà Tiên trong Nguyễn Khôi là hồn thơ vịnh thập cảnh Hà Tiên. Anh đọc thơ Mạc Thiên Tích và mở cuộc thi thơ Đường luật hoạ Hà Tiên thập vịnh trên ô tô. Nhưng thú chơi thơ ngày nay, ít người dám đụng đến thơ Đường luật- tinh hoa hơn bảy trăm năm của Trung Hoa đời Đường, thành tinh hoa nhân loại.

Hà Tiên thập vịnh lung linh phong cảnh Hà Tiên:

Kim Dữ lan đào (Đảo vàng chắn gío)

Bình San điệp thuý (Núi Bình San biếc xanh)

Tiêu tự thần chung (Chuông sớm chùa Tiêu)

Giang Thành dạ cổ (Trống đêm Giang Thành)

Thạch động thôn vân (Động đá nuốt mây)

Châu Nham lạc lộ (Cò đậu Châu Nham)

Đông Hồ ấn nguyệt (Trăng in Đông Hồ)

Nam Phố trừng ba (Bãi Nam lặng sóng)

Lộc trĩ thôn cư (Xóm Mũi Nai)

Lư Khê ngư bạc (Bến chài Lư Khê)

Mạc Thiên Tích còn làm mười bài thơ Đường luật chữ Nôm hoạ Hà Tiên thập vịnh.

Cái thú ngắm trăng sao, mây nước núi non, trời bể và ngâm vịnh thơ ca của thủ lĩnh trẻ Hà Tiên lan sang nhiều người. Đêm trăng sao, hoàng hôn, bình minh, mỗi thời khắc mặt trời, nắng, mưa, gió đổi sắc màu lộng lẫy Hà Tiên, vang tiếng ngâm vịnh thơ ca của người Hà Tiên.

Mạc Thiên Tích học cha, chiêu hiền đãi sĩ, trọng dụng người tài. Nhiều nhà kiến trúc, nghệ nhân tài hoa tụ về Hà Tiên, xây dinh thự, lăng mộ, chùa, từ đường… gửi lại hậu thế di sản văn hoá Hà Tiên đậm hồn Hoa- Việt. Trần Tử Hoài từ Việt Đông- Trung Quốc tới, được Mạc Thiên Tích đãi thượng khách, lưu lại ngày đêm ngắm mây trời xướng hoạ thơ. Trần Tử Hoài giúp Mạc Thiên Tích lập thi đàn Chiêu Anh Các do Mạc Thiên Tích chủ soái.

Đêm Nguyên Tiêu. Tết Đinh Tỵ 1737. Hội tao đàn Chiêu Anh Các khai mở. “Tam thập lục anh kiệt” (36 thi nhân) các vùng tụ về tham dự.

Đêm trăng Xuân.

Đêm đầu tiên mở hội tao đàn Chiêu Anh Các đã nảy nở tình duyên bi tráng giữa Mạc Thiên Tích và nàng Phù Cừ, ám ảnh bất kỳ ai đặt chân đến Hà Tiên. Khối tình mang xuống tuyền đài- thăng hoa hồn Hà Tiên bất diệt.

Đêm Nguyên Tiêu.

Trăng rằm tháng Giêng tròn đầy trong sáng nhuộm ánh vàng Hà Tiên thập cảnh. Giữa dạ hoa đăng, chàng thư sinh nho nhã, mắt phượng, da phấn cất giọng ngâm:

Đêm Xuân mở hội tuần trăng mới

Đốt hoả đèn dưa sáng quả trăng

Áo gấm thanh vân tô điểm tích

Lòng son đơn quế giãi cung Hằng

Đây Chiêu Anh Các lời châu ngọc

Kìa Quảng Hằng cung rạng tuyết băng

Non nước thần tiên mừng có chủ

Cỏ nhàn mừng tỏ mặt hoa dăng.

(Thi sĩ Đông Hồ dịch)

Mạc Tiên Tích bị hấp dẫn bởi giọng ngâm trữ tình trong trẻo của chàng trai phong điệu hào hoa, buông thơ trêu ghẹo:

Bên kia sen nở nhiều hoa

Người khen hoa đẹp nõn nà hơn em

Trên bờ em đứng em xem

Mọi người sao bỗng không thèm nhìn hoa

Chàng trả lời:

Mặt ao sen nở khắp

Trông hoa lẫn bóng người

Trên bờ ai đứng ngắm

Sao chẳng thấy hoa tươi.

Mạc Thiên Tích mê đắm chàng, vời vào dinh đối đáp ngâm vịnh thơ ca.

Hoá ra chàng là Nguyễn Thị Xuân, thứ nữ của một di thần nhà Lê, khi nhà Mạc thay, ông cùng gia đình vào Hà Tiên cư ngụ. Thân gái dặm trường, sống nơi giang hồ tứ chiếng, nàng phải giả trai tránh luỵ phiền.

Vậy mà nàng không tránh nổi hệ luỵ mỹ nhân.

Mạc Thiên Tích cưới nàng làm vợ thứ, vào ở biệt dinh. Mạc Thiên Tích và nàng ngâm vịnh thơ ca khó dứt. Những cơn ghen ngấm ngầm của phu nhân vợ cả Mạc Thiên Tích như sóng dữ biển Đông.

Phu nhân Nguyễn Thị Hiếu Túc, có chí khí hơn người. Bà huy động nữ binh chống quân Chân Lạp tấn công Phượng Thành, là người có uy quyền thứ hai tại Hà Tiên sau Mạc Thiên Tích.

Một hôm, nhân lúc Mạc Thiên Tích duyệt quân tập trận trên núi, phu nhân bắt Phù Cừ về sân, úp nàng dưới cái chậu gốm lớn thường dùng hứng nước mưa pha trà, nấu rượu.

Bỗng cơn mưa nguồn gió biển ào ào ập tới. Mạc Thiên Tích trở về dinh. Ông ngạc nhiên thấy chậu lớn bị úp, vội ra lệnh lật lên hứng nước mưa. Mọi người bàng hoàng. Sợ hãi. Chậu mở ra. Nàng Phù Cừ ngạt thở đang hấp hối.

Mạc Thiên Tích hiểu sự tình. Ông cấp cứu nàng qua nguy biến.

Người đời gọi đó là “Cơn mưa giải thoát”.

Phù Cừ (1720- 1761) xin Mạc Thiên Tích xây ngôi chùa Phù Dung dưới chân núi. Nàng đóng chặt cửa tu hành và lặng lẽ ra đi, tuổi còn xuân sắc, để lại Hà Tiên trời đất đa tình một am thiêng, khói hương bay “Trời tình Bể hận”.

Một ngày.

Một đêm ở Hà Tiên.

Chúng tôi không thăm đủ Hà Tiên thập cảnh.

Nhưng hồn Hà Tiên đọng mãi trong tim.

Hà Tiên cuối năm.

Nắng dịu dàng.

Trời biển hoà vô cùng vô tận.

Đứng trên khu lăng mộ bảy đời Mạc Cửu trên núi biếc xanh, nhìn Hà Tiên trời đất đa tình, nơi ánh mặt trời cuối cùng biến đi một ngày tàn trên đất Việt (Nha Trang là nơi những tia sáng mặt trời đầu tiên xuất hiện chào ngày mới), tôi bổng nảy ý thơ.

Trời Tình Bể Hận

Ta đến nơi đây “Tiễn mặt trời” (*)

Hoàng hôn toả ánh hồng ngời ngợi

Đêm dài buông những vì sao rơi

Gió thầm thì trao lời tình tự

Gương sen thơm nước mắt Phù Cừ

Mạc Thiên Tích đa tình mang tội

Để Phù Dung sớm nở tối tàn

Anh hùng mỹ nữ ngàn thu hận.

(Mai Thục)

Hà Tiên trời đất đa tình.

Mối giao cảm Âm- Dương hát ru đâu đó. Tiếng hát Phù Cừ. Nàng đã tu luyện ở đây trên hai trăm năm và ngộ kiếp người Phiêu diêu.

Phiêu diêu

Ta đã đi tận cùng trời đất

Thấu vạn hồn vạn kiếp nhân gian

Xót xa đau phận người xiêu dạt

Thương mình bèo bọt cánh hoa trôi

Ôi! Kiếp người nổi chìm Thiên- Địa

Mà trăm năm vật vã ân tình

Có gì đâu, phù du sinh tử

Ta với mình bóng chiếc phiêu diêu.

(Mai Thục)

Hà Tiên trời đất đa tình.

Con người hoà nhập Trời Đất đa tình, sống và yêu, đa tình như Trời Đất, để bi hài kịch lẫn vào hư không, mà ánh hào quang còn ám ảnh đời sau, thành văn hoá, hồn đất, hồn người.

Du khách đến đây.

Không thể nào quên

Hà Tiên trời đất đa tình.

(*) Thơ Yên Giang

Hà Tiên- Hồ Gươm

Ngày cuối năm 2010.

__________________________________________
© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 17.12.2010.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com