Mả
mẹ mày… làm ăn như củ kít”. Cây thước thợ gõ xộc
lên gờ tường mới xây. Lớp gạch phía trên ngã bổ xuống,
vang thành tiếng động lộc cộc khô khốc. Cây thước quay
ngang qua phía đầu Tỏ. Tiếng “cốc” nhỏ, rất nhỏ
như tiếng con chim gõ kiến gõ vào cành cây khô. Tỏ xoa
xoa chỗ đau, đưa chiếc bay lên và kịp hạ xuống. Chiếc
bay hạ xuống để nghe tiếp câu chửi: “Đ. má… đầu
mày chứa toàn bùn thúi và phân trâu”. Tỏ cúi xuống mảng
tường vênh, đè chiếc bay lên phân gạch nhớp nháp vữa.
Cây thước thợ di chuyển qua phía bờ tường bên kia, nơi
toán thợ đang gác tấm lanto.
Tỏ
nhìn cây thước thợ di chuyển, nhìn dáng đi lạch bạch
của con vịt bầu, đầu chực ngã chúi về phía
trước. Chỉ cần một tích tắc thì cái bay vung lên,
nhưng Tỏ đã ghìm lại, nén cơn giận xuống bàn chân phải,
đá tung lớp gạch vừa xây, ném chiếc bay lên không, bước
thẳng.
Gió
lùa qua hai tai, nắng tháng Sáu ập xuống như lửa
từ bễ rèn phụt ra. Cả công trường xao bay,
phậm phực trong hơi nóng. Những gờ gạch xây chao lên hập
xuống như gió nâng kéo chiếc lá trên cành trôi trong lớp
không khí loãng. Đồng nước phía trước sáng trắng đến
loá mắt. Tỏ men theo con mương cụt thất thểu quay về
xóm.
Bộ
phảng ngựa kê ở đầu chái phủ lớp bụi
mỏng. Tỏ không phủi, nằm ình xuống, đầu gối lên hai
tay, mắt ngó đăm đăm vào giàn rui kèo cong vểnh, liên tưởng
đến thân phận của thằng người vêu vẹo, lồi lõm là
nó.
“Công
trường bữa nay nghỉ sao?”. “Không”. “Đau bệnh gì
à?”. “Không”. “Sao vậy?”. “Không làm nữa”. “Mẹ
cứt, không làm thì lấy gì nhét vào miệng?”. “Ăn trộm…”.
Sáu
Xường ném chiếc cuốc lăn lóc xuống nền đất, tru
lên: “Thằng mất dạy. Ăn nói với cha mẹ cứ
như ném cát vào mặt. Không đi làm thì lấy gì
ăn?”. “Nói rồi. Không làm thợ xây nữa. Mai
đi Sài Gòn tìm việc khác. Mỗi tháng gửi về năm trăm
được chưa?”. “Đúng là đồ ăn trộm, quân bất nhơn!”.
“Sao cha không ra công trường chửi vào mặt tụi ăn trộm
đó. Mà không phải ăn trộm đâu. Cướp. Chúng nó lắm
tiền nhiều thế, đi cướp của thằng dân mạt rệp đó”.
Sáu
Xường không nhìn con, lạch bạch ra giếng kéo nước rửa
đôi chân mốc cời, trong khi Tỏ vẫn nằm gối đầu trên
hai bàn tay bắt chéo vào nhau, lơ mơ nghĩ về thân phận
cong oằn của mình và ngủ thiếp trong cơn nóng hầm hập
từ mái tôn dội xuống.
Cơn
nóng kéo Tỏ chìm lút trong cơn mộng mị hãi hùng. Anh
thấy mình cầm chiếc xà beng đào sâu phần bờ ruộng nhà,
hất tung những dãy bê tông đè bên trên, đẩy ra xa thật
xa khu công trường đang thi công, giành giật từng phân vuông
đất, moi từng hốc nhỏ nối lại, cong người đẩy tới.
Những lọn cỏ nát nhão trộn lẫn chút cát, vữa, gạch
vụn như cái xác con gà bị bánh xe cán nhẹp trên mặt đường,
lầy nhầy, sền sệt… Những dề đất kết lại rồi vỡ
ra, trôi theo sức đẩy cật lực của thằng con trai tuổi
hai mươi. Người mẹ từ hướng núi bay về, tóc rũ rượi,
mặt đầy máu níu thằng con lại, giọng gào khản đặc:
Mẹ van con! Xưa chúng giết mẹ dưới dốc đá. Giờ mẹ
không muốn con chết theo mẹ. Tỏ vuột ra khỏi đôi tay
người mẹ chỉ còn những đốt xương trắng hếu rung lên.
Tỏ lao tới. Mảnh ruộng vuông vức khi xưa theo cơn giận
dữ cuồng dại bị xô nghiêng, lệch thành nhiều hình thù
kỳ dị khác nhau: khi thì như lưỡi mác, lúc bè ra mỏng
dẹt như bánh tráng, lúc như ống thổi lửa… rồi rơi
tòm xuống đáy sông. Bà mẹ ngã sấp xuống nền cát cháy
đầm đìa máu me, hai tay chấp chới trong khoảng không liếp
màu máu bầm. Tỏ hoảng hốt la lên. Mồ hôi chảy bè trên
mặt ván ngựa. Anh mở mắt chỉ kịp thấy mái rui kèo cong
vòng như chiếc võng gai sắp câu mình lên cao.
Mặt
trời nhỏ lại bằng chiếc dĩa, dính chặt lên
đỉnh núi phía tây rồi lăn từ từ xuống.Khối đỏ nhoè
nhoẹt mất hút.
-Tui
qua nhà bảy Lụa - Tỏ kéo dài giọng, bước ra
khỏi bờ sân gạch.
-Đàng
hoàng với con nhà người ta – Tiếng ông Xường
đâu đó trong gian nhà tối vọng ra, nhỏ như
tiếng thở dài – Năm tới tao qua nhà hai
Trương bàn chuyện cưới hỏi. Lo làm ăn, dành dụm tiền
là vừa.
-Xì...
- Lời phản kháng hệt đầu máy hơi nước phun ra, cố
gắng rướn tới, kéo hàng dãy toa nặng nhọc, ì ạch
lăn về phía trước.
Tỏ
bước thẳng. Bước đi nặng nề không dám ngoái nhìn
căn nhà cũ kỹ ọp ẹp. Bao nhiêu dự tính
bị chôn sâu dưới những tầng bê tông đè lên. Chỉ cần
hai mùa lúa, Tỏ sẽ mua gạch xây lại căn nhà. Một mùa
nữa sẽ dẫn bảy Lụa về hôm sớm cho cha. Vậy mà giờ
này bước ra khỏi ngõ, chệnh choạng như kẻ trốn chạy.
Trời
tối hù. Qua mấy truông tre dài hun hút, Tỏ xuôi ra phía
gò Mãng Cù. Những bụi trâm bầu nối dài chạy dọc hai
bên đường kéo bóng tối đậm hơn. Những hình thù kỳ
dị nhấp nhô phía trước, theo từng bước đi cao thấp
trên các mô đất lồi lõm trên mặt đường. Căn nhà bảy
Lụa chìm sâu bên trong vườn dừa, hắt ra chút ánh sáng
yếu ớt. Tỏ dụ dự một lúc rồi bước thẳng ra đường
đất đỏ, phía sau là căn nhà chìm khuất sau vườn dừa,
hàng trâm bầu, truông tre và căn nhà xiêu vẹo…Tỏ hiểu
rằng, nếu không đi nhanh, chỉ một thoáng chao lòng anh sẽ
chạy vào, sẽ chu môi giả tiếng chim cú và Lụa sẽ bước
ra, ngã vào đôi tay chắc khoẻ. Lụa sẽ hoá thành sợi
dây thừng cột chặt Tỏ lại. Và lại sẽ nắm chiếc bay
lên, sẽ gồng mình đẩy từng xe cát gập ghềnh cả đời
người…
Mặt
lộ thênh thang gió, thênh thang những ruộng mạ
thiệp đen bóng tối, nhấp nhô sau công trường. Chiếc túi
vải trên lưng đung đưa theo nhịp bước chân chạm vào
vùng thịt da, cơ hồ như có bàn tay Lụa đang xoa lên những
chỗ đau ê ẩm sau một ngày đội nắng trên giàn xây.
Bàn
tay Lụa xoa mãi trên lưng tới ngả tư quốc lộ,
Tỏ chuyền túi vải xuống tay trái, ghé mông lên cột số.
Trời tối đen. Xóm làng phía sau lưng là một khối đen
đậm đặc. Những hàng tre, mái tranh, ruộng đồng, rặng
trâm bầu và khu công nghiệp dính chặt vào nhau, không thể
nhìn thấy rõ ràng đâu là mái đình, đâu là cầu ao nơi
hai đứa thỉnh thoảng hẹn hò lúc đêm tối trời.
Phải
đợi khá lâu mới thấy ánh đèn nhấp nháy từ
xa. Chiếc xe khách trờ tới. Tỏ bật dậy chuyền
túi vải qua tay phải giơ lên.
-Đi
đâu? - Người phụ xe hỏi nhanh như viên bi bắn
ra khỏi tay.
-Sài
Gòn - Tỏ đáp.
-Trăm
rưởi.
-Trăm
hai.
-Chạy
- Người phụ xe hô lên như người chỉ
huy hô lính xung phong.
Tỏ
đuổi theo vừa la “trăm rưởi, trăm rư…ởi…”. Tỏ
chạy hụt hơi, vừa nhẩm tính trong đầu: tới bến vẫn
còn chín chục, đủ để sống hai ngày ở đất
Sài Gòn trước khi tìm ra công việc gì đó. Xe dừng. Tỏ
lao lên như con chim cắt. Lúc ngồi yên trong lòng xe, nước
mắt tự dưng trào ra, lăn xuống bên khoé môi mằn mặn.
Anh cảm thấy tim mình bị bóp thắt. Anh tưởng tượng người
cha già khọm sẽ hoảng hốt khi thức dậy không thấy mình
ngủ trên bộ ván ngựa, con Lụa sẽ khóc nức nở khi biết
nó chỉ còn lại một mình trong vườn dừa âm u. Mẹ anh
chết cách đây bốn năm đồng nghĩa với việc chấm dứt
sự học, bấu trên bờ ruộng giúp cha việc đồng áng.
Bốn năm trống trải đủ để Lụa chen ngang vào đời thằng
con trai bước qua tuổi dậy thì. Và Tỏ như chiếc áo tơi
móc dính trên cột. Giờ thì chiếc áo tơi bay đi, từ từ
bay đi chỉ còn trơ khấc chiếc móc tre ám bụi. Tỏ miên
man tưởng tượng anh sẽ ngã quỵ trên đường, rồi lại
gạt bỏ ý nghĩ đen tối để mơ ngày trở về làng trên
chiếc xe bóng lộn, máy nổ rì rì…Lụa ra đón ở đầu
con mương nước cắt xéo nửa làng và dân trong ấp sẽ
nhìn nó…
-Tới
bến rồi. Xuống đi cha nộ…ội - tiếng nội kéo dài ra
như tiếng kẻng hợp tác xã thuở trước, mệt
mỏi và dứt khoát.
Tỏ
đeo túi vải lên vai, ngáp tiếng dài trước khi bước xuống.
Bến nhộn nhịp. Những người chạy xe ôm ùa tới vây quanh
hỏi Tỏ đi đâu. Anh lắc đầu bước chệnh choạng giữa
đất Sài Gòn ồn ào, chen chúc và khói bụi. Bản thân anh
cũng không biết đi đâu, đến đâu. Không ai là người
quen ở xứ này. Hồi còn ở làng nghe nói có cô Thao con
gái út thầy Sáu vì chuyện tình duyên nên bỏ nhà vào đây
trên mười năm, và trước đó có mấy người vì dính líu
đến chế độ bỏ trốn đâu đó trên Tây Ninh. Đất Sài
Gòn rộng, người đông như kiến bò biết tìm đâu? Bước
chân cứ xuôi theo con đường rộng, chật cứng người,
xe; tay trái giữ chiếc túi vải, tay phải thọc sâu trong
túi quần, ấn những tờ giấy bạc cong queo nằm xẹp sát
đáy.
Tới
ngả tư kịp lúc đèn đỏ, Tỏ trôi theo
dòng người đi bộ qua bên kia đường và dừng lại
trước chiếc xe đẩy bán bánh mì. Tỏ mua một ổ. Lúc
lôi những tờ giấy bạc ra, nghe người bán bánh hô gọn
trơn: “mười ngàn” khiến nó giật thót người. Anh hiểu
rằng, đến giờ phút này trong túi chỉ còn tám chục. Tám
chục để chống chọi với việc tìm kiếm việc làm mù
mịt trước mắt trong những ngày sắp tới khiến miếng
bánh trôi qua cổ họng vừa mặn vừa chua, khiến anh nhớ
tới những miếng cơm cháy bên hông nồi, dĩa rau luộc và
xoong cá kho, nhớ tói hình ảnh người cha ngồi nhai trệu
trạo, luôn nấc cụt trong mỗi bữa cơm và những tiếng
rên nho nhỏ đêm khuya trở trời. Tỏ đang là chỗ dựa
duy nhất trong cuộc đời còn lại của ông, một ông già
trên sáu mươi, goá vợ, con cái muộn mằn… Chót bánh mì
cuối cùng trôi qua cổ làm nhói lên nỗi đau tê. Đúng mình
là thằng mất dạy, bất nhơn, bất hiếu và kịp hiểu
ra rằng, mỗi tháng không có năm trăm gửi về, cũng đồng
nghĩa với chuyện đẩy cha mình men tới vực đói khát,
đau bệnh. Cả thể xác và tinh thần ông đã suy sụp kể
từ ngày toà tuyên án ba năm tù giam vì tội bắt tay với
kẻ gian làm mất năm tấn lúa hợp tác xã. Kẻ gian ấy
toà không thể “định dạng” còn ông thì cứng họng
không mở miệng khai nổi. Ông đã nhiều lần nói: Thà mang
tiếng và chịu nhục trong ba năm hơn là phải khai ra để
tự mình bôi bẩn “lý tưởng” mà ông và cả thế hệ
thanh niên nông dân đã đổi bằng máu, nước mắt, bằng
sự sống và cái chết trong đường tơ kẽ tóc! Tỏ không
thể hiểu cái lý tưởng trừu tượng kia là cái giống
gì, vùng vằng: Tui không hiểu nổi, sao cha luôn chìa vai
rước tai hoạ cho kẻ khác. Giờ lão ta ngồi chót vót ở
huyện này, vậy mà có bao giờ lão ghé thăm cha, hỏi han
lấy một tiếng? Mày còn nhỏ chưa hiểu lẽ đời. Có những
việc biết thế nhưng không thể hé răng. Ba năm đâu là
gì, đau bệnh ai chẳng có lúc? Tỏ ít chữ, nhưng nghĩ,
chẳng lẽ tình đồng chí lại đánh đồng với chuyện
đạo đức, trái phải. Đồng chí này thà dịp thót lên
cổ, đạp lên đầu đồng chí bạn để leo lên cao. Đó
mà gọi là hy sinh với phấn đấu sao? Năm tấn lúa cha Tỏ
chưa hề biết một hột chắc lép trong đó nhưng lại biết
nhiều hơn, về mùi tù. Đó là lần duy nhất Tỏ cồn cào
ruột gan. Còn lần này lại dờn dợn bỡi nó đang tách
khỏi sự chở che, thúc nhắc của cha mình.
-Ê,
ông bạn, định đi đâu?
Tỏ
ngước lên. Đó là một người đàn ông trung niên,
nước da đồng hun, đội chiếc mũ rộng vành, miệng
ngậm tẩu thuốc, phì phèo.
-Dạ,
tới nhà bà con - Tỏ trả lời.
-Giỡn
sao cha nội. Ngó bộ dạng ông bạn biết ngay là ở
tỉnh mới lên – ông ta gỡ tẩu thuốc ra khỏi miệng,
môi nhếch lên, lướt cặp mắt bên trong chiếc kính đen,
từ đầu xuôi xuống chân rồi ngược trở lên như thể
đánh giá một trái bí, củ khoai chứ không phải là thằng
người đang đứng trước mặt ông ta – bà con đếch gì!
Ông bạn đi tìm việc làm thì đây giúp cho. Công việc nhẹ
nhàng. Giữ xe cho nhà hàng, tháng triệu rưỡi. Tháng đầu
ông bạn đóng cho tôi ba trăm. Các tháng sau, mỗi tháng hai
trăm cho tới khi nào ông bạn không thích làm nữa. Ok?
Tỏ
nhìn chăm chăm vào mặt người đàn ông, ước lượng mức
độ chân thật: Đôi môi thâm đen, hàng lông mày rậm, cặp
mắt ẩn sau lớp kính màu tránh nắng. Tất cả chưa nói
lên điều gì. Nhưng dẫu sao, tỏ nghĩ, ngồi trông xe là
công việc nhàn hạ. Nghề ngỗng chẳng có lấy chút bợn,
lại có công việc khi vừa mới chân ướt chân ráo đã
là điều may mắn, không thể đòi hỏi hơn. Và hơn hết
là có chút tiền gửi về cho cha hàng tháng trước khi đình
đậu một công việc gì đó. Tỏ gật đầu. Người đàn
ông gõ bã thuốc rớt xuống đường trước khi ngồi dạng
chân nổ máy. Tỏ leo lên, cứng ngắt như chiếc bao tải
phía sau tấm lưng to bè.
Quán
nằm trong ngõ cụt, sát bờ sông, chung quanh là
các loại cây táp nham từ rừng đưa về làm cảnh,
cành lá um tùm. Phía sau, cứ mỗi hai ba gốc cây là những
căn chòi lợp lá dừa nước. Những tấm rèm màu xanh da
trời vây quanh, tiệp với màu lá cây và sông nước trước
mặt. Đó là những gì Tỏ nhìn thấy từ bên ngoài, chưa
một lần đặt chân vào bên trong. Tỏ không được phép
đặt chân vào!
Công
việc của Tỏ là đưa thẻ và đánh số
xe cho khách, sắp xếp lại ngay ngắn thành những dãy dài,
dắt xe ra cổng trả lại khách, cúi đầu nói câu
“ chúc quí khách vui vẻ hay nói cảm ơn”. Các bữa ăn
không giờ giấc, do người phụ bếp mang ra trên chiếc khay
nhôm. Thức ăn ê hề, nhưng chắc chắn không phải nhà bếp
nấu cho Tỏ mà là thức ăn thừa của khách. Điều này
không làm anh cảm thấy khó chịu, đôi lúc còn thấy như
niềm hạnh phúc đang cúi xuống cõng mình lên vai: Tỏ mập
hơn, cao to hơn, da dẻ trở nên hồng hào mịn mượt hơn,
khi đứng trước chiếc gương soi lớn, ngay sát cổng ra
vào. Anh thấy mình khác hẳn trong bộ comple màu trắng viền
nẹp đỏ và chiếc mũ lưỡi trai trên đầu…Những lúc
vắng khách, Tỏ ngồi trên chiếc ghế nhựa ngó mong ra dòng
sông. Dòng nước đục lềnh như không hề chảy. Hàng dừa
nước bờ bên kia ken dày, che khuất những căn nhà lụp
xụp, mái rũ xuống cam phận, không dám ngước nhìn bờ
bên này. Buổi chiều, nước thuỷ triều lên, những tàu
lá dừa chúc ngọn trong dòng nước đong đưa nhè nhẹ, khiến
Tỏ có những cảm giác mơ hồ về sự nhớ nhung, thoắt
hiện thoắt biến, không rõ nét: khuôn mặt Lụa lờ mờ
bên dưới màu nước đục, và cha anh cong người gãy khúc
ở đầu chót lá. Cả hai cứ rung lên nhè nhẹ, không với
cánh tay ám đất về phía Tỏ.
Một
chút khắc khoải nhớ nhung bỗng gãy gập theo tiếng
máy xe đỗ xịch ngay trước ghế dựa, chỗ anh ngồi. Tỏ
bật dậy như quán tính chiếc lo xo bất ngờ được thả
bung. Anh mở cửa xe vừa cúi gập người chào. Những người
phụ nữ ăn mặc diêm dúa bước ra, ngước mặt nhìn lên
trời cao và bước thẳng vào bên trong. Tỏ đóng cửa xe,
dịch người qua bên làm hiệu cho xe đậu chỗ đất trống
cạnh bờ sông. Chiếc xe quay nửa vòng như làm xiếc, ghếch
mũi giữa hai thân dừa thẳng đuột, thở xọc một cái
thả một vùng khói trắng phía sau.
Tỏ
quay đi kịp lúc nghe giọng nói sau lưng: “Anh bữa nay có
vẻ thiếu lịch sự đấy nhé!”. “Xin lỗi”, Tỏ nói
và quay lại. Đó là người phụ nữ mặc chiếc robe hoa
cà. “Sao, chỉ có vậy thôi à?”. Tỏ luống cuống hệt
như mình là đứa trẻ mắc lỗi. “Anh không phải đỏ
mặt lên như thế, anh bạn trẻ và đẹp trai ạ”. Sau đó
Tỏ có cảm giác như một bên vai của người phụ nữ chạm
vào người mình. “Ngồi nói chuyện một chút, được chứ
hả?”, bà ta lại cất giọng. “Không dám, mời bà ngồi”,
Tỏ nói với giọng của người đang lên cơn sốt vừa kéo
ghế rút chiếc khăn trong túi quần lau ghế (dù trước đó
anh đã mài đũng quần lên đó rồi). Người phụ nữ đưa
tay vịn thành ghế. Tỏ đứng dựa một bên cổng, chỉ
cách một với tay. Đến lúc này anh mới hoàn hồn để
kịp quan sát: Khuôn mặt thon dài, lưỡng quyền hơi nhô
cao ửng đỏ. Hàng lông mày rậm được tỉa tót cẩn thận…Bà
ta không đẹp lắm, nhưng đầy sức sống.
-Công
việc ở đây có dễ chịu không?
-Dạ…
-Tôi
có một đề nghị: Nhiều lần qua chỗ này, tôi
thấy anh là người cẩn trọng, chu đáo. Tôi muốn chuyển
anh về văn phòng.
-Thưa,
đã hứa với anh Năm.
-Ôi
dào, ngoài mấy cái nhà hàng, tôi còn văn phòng môi
giới giao dịch địa ốc. Tôi muốn đưa anh về
chỗ đó để thay người khác đã xin nghỉ
việc. Sáng mai xe đến đón anh về làm công việc khác.
Tôi đã quyết định rồi – Nói và
bà ta nhoẻn miệng cười giống như bấc đèn dầu hôi
được vặn cao ngọn, và bước tới, không hề ngoảnh lại.
Công
việc mới của Tỏ vẫn là công việc như lúc
ở nhà hàng, chỉ khác một điều là
không có mũ lưỡi trai, bộ comple màu trắng
nẹp đỏ hai bên ống, thay vào là bộ
âu phục với chiếc cà-vạt luôn đổi màu mỗi ngày như
một quý ông. Suốt ngày anh ngồi bên trong cửa kính đón
khách. Hết việc lại chúi mũi vào tờ báo hay ngó mong ra
đường nhìn vẻ bóng lộn và diêm dúa của Sài Gòn lướt
qua như đèn kéo quân. Cho tận lúc này, hơn hai tháng rồi,
Tỏ không hiểu mình là cái giống gì giữa khung cửa kính
luôn đông nghịt người ra vào. Mà toàn những kẻ sang trọng.
Có lúc Tỏ cảm thấy mình như đống giẻ rách quấn quanh
hai cọc tre bắt chéo làm hình nhân cắm sâu giữa cánh đồng
hiu quạnh. Chân gác cổng không thể vênh mặt lên để tự
hào nhìn thiên hạ, nhưng lúc này, mỗi tháng Tỏ gửi về
gần triệu đồng chứ không phải năm trăm như đã lỡ
tuôn ra trong cơn giận dữ vô cớ trước kia. Mà cũng không
rõ cha mình có nhận được hay không? Vì mọi chuyện đều
do bà chủ ghi vào mảnh giấy, kêu thư ký mang đi. Có những
lúc nhìn thấy vẻ lúng túng, thắc thỏm của Tỏ, bà chủ
cười khẩy: “Bộ anh nghĩ tôi lừa anh sao?”. Câu nói
như gáo nước sôi dội từ đỉnh đầu nóng rát xuống
tận hạ bộ khiến khuôn mặt căng đỏ của anh càng đỏ
gấc. Bà vịn cả hai tay nắn vai anh: “Anh làm sao thế?
Thôi được, chiều nay tôi đãi anh…”
Quán
nằm sát bờ sông Đồng Nai, bao quanh là vườn bưởi
oằn trái. Hai người ngồi ở góc khuất. Ánh sáng
vừa đủ để nhìn dòng nước trôi lặng lờ,
đủ để Tỏ quan sát kỹ hơn về bà
chủ có cái gì đó vừa nhân hậu vừa dữ dằn
ở đôi mắt mà anh không thể diễn đạt bằng lời. Anh
nhìn đăm đắm như một đứa trẻ cố moi trí nhớ về
một câu nào đó trong bài học thuộc lòng đã bay mất.
“Anh quan sát tôi hơi kỹ đấy, như mấy tay phó nháy chụp
hình người mẫu vậy”. Bà chủ đột ngột lên tiếng.
“Dạ, xin lỗi bà chủ”. “Anh dẹp mẹ cái bà chủ của
anh đi. Tôi hơn tuổi anh. Gọi chị được rồi, mà nếu
như tôi lấy chồng sớm thì có thể con tôi cũng gần xấp
xỉ với anh. Nhưng rất tiếc...”. Ba chữ cuối rớt dài
xuống dòng sông mênh mông những lọn sóng lăn tăn. “Tên
tôi là Dung, Tưởng Dung chứ tên cha mẹ đặt là Lụa…”.
Bà lại tiếp tục kể vừa với tay cầm chai Courvoisier rót
vào chiếc cốc thuỷ tinh, uống cạn sạch, không hề nhận
ra cái giật thót người của Tỏ. “Tôi cũng dân miền
Trung như anh, cũng được học hành tử tế cho đến khi
cha tôi bị bắt, bị truy tố về tội buôn lậu, trốn thuế.
Những người liên quan phủi tay cái rột, bởi họ có thân
có thế.Còn cha tôi thì không, chỉ một thân một mình.
Vậy là tôi phải hoá thành nàng Kiều để chuộc cha ra
khỏi vòng lao lý…” Lụa lại rót cốc đầy, lại uống,
nói tiếp: “Mẹ đời! Anh biết sao không? Một đứa con
gái đang tuổi hai mươi phải nằm ngửa chịu đến bốn
thằng đàn ông cỡ cha chú mình cỡi lên. Chúng là những
tên được ấn vào tay những quyển luật dày cộm để
bảo vệ công lý. Chúng nhân danh công lý để buộc tội
người này hay tha bổng người khác. Chúng như bà phù thủy,
biến có thành không, biến không thành có! Chúng từng kết
án chung thân cho tội phạm hiếp dâm. Vậy mà chúng đã
lật ngửa tôi ra trong một nhà nghỉ nào đó, ở một xứ
nào đó sau khi chuốc cho tôi đến say bí tỉ. Mùi bia rượu,
mùi thuốc lá tanh lợm khiến đầu óc tôi tỉnh rụi, không
khóc, không đau đớn, mở trừng mắt nhìn bọn chúng, những
tên đĩ bợm còn sót lại trên thế gian này và tưởng tượng
đến cán chày giã vào chiếc cối nhỏ kêu lọc cọc. Cái
tiếng đanh gọn, khô khốc đến là buồn cười. Buồn cười
và buồn nôn… Vậy đấy. Tôi đã trả nợ công lý bằng
cách đấy. Cha tôi trắng án! Buồn cười chưa?”. Lụa
lại rót đầy hai cốc, nâng lên: “Nào, mời anh. Uống
để chia sẻ niềm hạnh phúc đắng cay với tôi chứ! Chỉ
có anh là người đầu tiên và cuối cùng tôi kể chuyện
đời mình”. Tỏ chạm cốc, nốc cạn, lòng cay xè. Lụa
lôi chiếc khăn giấy trong ví ra nhưng cầm riết trong lòng
tay, khuôn mặt đanh khô, mắt nhìn ra dòng sông như ước
đoán khoảng cách. Và nhảy ùm xuống. Chuyện đó không
xảy ra. Chỉ nghe tiếng rượu chảy lóc róc vào ly. Tiếng
rượu chảy nghe như máu từ miệng Tưởng Dung phọt ra.
Lại rót, lại uống. Những dĩa thức ăn đầy nguyên, không
ai buồn động đũa. Mặt sông duềnh lên những lọn sóng
nhỏ, hấp háy dưới quầng sáng từ quán hắt ra, những
lọn sóng chới với, đuối hụt nhấp nhô như cái xác trương
sình, trôi sông. Lụa ném chiếc khăn giấy lên bàn: “Cuộc
đời quá là đơn giản. Mọi chuyện đơn giản đến trần
trụi, chẳng có gì là ghê gớm. Vậy mà tại sao mấy lão
triết gia hết đi tìm chân lý này đến chủ nghĩa nọ làm
gì cho nhọc xác? Anh nghe tôi nói rồi đó. Bốn thằng cha
nhân danh công lý trên tấm thân trần truồng của tôi đến
nỗi nữ thần Dike và Aphrodite (1) xoắn tay lại, cười nức nở,
hứa hẹn sẽ bay xuống trần gian hiệu đính chuyện thần
thoại của mình. Lạ chưa?”.
Tỏ
thấy, dưới ánh sáng nhập nhoạng, hình như có
giọt nước mắt nhỏ, rất nhỏ ngập ngừng nơi khoé
mắt Lụa, rồi bất ngờ thụt vô như kẻ
chạy trốn. Trong khoảnh khắc ấy, Lụa không còn hình
dạng của bà chủ sang trọng, hoá thành người đàn bà
đau khổ nhất trong những người đàn bà đã lướt qua
cuộc đời khốn khổ của một thằng con trai nông thôn.
Tỏ có cảm giác chị đang rất gần gũi với anh, không
phải ở cái tên trùng với tên người con gái anh yêu thương,
mà ở chỗ chị đã chọn anh như một kẻ tin cậy
để giải bày những ưu uất đời mình. Tỏ tưởng tượng
cảnh nhục nhằn của chị bên dưới những khối thịt
nhớp nháp khiến đầu óc anh ngật ngừ váng vất. Lần
đầu tiên anh uống nhiều rượu, nghe chuyện như đang nhìn
bầu trời sụp dần từng mảng. Anh lừ đừ nhìn Lụa.
Lụa cũng lừ đừ nhìn anh. Hai người nhìn nhau hồi lâu.
Bỗng Lụa cười phá lên, tiếng cười như mũi kim nhọn
xoáy vào vùng da non khiến Tỏ có cảm giác như như ly chén
trên bàn cũng nhảy tưng lên, rúng động. “ Từ đó tôi
khám phá ra rằng, chính chỗ đó, chính chỗ vùng cấm đó
mà các nhà đạo đức giảo hoạt luôn giả bộ che mắt,
luôn là thứ vũ khí lợi hại làm cho các lãnh chúa, vương
hầu khanh tướng… phải quỳ mọp. Tôi đã sử dụng nó
để tạo nên cơ ngơi nhớp nhúa này, để nhìn chúng ghen
tuông lồng lộn vít đầu nhau xuống bùn đen. Lũ người
bẩn thỉu và đĩ bợm kia cứ thì thụt moi hết két quỹ
này đến dự án nọ để cống nạp cho tôi trước khi chúng
có thể (được phép) lần bàn tay dơ bẩn từ ngực xuống
háng tôi, rồi lộn ngược trở lên. Anh cảm thấy quá bẩn
thỉu phải không? Nhưng lũ chúng thấy như một ân sủng
từ bàn tay chúa trao cho. Chúng là những quan chức mẫn cán
và kiên định ở xứ này đấy. Chúng bỏ lại đằng sau
bầy vợ con nhếch nhác để quỳ mọp dưới chân tôi, úp
mặt lên háng tôi như những tín đồ xác tín về đức
tin đang rầm rì cầu nguyện một cách trân tráo. Eo ơi,
toàn lũ đĩ bợm, rặc một lũ đầu nhỏ mỏ to… Tôi có
tất cả và không có gì hết. Thật tởm lợm!”. Lụa ngã
người ra thành ghế dựa, nói như kẻ tội đồ thánh thiện
bước nhẹ tênh trong cõi mộng du: “Cuối tháng tôi sẽ
đưa anh về cái làng quê nơi cha mẹ tôi sinh ra tôi và công
lý đã vùi dập đời tôi. Nghe nói giờ nó không thành làng
quê, cũng không phải bộ mặt thị thành; ở đó có bầy
người ngơ ngác bị lùa ra khỏi mảnh đất của mình…
Thời chiến tranh hai bên đã quần thảo nhau nát nhão như
nồi cám heo, nay thì sự nhếch nhác đó cũng không kém gì”.
Tỏ buộc miệng: “Chị định làm gì?”. Lụa ngửa người
cười lớn: “Đến giờ mới nghe anh mở miệng! Làm gì
à? Những căn nhà lá xiêu vẹo tôi “đốt” hết, xây
lại cho họ bằng gạch ngói, coi như tôi trả nợ xóm làng,
vậy thôi, không có gì ghê gớm. Tôi không có ý định chuộc
lại lỗi lầm lần nữa, bởi đơn giản tôi không mắc
lỗi nào cả, kể cả vấn đề tiết trinh và đạo đức.
Cái của phù du kia là do những thằng ngu mang đến cho tôi
sau những đêm truy hoan không chút cảm giác, mùi mẽ gì.
Tôi chỉ như chiếc gối nhồi bông cho chúng cỡi lên, vậy
thôi. Trinh tiết đáng lẽ để dành hiến dâng cho người
mình yêu nhất thì đã bị những kẻ nhân danh công lý cưỡng
đoạt rồi, còn lại sau đó nó như một hang cua: hết người
này thò tay vào bắt, lại đến lượt người khác. Anh có
hình dung ra hình tượng người nhà quê bắt cua đồng không?
Mà anh đã từng bắt cua đồng lần nào chưa? Lụa dừng
lại, khuôn mặt đanh khô rồi bất ngờ dãn ra. Chị thở
sượt: Tôi không sử dụng cho riêng mình, tôi chia sớt cái
phù du ấy cho nhiều người. Ban đầu là hôi thối, nhơ
nhuốc nhưng khi trôi qua chiếc “máy giặt” trong làm ăn
nó trở thành thơm tho. Nhiều tay vênh mặt về chuyện này,
còn tôi thì cúi gằm đau đớn để trả nợ xóm làng xơ
xác của tôi. Vậy đó, có gì phải bận tâm, phải không?”.
Không
khí nặng nề đến khó thở. Tỏ muốn
nói một điều gì đó với chị ta, nhưng không
đủ sức, không đủ chữ nghĩa và sự hiểu
biết để gải bày. Anh cục cựa trên ghế như
có những con kiến nhỏ bò vào đũng quần,
lói nhói. Chai rượu đã cạn. Lụa kêu bồi bàn mang chai
khác. Tỏ ngăn lại, kêu nho nhỏ trong cổ họng như người
nghẹt mũi: “Thôi, đủ rồi chị”. “Anh sợ à”. “Không”.
“Vậy thì sao lại ngăn cản niềm vui của tôi?”. “Không
phải chuyện vui, nghe buồn muốn khóc”. “Anh bạn đẹp
trai của tôi, anh uỷ mị thái quá đấy”. Im lặng hồi
lâu. “Anh đã biết mùi đàn bà chưa hả?”. “Trời, chị!”
Tỏ kêu lên run rẩy. “Việc gì anh phải kêu phải run lên
như thế kia? Tối nay tôi sẽ cho anh biết mùi đàn bà là
thế nào. Tôi thấy nhiều thằng nhóc cứ trố mắt nhìn
xoáy vào những vùng cong trũng sau lằn vải các cô gái như
muốn lột trần ra. Còn anh thì nhìn tôi một cách ơ hờ?
Tôi đã kể cho anh nghe về cuộc đời tôi. Tôi là một
con điếm, một con điếm trong sạch, tôi không phải là
một trinh nữ hiến tế cho các đẳng thần nữa rồi. Vậy
thì việc gì anh phải hoảng hốt?”. “Không, chị vừa
là chị, là bà chủ đã vói tay cứu em. Cái đó người
ta gọi là…”. “Ý anh nói là loạn luân chứ gì? Nhảm
nhí”. “Tôi van chị”. Tỏ chắp hai tay lại trước ngực.
“Anh nhảm nhí mà tôi cũng nhảm nhí nữa. Có lẽ mình
nên dừng để đầu óc tỉnh táo, để cảnh sát không phát
hiện một người say lái xe trên đường, phải không?”.
Lụa
lái xe thật chậm, không mở miệng nói câu nào suốt
dọc đường về. Tỏ liếc ngang thấy môi chị
mím lại, mắt đăm đăm nhìn về phía trước như
thể chị đang nhìn vào vòng ngắm của tấm bia chuẩn bị
bóp cò. Vẻ căng thẳng ấy chuyền sang Tỏ khiến anh tỉnh
hẳn. Trong hai người, Lụa và anh ai sẽ là lát bánh mì
nằm gọn trong chiếc dĩa trên bàn ăn? Lúc ngồi ở quán
chị ta nói vật hiến tế? Vật hiến tế là gì nhỉ, anh
không thể nghĩ ra, không hiểu được; mơ hồ rằng đó
là sự mất lửng giữa vinh quang và cay đắng, niền vui
và nỗi thống khổ trộn lẫn vào nhau?
Anh
cảm thấy lòng mình thật trống trải. Trống trải
đến vô cùng vô tận.
(Trà
Vinh, tháng 7.2008)
_____________
(1)
Dike, Aphrodite: nữ thần công lý, nữ thần sắc
đẹp và tình dục
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi ngày 04.12.2010.
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.
|