Sấm Trạng Trình









         Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491- 1585) là một ông Trạng mà cuộc đời gắn với những giai thoại và truyền thuyết cùng sấm ký. Nhiều lời tiên đoán của ông vừa có tầm nhìn chiến lược, vừa có tính chất tiên tri. Với tập Sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm đã làm ra những lời tiên tri cho năm trăm năm sau, được gọi là Sấm Trạng Trình.

       Sấm ký là những câu ẩn ngữ của các nhà thuật số tính theo Thiên văn mà đặt ra. Các nhà tiên tri nổi tiếng thế giới là Quỉ Cốc Tử (Trang Quốc), Nostradamus (Pháp) sống cùng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nostradamus và Trạng Trình đặt ra những câu Sấm ký nói về thời cuộc, mà đến nay, nhân loại vẫn say sưa nghiên cứu.

       Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương, nay là xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo Hải Phòng. Mẹ ông là Nhữ Thị Thục con gái quan thượng thư Tiến sĩ Nhữ Văn Lan (có bia ở Văn Miếu). Bà tinh thông lý số, học rộng, thông minh, văn hay, kén mãi không được người vừa ý, đành kết bạn với ông Nguyễn Văn Định, học trò Quốc Tử Giám và sinh ra Nguyễn Bỉnh Khiêm. Lớn lên Nguyễn Bỉnh Khiêm được theo học quan Thượng thư bảng nhãn Lương Đắc Bằng. Tương truyền ông Bằng sau này đi sứ có mang được về bộ sách Thái Ất Thần Kinh, nhưng đọc không hiểu. Thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm thông minh đặc biệt, ông trao cho bộ sách quí này.

        Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ Trạng nguyên khóa Ất Mùi (1535) đời Mạc Đăng Doanh, chiếm thủ khoa của tất cả các khoa thi, là vị Trạng nguyên thứ ba mươi hai, trong lịch sử khoa cử Việt Nam. Ông làm quan với nhà Mạc có bảy năm, sau khi dâng sớ xin chém mười tám tên quyền thần, không được chấp nhận, đã từ quan về chí sĩ tại quê nhà bên bờ sông Hàn (sông Tuyết).

         Trạng Trình mở trường dạy học, làm thơ, khi ông mất học trò tôn là Tuyết Giang phu Tử. Nhà Mạc phong cho Nguyễn Bỉnh Khiêm là Trình quốc công, nên gọi Trạng Trình. Trong bộ sách lớn Lịch triều hiến chương loại chí tác giả Phan Huy Chú đã nhận định Nguyễn Bỉnh Khiêm là “Một bậc kỳ tài, hiển danh muôn thuở”.

      Nguyễn Bỉnh Khiêm là cây đại thụ thơ Nôm thế kỷ

XVI với tư tưởng chống chiến tranh, mong ấm no, hạnh phúc, dân chủ cho dân:

        “Cổ lai quốc dĩ dân vi bản

           Đắc quốc ưng tri tại  đắc dân

      (Từ xưa đến nay, nước lấy dân làm gốc/ Được nước, nên biết là ở chỗ được lòng dân)

        Bên bờ sông Tuyết, Trạng Trình dựng quán Trung Tân với bài bia quán tuyên ngôn về chữ “Trung”. “Trung” với lẽ phải, điều thiện, với đường chính, chứ không phải “Trung” với một ông vua.

           Sau này người ta dựng đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm, với những chữ lớn  Như Nhật Trung Thiên (Như Mặt trời giữa bầu trời), An Nam Lý Học “Lý học thâm nguyên Trình tiên giác (Trạng Trình hiểu sâu sắc Lý học, biết trước các việc).

        Khả năng biết trước các việc đã tạo nên màn huyền thoại quanh cuộc đời ông. Những tài liệu về ông còn rất ít, chủ yếu là bản Phả ký Bạch Vân Am do Vũ Khâm Lân, Tiến sĩ đời hậu Lê biên soạn. Những tác phẩm hiện còn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là: Bạch Vân Am thi tập; Việt Nam sơn hà hải cương thường vịnh và những bài sấm ký được chép trong các tác phẩm khác. Hiện nay trong kho sách Viện nghiên cứu Hán- Nôm còn giữ bốn bản Sấm ký mang tên Nguyễn Bỉnh Khiêm: Trình quốc công sấm ký; Trình tiên sinh quốc ngữ; Trình quốc công sở chế; Trình quốc công ký nhưng không có tên người chép…

      Người ta có thể thấy một số lời mách bảo của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với các thế lực đương thời, đều được thực hiện và mọi việc đều diễn ra như ông nói.

      Năm 1568, Nguyễn Hoàng thấy anh là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm giết, bèn sai người đến xin ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm (lúc này 77 tuổi, đang sống ẩn dật ở Am Bạch Vân). Không trả lời trực tiếp, Nguyễn Bỉnh Khiêm dẫn sứ giả ra hòn non bộ, chỉ vào đàn kiến và nói:

                   Hoành sơn nhất đái khả dĩ dung thân

            (Một dải Hoành Sơn có thể dung thân được)

        Hiểu được ý ấy, Nguyễn Hoàng nhờ chị xin với anh rể là Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa, từ đèo ngang trở vào, nhờ đó mà dựng ra nhà Nguyễn ở phương Nam sau này.

       Lại có câu:

                           “Bao giờ sen mọc bể Đông

                      Cha con nhà Nguyễn bế  bồng nhau đi”

          Hồi cha con vua Thành Thái và Duy Tân bị Pháp lưu đày sang đảo Réunion, người ta thấy biển nước ta tự nhiên có một thứ sen mọc, ứng nghiệm với lới sấm trên.

         Ở Thăng Long, Trịnh Kiểm cũng muốn bỏ vua Lê để xưng vương, cho người đến hỏi ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông không trả lời và dẫn sứ giả vào chùa, thắp hương nói: “Mấy năm nay mất mùa, nên tìm thóc giống cũ mà gieo”. Rồi ông bảo chú tiểu quét dọn sạch chùa và nói: “Giữ chùa, thờ Phật thì ăn oản”. Hiểu ý, Trịnh kiểm không dám phế bỏ nhà Lê, vẫn để vua Lê giữ ngôi và lập nên nghiệp nhà chúa “Vua Lê, Chúa Trịnh”.

       Nhà Mạc, khi Nguyễn Bỉnh Khiêm gần mất, cho người đến hỏi kế lâu dài. Ông nói: “Cao Bằng tuy tiểu, khả diên sổ thế (Đất Cao Bằng tuy nhỏ) nhưng dựa vào đó có thể kéo dài được vài đời. Sau quả đúng như vậy, nhà Mạc lánh ở Cao Bằng.

       Truyện kể rằng trước khi chết, Trạng Trình có  để lại một phong thư, đặt trong một ống quyển gắn kín, dặn con cháu sau này làm ăn sa sút, mang thư  ấy đến quan sở tại sẽ được cứu giúp.

        Đời thứ bảy, người cháu bảy đời là Thời Đương nghèo khốn quá, nhớ đến lời truyền, đem phong thư đến quan sở tại. Quan đang nằm võng đọc sách, nghe báo có thư của cụ Trạng Trình thì thấy rất kỳ lạ, bèn lật đật chạy ra đón thư. Vừa ra khỏi nhà thì cái xà nhà rơi đúng chỗ võng quan nằm. Thoát chết, quan vội mở thư ra xem thì thấy chỉ có mấy chữ:  

                 “Ngã cứu nhĩ thượng lương chi ách

                   Nhĩ cứu ngã thất thế chi tôn

                  (Ta cứu ngươi khỏi ách xà rơi

                   Ngươi nên cứu cháu bảy đời của ta)

        Năm 1930, nhân sự việc quan Thống sứ Bắc kỳ  Robin, liệng năm mươi bảy quả bom, và xả  lựu đạn tàn phá làng Cổ Am, nơi sinh ra Trạng Trình. Người ta xôn xao về câu sấm của Trạng Trình đã tiên tri cho làng quê mình:

                  “Xác xơ Cổ thụ sạch Am mây”

       Báo Phụ nữ tân văn tháng 3- 1930 đã nhận được nhiều bài viết của các học giả Bắc kỳ về Sấm Trạng Trình gửi vào và đăng báo một số bài.

           Có người đã về làng Cổ Am khảo cứu, đến nhà thờ Trạng Trình, chỉ gặp một người cháu họ xa của ông, còn cháu chắt chánh tông thì đã sang ở bên Xiêm hết, hỏi những sách vở và sấm truyền của Trạng còn lưu giữ gì trong nhà thờ Cổ Am không, ông ta nói: “Bao nhiêu sách vở của ông cụ tôi, thì từ xưa cụ đã dặn lại đem vào Thanh Hóa hết, vì cụ tôi di chúc lại rằng làng Cổ Am này không tồn tại được lâu dài. Vậy ông có muốn xem xét gì thì nên vào làng Nguyệt Viên trong Thanh Hóa”.

        Làng Nguyệt Viên-Thanh Hóa, chính là làng sinh ra Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan, là em cùng mẹ khác cha với Trạng Trình. Theo lời ông thủ từ nói trên thì Trạng Trình đã dặn con cháu sang nước Xiêm ở và đem sách về làng Nguyệt Viên cất giữ, vì Trạng đã biết trước làng Cổ Am sẽ bị tàn phá.

         Trạng còn có câu sấm nói về mình:

                     Vắt tay nằm nghĩ dông dài

               Thương người có một, lo hai phận mình?

        Làng Cổ Am bị triệt hạ thì Miếu thờ  Trạng Trình cũng bị đổ lây. Mấy tuần lễ sau, dân làng ra sửa lại, thấy có một tấm bia nhỏ  từ xưa di truyền lại, dân làng chưa thấy bao giờ, nay tự nhiên hiện ra ở chân bức tường đổ. Trên tấm bia có khắc ba hàng chữ Hán:

                       Canh niên tàn phá

                        Tuất, Hợi phục sinh

                         Nhị ngũ dư bình

        Theo câu sấm này, Trạng Trình đã biết trước rằng năm Canh thì làng Cổ Am và Miếu thờ của ông bị tàn phá vì bọn bạo động, năm nay chính là năm Canh. Tuy nhiên, mười năm nữa sẽ tu sửa lại đền xưa (Nhị ngũ dư bình- tức là hai năm là mười)…

        Ngày nay, về xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng, mọi người đều kính cẩn viếng thăm ngôi đền thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Một ngôi đền nhỏ, khiêm tốn như tên ông, gần bên bờ sông Tuyết, nằm u tịch dưới tán các hàng cây um tùm, nổi hàng chữ lớn Quốc công từ.

        Người ta thường nói tới câu sấm nói về việc xảy ra Đại chiến thứ thế giới thứ II và kết thúc vào năm Ất Dậu:

                    “Long vĩ xà đầu khổ chiến tranh

                     Can qua xứ xứ khởi  đao  binh

                     Mã đề dương cước anh hùng tận

                     Thân- Dậu niên lai kiến thái bình”

        Sấm ký Trạng Trình có nhiều lời tiên tri cho những sự kiện diễn ra trên thế giới, có sự trùng hợp với các dự báo của  Nostradamus (1503- 1566) trong tập Những thế kỷ (Les Centuries).

          Người Việt Nam gọi nhà tiên tri Nostradamus  là Trạng Trình phương Tây.


  Ha Noi 2004      

© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả từ Hà Nội ngày 31.10.2010.
Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com