ÂM VANG YÊN THẾ









Cơn gió lạnh đầu Đông 2010 dẫn chúng tôi về rừng thiêng Yên Thế miền thượng du Bắc Giang.

Vang gió chiều tiếng hát ngân nga trong màn sương,:

“ Nơi đây năm xưa Đề Thám đã phất ngọn cờ hồng. Khắp nơi nô nức kéo nhau về tụ nghĩa gìn giữ núi sông. Trên quê hương này giờ đây đã bao đổi thay. Bao nhiêu đồi hoang giờ xanh ngát những nương chè. Quê ta lại sáng tiếng vang gà đồi. Yên Thế là một bài ca âm vang …”.

(Bài ca Yên Thế- Nhạc và lời: Thân Minh Quế)

Chiều Yên Thế xanh cây rừng, núi đồi, những mảnh ruộng bậc thang vương hương lúa. Những mái ngói nâu hồng nổi chìm giữa những ngọn đồi trùng điệp. Tiếng đại ngàn âm vọng mông lung.

Xa xa chập chùng núi xanh mờ mây phủ là chiến khu Việt Bắc chằng chịt đường mòn cheo leo giá lạnh: “Rét Thái Nguyên, rét về Yên Thế” còn in dấu cha tôi và đồng đội, máu đổ thắm đá, đất, cây rừng suốt chín năm chống thực dân Pháp.

Anh linh cha mẹ thao thức, bồn chồn gọi tôi về Yên Thế “Đi tìm vườn cam Bố Hạ” (Bút ký Mai Thục), tìm dáng mẹ hiền thân cò lặn lội bên xóm Đồi Lánh gần bờ sông Sỏi, vun xới vườn cam Bố Hạ quả chín ngọt lành, nuôi bốn chị em tôi, cho chồng đi chiến dịch. Tìm dấu chân cô bé hơn bốn tuổi là tôi lon ton chạy lên chợ Bố Hạ “mua chịu” từng lon sữa bò cho em khi mẹ ốm. Cậu sinh năm 1954 đặt tên Mai Hoà Bình, là tiếng thở nhẹ của bố mẹ tôi. Mừng chiến tranh chấm dứt. Ai ngờ, hai mươi năm sau, em trai tôi nằm lại Trường Sơn cháy lửa, trẻ mãi tuổi hai mươi. Giờ đây, ngẫm hai từ “mua chịu” tôi xáo xác cồn cào trong dạ. Cảnh chinh phụ lâm cùng khốn, tình người đùm bọc, sẻ chia giữa chợ, đằm sâu hồn thơ bé.

Chiều Yên Thế.

Mây trời nằng nặng.

Ngọn gió mồ côi hát nôn nao.

Làm sao tìm được an toàn khu, nơi có trạm quân y cha tôi băng bó vết thương cho tù binh Pháp, chìm giữa bao la rừng điệp trùng Việt Bắc?

Làm sao tìm được mảnh vườn cam heo hắt mái tranh hiền tình mẹ chở che tôi?

Làm sao tìm được cậu Mai Hoà Bình lớn lên trong từng giọt sữa chắt chiu của mẹ và tình người Yên Thế?

Làm sao tìm được những vườn cam Bố Hạ mà người Pháp từng đam mê làm đồn điền cam Bố Hạ trĩu quả đưa về Paris, nay biến mất?

Chỉ còn linh giác rực đỏ tình Mẹ Cha Em da diết hồn tôi. Tâm linh mẹ cha nâng tôi về Yên Thế, tựa vai vào “núi Thái Sơn”, uống “nước trong nguồn”, nghe “Tiếng sáo sắt mạnh như gió thần với những tiếng tiêu du dương tuyệt diệu” buổi hoàng hôn.

Nhiều lần lang thang về Yên Thế, tôi im lặng chìm trong “Bóng trăng Phồn Xương” réo rắt mảnh trăng tà, ướp hồn mình vào “Âm vang Yên Thế”.

“Âm vang Yên Thế” khắc khoải trầm tích hồn tôi thành những dòng chữ miên man nắng rừng, mưa núi, sương đêm, gió rét tê lòng, bão giông, sấm sét và Tình Mẹ, Tình Cha, Tình Đất Trời- Con Người Yên Thế, đã nuôi dưỡng tôi thủơ ấu thơ.

I. Đề Thám “Không dời phong tục”

Mặt trời ẩn chìm sau mây ngàn gió núi gợi những địa danh âm vang Lý, Trần, Lê, Mạc: đất Lạng Châu, phủ Lạng Giang, Nhã Nam. Những ngọn đồi Lánh, đồi Hồng, những con sông Sỏi, sông Mỏ Trạng, những con suối Gồ, suối Đá, suối Cầu Đen, suối Thia, suối Đồng Đảng, suối Trám, suối Vàng. Linh thiêng hồn những tộc người từng sống và chết ở đây: Kinh, Hoa, Sán Dìu, Tày Nùng, Dao, Cao Lan. Hoành tráng tên tuổi những vị anh hùng “Lương Sơn Bạc”: Cai Kinh, Đề Nắm, Hoàng Hoa Thám. Những cuộc nổi dậy của Dương Văn Cán chống nhà Lê, Nguyễn Hữu Cầu (1741- 1751), Cai Vàng (1862- 1864), Ngô Côn Lý Dương Tài chống phỉ Tầu (1869- 1879)…

Cuộc khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX) chống thực dân Pháp ba mươi năm, để lại một di sản văn hoá Yên Thế với lễ hội và phong tục dân gian toả hồn thiêng anh hùng hảo hán.

Chiều Yên Thế mây trời bảng lảng, chúng tôi thành kính thắp nén tâm nhang trong ngôi Đền Thề của tướng lĩnh, nghĩa quân Hoàng Hoa Thám uy nghi trên ngọn đồi thị trấn Cầu Gồ. Khói hương lung linh hiển hiện hình bóng người thủ lĩnh kiên cường, mưu lược, thông diệu, bất khuất, quả cảm, gương mặt quắc thước, râu hùm, hàm én, mày ngài, đôi mắt rực sáng, sang sảng lời thề cùng quân sĩ trước giờ ra trận:

“Tôi ở đất nước tôi, đất của tổ tiên tôi. Chúng tôi đây, những thần dân trung thành của nước Việt. Chúng tôi vô cùng thiết tha với phong tục trong nước, không bao giờ chịu dời bỏ phong tục đó, cho dù đứng trước cái chết, vì chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào Trời Đất, thần linh phù hộ cho chúng tôi làm tròn sứ mệnh”.

(Thư Đề Thám gửi quân Pháp trong trận đánh Hố Chuối ngày 22- 12- 1890).

Thế hệ cháu con Đề Thám trong huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện Yên Thế hôm nay đầy sức trẻ, được linh khí Nhã Nam nuôi dưỡng, tràn đầy năng lượng tâm linh, dẫn chúng tôi tìm về di sản văn hoá Yên Thế xao xuyến anh linh thủ lĩnh anh hùng hảo hán.

Giọng điệu hào sảng, các anh kể chuyện Hoàng Hoa Thám không bao giờ dứt.

Hoàng Hoa Thám còn gọi là Đề Thám, sinh trong gia đình nhà Nho có truyền thống thượng võ, làng Dị Chế huyện Tiên Lữ- Hưng Yên. Cả cha mẹ đều tham gia khởi nghĩa chống triều đình Huế, nên bị nhà Nguyễn sát hại. Cậu Thám phải mang họ Đoàn- tên Nghĩa, được người chú nuôi dưỡng đem trốn lên Ngọc Châu phủ Yên Thế, cải họ Hoàng. Ông đã tham gia khởi nghĩa Cai Kinh và về với khởi nghĩa Yên Thế của Đề Nắm 1888. Đề Nắm chết 1892. Đề Thám kiên định tổ chức lại nghĩa quân, tiếp tục khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám.

Khởi nghĩa Yên Thế chống thực dân Pháp lớn nhất, bền bỉ nhất của người Việt Nam. Tên tuổi các nghĩa binh Yên Thế tạc núi sông: Đề Nắm, Hoàng Hoa Thám, Bà Ba Cẩn, Cả Dinh, Cả Trọng.

Nghiên cứu sách Di sản văn hoá Yên Thế- Lễ hội dân gian (NXB Thế Giới- 2010) tôi như được truyền sóng linh thiêng về tâm hồn, nhân cách lớn của Hoàng Hoa Thám qua những giá trị văn hoá truyền thống Yên Thế gắn mật thiết với cuộc khởi nghĩa Yên Thế- Hoàng Hoa Thám (1884- 1913).

Thủ lĩnh hảo hán của núi rừng Yên Thế trung thành với lời thề “Không bao giờ dời bỏ phong tục, cho dù đứng trước cái chết”. Ông cùng nhân dân chiến đấu để bảo vệ phong tục. Phong tục chính là cuộc sống của con người trên vùng đất mà họ sinh sống. Con người dời bỏ phong tục, có nghĩa là đánh mất linh hồn mình. Không ai có thể sống hẳn hoi, tử tế khi linh hồn bị mất. Trần gian, không ai có thể sống với cái xác không hồn.

Đề Thám đã cùng nghĩa quân chiến đấu bảo vệ phong tục. Bảo vệ phong tục là bảo vệ linh hồn. Mục đích khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám gần gũi con người như vậy, nên dân đã theo ông chống thực dân Pháp quyết liệt suốt ba mươi năm đằng đẵng.

Khi lập đồn Phồn Xương tại xã Phồn Xương, Đề Thám giúp tiền của công sức tu tạo chùa Lèo và coi như trạm liên lạc tiền tiêu. Truyền thuyết kể trước sự lùng bắt ráo riết của quân Pháp, nhà sư chùa Lèo đã lấy cái chết của mình cứu Đề Thám.

Đền Thề nằm ở trung tâm di tích Phồn Xương, đối diện với đồn Phồn Xương, đại bản doanh của nghĩa quân Yên Thế. Đền ban đầu làm bằng tranh tre, sau Đề Thám dựng đền bằng khung lim, lợp ngói, gồm ba gian tiền đường, hai dĩ hậu cung và thường xuyên tổ chức hội thề, rước, tế lễ tại đây.

Đề Thám tự mình thực hành tâm linh trong ứng xử với nghĩa quân và dân Yên Thế.

Lễ cầu may rằm tháng Giêng là dịp Đề Thám thăm viếng các thân nhân, tử sĩ của nghĩa quân. Trong ngày hội có lễ đền, thi bắn cung nỏ, bắn súng, đua ngựa, vật, đánh cờ, thi nấu cỗ…

Rằm tháng bảy Đề Thám mời các tăng ni làm lễ cầu siêu cho các tử sĩ long trọng. Cùng với lễ cầu siêu là lễ phóng ngư, thả điểu bay bổng khát vọng tự do. Chùa Phồn Xương được dựng cạnh đồn Phồn Xương với đền âm hồn, đình Phồn Xương, tạo một không gian văn hoá tâm linh đình, đền chùa, liên hoàn, tạo thế phong thuỷ hài hoà linh thiêng và thoả mãn nhu cầu tâm linh của chính Đề Thám và binh sĩ, dân chúng.

Lễ tế cờ tháng Tám. Đề Thám đọc văn tế cờ, khích lệ quân sĩ đánh thực dân, phong kiến cho đất nước thanh bình.

Đề Thám chăm lo lễ hội Phồn Xương, vốn là ngày hội cổ truyền cầu mùa, để thu nhân tài, an dân và bảo tồn, tôn vinh văn hoá dân tộc trước sự xâm lấn của văn hoá phương Tây.

Dân Yên Thế rạo rực lôi cuốn dân các tỉnh đồng bằng Bắc bộ tham dự lễ hội. Các sản phẩm nông nghiệp được chế biến làm cỗ dâng cúng thần linh: bánh chưng, bánh dày, bánh rán, xôi, gà, lợn quay. Lễ thánh thần xong, lễ vật chia cho người các thôn hưởng lộc thánh, chở ước vọng làm ăn no đủ, khoẻ mạnh, yên vui, con đàn cháu đống, gia súc nhiều, mùa màng bội thu đến từng nhà, từng người.

Trước sự truy lùng, tàn sát dã man của giặc Pháp, Đề Thám buộc phải hoà hoãn với Pháp hai lần. Trong không khí hoà hoãn lần hai, Hoàng Hoa Thám chăm lo phong tục, tổ chức lễ hội Phồn Xương trên đất thôn Trung, xóm chợ Gồ, đồn Gồ tưng bừng, náo nhiệt, lan toả đông đảo dân các làng bên, cho người các dân tộc được hưởng thụ văn hoá phong tục, nuôi cấy sức sống sâu bền. Dân làng bản hứng khởi vui sống, làm ra nhiều của cải, nông sản nuôi nghĩa quân, tin yêu Đề Thám, dấn thân đánh giặc.

Đề Thám đã xây nên một “vương quốc” riêng huyền bí và kỳ vĩ như núi rừng Yên Thế, làm thực dân Pháp điêu đứng. “Âm vang Yên Thế” truyền khắp nước Việt. Phan Bội Châu hai lần vượt vạn dặm trùng khơi lên Yên Thế gặp Hoàng Hoa Thám.

Ngạc nhiên trước “vương quốc” người hùng, cụ Phan viết: “Nhân dân tới ngày càng nhiều, những người khổ về chính quyền bạo ngược đều lấy doanh trại của tướng quân làm nơi trốn tránh. Vì thế người rất đông đúc, tiếng gà, tiếng cho rộn vang như cảnh tân đào nguyên của những bậc lánh đời vậy. Năm nọ hai lần tôi tới đền, xem khắp xung quanh đền, trâu cày từng đội, chim rừng quyện người, đám trẻ con nhởn nhơ, tiếng chày rậm rịch có cái vẻ vui của những ngày đình đám hội hè mà không hề có tiếng thở than về chính quyền bạo ngược và mãnh hổ hại người. Ở giữa cái nơi gió mưa tanh tưởi mà tạo lập được một thế giới riêng biệt thực là một nỗ lực riêng của tướng quân”.

Thiêng liêng hơn, Đề Thám để lại cho chúng ta một di sản văn hoá lễ hội Yên Thế vang hồn thiêng núi rừng Yên Thế, hào sảng khí phách anh hùng hảo hán. Không nơi nào có được.

Một trăm năm sau (1884- 1984).

Ánh sáng tâm linh hồi hướng lòng người về anh hùng Yên Thế- Hoàng Hoa Thám. Người Yên Thế phục hiện lại đồn Phồn Xương, trung tâm căn cứ địa cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Xây dựng quảng trường và tượng đài Hoàng Hoa Thám cao hơn mười mét. Vị thủ lĩnh của rừng thiêng đứng trong tư thế như đang hùng hồn bước đi, một tay chống vào chuôi kiếm, áo dài, chân đi giày cỏ, đầu quấn khăn, khuôn mặt tuấn tú, nghiêm nghị, bừng sáng.

Lễ hội Phồn Xương mở lại, vào ngày 16 tháng ba lịch trăng, tưởng niệm Hoàng Hoa Thám. Sau lễ dâng hương, dân Yên Thế cùng du khách thập phương tràn vào không gian lễ hội, rộn tiếng trống, tiếng chiêng với các trò chơi dân gian náo nhiệt: đấu vật, kéo co, chạy trá hình, leo cầu kiều, bịt mắt, đập niêu, nhảy dây, chơi quay, chơi ô ăn quan, đá bóng, kéo co, đá cầu, thi chạy… Những trò chơi sôi nổi kéo nhiều người vào cuộc, vui sảng khoái.

Các cuộc thi thổi cơm, nấu cỗ, ném còn, đẩy gậy, bắn nỏ, võ cổ truyền, đấu cờ người, chọi gà… kéo con người lại gần nhau, hoà nhịp thở, niềm vui, tâm tình, khoẻ mạnh cộng cảm đám đông, dồn tụ sức sống con người giữa trời đất bao la.

Lễ hội Yên Thế do người dân biện lễ, hoà cùng đất trời thiên nhiên Yên Thế. Tinh mơ, dân các nẻo đường làng, bản xa trống nổi, chiêng vang, cờ quạt bừng sắc màu rực rỡ thắm tươi núi rừng. Đoàn rước xã Phồn Xương từ chùa Lèo đổ về khu tưởng niệm Hoàng Hoa Thám. Đoàn múa lân rộn rịp nhảy múa, trống rộn rang, cờ ngũ hành phấp phới. Trên kiệu đặt mâm một xôi, thủ lợn luộc. Kiệu do bốn trai đinh khiêng, hai bên hai người che tàn và lộng, theo sau là đoàn cụ ông, cụ bà rạng rỡ trang phục dân tộc độc đáo của mình, như muôn hoa rừng khoe sắc. Những người khiêng kiệu, vác cờ, tàn, lộng đều mặc áo đỏ, đầu chít khăn đỏ.

Đoàn rước trăm màu sắc, âm thanh rộn rịp, kéo dài, trang nghiêm, trật tự , linh thiêng.

Lễ hội Yên Thế cuốn hàng ngàn người tham dự các trò chơi, múa những đường quyền, đường roi, ngọn kiếm, đẩy gậy, cùng những binh khí đặc dị biến ảo khôn lường, thắp lửa tình yêu thương nồng hậu trong mỗi con người, khơi dậy tinh thần thượng võ, và râm ran kể chuyện Đề Thám.

Trước tượng đài Hoàng Hoa Thám linh nghiêm hồn thủ lĩnh, nghĩa quân, lễ tế cờ năm xưa tái hiện, lá cờ thêu chữ “Hoàng nghĩa kỳ” phấp phới tung bay trên nền trời Yên Thế.

Khói nhang thơm lễ cúng Thần, Phật, Thánh, tiếng tụng

niệm vang thánh thiện: “Nam mô nhang vân cái bồ tát ma ha tát. Thập phương chư Phật, thái hư không bách ức phân thân đồng hiện…”

Năm mâm cỗ dâng cúng tế linh hồn Đề Thám, cùng bà Ba Cẩn và nghĩa quân, đủ món thân thương: gà trống luộc, bánh dầy, cơm nắm, chè lam, xôi, thịt lợn, rau diếp, đĩa muối trắng, muối vừng, chai rượu…

Chủ tế kính cẩn đọc văn tế:

“Kính hương hồn cụ uy linh

Kính hương hồn cụ anh linh ngời ngời

Nặng tình non nước cụ ơi

Thương người chinh chiến một đời

Vì dân đất Việt không lời kêu ca

Hy sinh tính mạng xông pha

Ba mươi năm viết bài ca anh hùng…

Suối vàng cụ hỡi có hay

Cụ về lễ hội hôm nay ở chùa”

Văn tế cụ bà Ba Cẩn, mô tả, ngợi ca người vợ thứ ba trẻ đẹp, tài năng của cụ Đề Thám và là một nữ tướng của rừng thiêng Yên Thế:

Bà Ba khi ấy mới hay

Quần chùng áo chít vận ngay vào mình

Trèo lên đứng đỉnh mặt thành

Nào là võ sĩ công danh đâu nào

Các anh thì hãy nghe tao

Đường về Bố Hạ tiến vào cầu Sa

Bây giờ chia mũi làm ba

Giã Nam ta đánh vào triều

Cao Thượng, Bố Hạ Thế nào cũng tan

Trận bầy trận đánh liên miên

Đánh cho quân giặc không miền trở tay

Đánh nhau ròng rã ba ngày

Dồn về Cao Thượng buộc Tây phải hàng.

Sau lễ cúng cụ Đề, bà Ba là lễ cầu siêu cho nghĩa quân tử sĩ siêu thăng tịnh độ:

“Cầu cho vong giả nghiệp tiêu

Dứt điều oan báo, đủ điều phước duyên”

Cầu siêu xong thì cúng phóng sinh, phóng ngư, thả điểu. Trước đây cụ Đề làm lễ phóng sinh, thả điểu ở suối Gồ. Cụ cho thả cá xuống suối, thả chim lên trời, đốt những ngọn nến cắm vào bè chuối thả xuống suối cầu cho linh hồn các binh sĩ đã ngã xuống siêu thoát.

Một thế kỷ sau.

Suối Gồ không còn nhiều nước như xưa nên con cháu cụ Đề chọn một đoạn sông ở thị trấn Gồ làm lễ phóng sinh. Cá, chim được thả tự do được làm lễ tại đền bà Ba trước khi về bầu trời, sông nước.

Lễ Hội Yên Thế làm sống lại kho tàng phong tục của các dân tộc cùng vui sống nơi núi rừng Yên Thế và cuộc chiến đấu của Hoàng Hoa Thám để giữ gìn phong tục, hấp dẫn du khách và các nhà khám phá văn hoá trong, ngoài nước.


 (Còn nữa)     


© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 26.11.2010.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com