TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




ĐỖ TIẾN THỤY



Sinh ngày 12.10.1970.
Tại Tốt Động, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây.

. Sĩ quan quân đội.

. Giải thưởng truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Quân đội.











Tranh của cố hoạ sĩ Nghiêu Đề





HỌ NHÀ VÒN

Trát quan tri phủ sức về làng Bụa: Ngày mồng ba tháng tám ta có quan Tây về thị sát lập đồn. Sự nháo nhác của chức dịch trong làng đã lộ tin cơ mật. Một nhóm trai làng ngựa non háu đá bàn mưu đào hố cắm chông trên đường cái để ám sát quan Tây. Nhưng những cái chông tre non bấy cắm trong cái hố nông cạn như chính lòng căm thù tự phát của họ chỉ làm què được con ngựa bạch quan Tây đang cưỡi. Sự ngây thơ đã bị trả giá. Ngay sáng sớm ngày hôm sau, một tiểu đoàn lính Âu Phi đen trũi đằng đằng như cơn bão lôi đình tràn vào làng Bụa. Tiếng súng nổ ran trời đất. "Đoàng. . . đoàng. . . đoàng!...", tiếng súng kèm theo những tiếng rú kinh hoàng của dân lành trúng đạn...
Trong nhà Muôn, cảnh chạy loạn rối rắm. Bà mẹ chồng mù loà cả đời chẳng nghe tiếng súng sợ vãi đái ra quần lập cập chạy trong sân, đụng vào cây cau, quay sang thì đụng vào vại nước, chiếc gậy tre khua khoắng tít mù. Muôn lao ra ngõ, tiếng súng hất ngược vào sân. Chồng Muôn loẻo khoẻo như một con giun mặt tái xanh tái xám ngồi bệt xuống sân lắp bắp như đứa động kinh. Muôn lôi tốc chồng dậy dáo dác nhìn quanh rồi chỉ lên nóc cây rơm cao nghễu. Chồng Muôn líu ríu trèo lên vai Muôn, nửa bò nửa toài như một con sên chậm chạp chui vào đống rơm vùi kín. Muôn cuống cuồng đưa mẹ chồng vào nhà, ấn xuống gầm giường, vừa lúc bọn Tây đã vào đến ngõ. Tiếng xì la xì lô loạn xị cùng bước chân hùynh hụych. Con trâu nhà Muôn ngửi thấy mùi lạ xì hắt ra mấy tiếng rồi lồng lộn bứt thừng vọt ra sân, mũi chảy máu ròng ròng, nghểnh đôi sừng nhọn hoắt lên, cặp mắt đỏ ngầu găm chòng chọc vào toán Tây đen khiêu chiến. Nhưng hỡi ôi! Con trâu mộng của làng Bụa không chọi lại được súng đạn. "Đoàng đoàng đoàng!...". Con trâu rống lên một tiếng thê thảm rồi đổ vật xuống sân, máu tuôn ồng ộc.
Muôn nằm nín thở ghé mắt nhòm ra. "Đoàng đoàng đoàng!...", đạn găm thun thút vào tường đất, vào bồ thóc. Gà vịt trong chuồng túa ra, lông bay lả tả, mịt mù bụi khói. Bọn lính hè nhau vồ gà vịt như một lũ rồ. Muôn nhắm mắt thầm khấn cho chúng mau mau cút khỏi. Giặc thôi trò rượt đuổi, bắt đầu sục sạo quanh hàng rào, bụi chuối. Ngôi nhà tranh vách đất tuềnh toàng chỉ có những sinh linh yếu ớt đang ẩn nấp nhưng cũng khiến cho lũ Tây đen nghi ngại. Hoặc chúng cũng biết rằng chẳng có gì sơ múi được trong đó nên chỉ đứng ngoài sân xỉa vào nhà vài loạt đạn rồi xì xồ bảo nhau quay gót. Muôn ém hơi trút nỗi lo ra nhè nhẹ. ơn trời!
Nhưng không, những tay giết chóc hình như còn thấy thiêu thiếu một cái gì đó trong khung cảnh này nên bất ngờ quay lại. Thằng Tây đen moi túi lấy bật lửa nhằm hướng đống rơm. Máu trong người Muôn phút chốc như ngừng chảy. Muôn vơ vội vạt áo lên mồm cắn chặt. Bản năng ham sống sợ chết của Muôn vẫn còn hoạt động. Nhưng đến khi ngọn lửa lem lém liếm vào đống rơm thì bản năng ấy vụt bay biến. Muôn lao ào ra sân vừa kêu khóc, vừa lăn xả vào cuống cuồng dập ngọn lửa bạo tàn. Ngọn lửa chưa đến hồi cuồng nộ nên đã bị người đàn bà yêu chồng quên cả bản thân mình dập tắt. Tóc rối xoã tung, mặt mày lem luốc tro rơm đen quánh trong những vệt nước mắt trên khuôn mặt hồng lựng lên vì lửa của người đàn bà vừa độ tuổi mười tám mới bén hơi chồng. Bọn Tây đen chết lặng trước vẻ đẹp vừa dịu hiền vừa dữ tợn của người đàn bà Annamites một hồi lâu. Những khuôn mặt đen sì có ba vạch sẹo như những con châu chấu ma đờ ra ngây dại. Những cái lưỡi đỏ thè ra liếm những cặp môi dày như đỉa trâu no máu. Giá Muôn cứ đứng lặng im như thế có thể mọi chuyện sẽ khác đi. Chỉ vì sau phút định thần, ý thức được hoàn cảnh hiểm nguy, Muôn đã vùng bỏ chạy. Sự trốn chạy như một thứ kích thích khơi bùng lên ngọn lửa dục cuồng. Thằng chỉ huy to như con trâu mộng tóm gọn Muôn như tóm một con chim sẻ tả tơi sau trận bão, đè vật xuống ngay chum nước dưới cây cau... Hắn rên ò ò như bò rống... Hắn thở hồng hộc như trâu cày trong tiếng kêu cứu tắc nghẹn của Muôn: "Mình ơi...cư...cứu...em!...". Bọn Tây cất tiếng cười hô hố. Chồng Muôn run rẩy vạch kẽ rơm, nhìn muốn nổ con ngươi mà chỉ có thể cắn tay mình đến vãi máu... Năm, mười, mười lăm, hai mươi phút... Thằng chỉ huy rã cơn cuồng khấu. Nó ú ớ rên lên những tiếng quái rợn cùng lúc thân hình căng ứ rần rật xoắn vặn rúm ró... Nó há hốc mồm thở và phẩy tay một cái. Mặc cho lũ chấu ma ào vào xâu xé Muôn, nó tồng ngồng lảo đảo bước đến chum nước, vục một gáo dừa và đút cái cục hủy hoại to như chiếc chày giã cua nhớt nhát vào súc sùng sục. Gáo nước sàu bọt trắng! Nó hất toẹt gáo nước vào chum, ngồi bệt xuống sân nhe hàm răng trắng ởn ra cười.
Cả một tiểu đội lính lê dương rệu rã rời nhà Muôn. Chúng lột mũ sắt vục nước ao tù cúi đầu rít ừng ực...
- Tôi có đốn mạt không hở cậu? - Lão Vòn ngước cặp mắt ướt nhoèn lên hỏi tôi. Tôi cắn môi giấu một tiếng thở dài. Trong hoàn cảnh ấy lão Vòn không thể nào khác được. Một kẻ từ bé được bố mẹ nuông chiều vì là con cầu tự, nhìn thấy cái lá vàng rơi đã sợ rúm vó rồi thì làm sao dám đương đầu với súng?
- Không ai dám trách ông đâu. Nếu lúc đó ông nhảy xuống thì bọn Tây bắn ông là cái chắc. Rốt cuộc chẳng cứu được vợ mà thiệt thân vô ích.
Cứ tưởng lão Vòn sẽ nhẹ nhõm phần nào. Nhưng ngược lại, lão nhấp nhếu môi sụt sịt:
- Cậu không biết đâu. Tôi khốn nạn. Tôi khốn nạn thật mà...
Tôi ngẩn người nhìn. Lão này gở chết hay sao mà nói những điều tử tế thế nhỉ? Từ bé đến lớn tôi chưa nói chuyện với lão bao giờ. Lão là ông họ gần của tôi. Từ nhỏ tôi đã không ưa con người này. Không phải chỉ vì hàng rào nhà lão luôn ken khít rịt, đến con gà nhiếp cũng không chui lọt, khiến lũ trẻ chúng tôi chỉ còn cách nuốt nước bọt mà nhìn cây ổi hương nhà lão chi chít quả chín trắng, thơm lựng. Hầu như quanh năm lão không ra khỏi nhà. Tôi không ưa lão bởi mỗi lần giỗ họ, lão là vai trên, được xếp mâm trên với các cụ ông. Nhưng bao giờ lão cũng "Nhà cháu không uống được rựợu, mạn phép các cụ cho nhà cháu được ngồi mâm dưới với các bà!". Chả phải lão nhún nhường đâu. Mâm cỗ những năm đói kém chỏn vỏn vài đĩa thịt mỡ trắng ngàu. Các cụ ông có rượu đưa đà khề khà một chặp đã không còn gì để gắp. Mâm dưới, năm nào cũng thế, các bà bảo nhau chỉ chan toàn nước suýt, để giành thịt mang về cho những đứa con quanh năm thèm mỡ. Các bà dùng đũa gắp từng miếng một chia đều các phần. " Mời ông Vòn nhận trước!". Lão ngồi săn văn ngắm nghía những mô thịt tin hin như cân bằng mắt, rồi chồm người sang phía bên kia mâm nhận mô thịt có phần nhinh nhỉnh. Lão tung tăng mang gói thịt về bỏ muối kho mặn chát, ăn dần. Lão sống dật dờ như cái bóng trong ngôi nhà kín như vỏ ốc cùng bà vợ dặt dẹo và đứa con cũng loèo khoèo như lão. Thế mà lần này tôi về quê, lão lại khẩn khoản mời tôi đến nhà. Nếu tôi không kịp can thì lão đã bóp cổ con gà mái ri đang nhảy ổ.
- Chỉ có cậu may ra mới giúp được tôi thôi. Nếu không tôi chết cũng không nhắm được mắt đâu, cậu ạ... Ban đầu tôi cảm thấy khó chịu và miễn cưỡng. Nhưng nghe lão kể tôi bị cuốn vào câu chuyện đời tư của lão. Câu chuyện của năm mươi năm về trước...

Mặt trời đứng bóng. Quạ lượn chập chờn trên những luỹ tre tanh máu và khét mùi thuốc súng. Bọn Tây đã rút đi. Xóm làng bắt đầu trỗi lên những âm thanh ai oán. Tiếng hờ khóc của người mẹ chết con. Tiếng rên rỉ của ông già Lân nghễnh ngãng. Khi bọn Tây vào nhà, ông chui vào xó cửa, lấy cái nong chắn bên ngoài. Bọn Tây nhìn thấy chân ông thò ra bèn cất tiếng gọi. Ông ngồi run nhong nhóc không ra. Thằng Tây đá văng cái nong, xách tai ông lên, vung dao. Xoẹt! Ông ôm tai lăn lộn, máu vương vãi khắp nhà... Ngoài sân chùa, tiếng xôn xao nhớn nhác của dân làng quanh giếng cạn, xác một người còng queo dưới đáy. Ông lý trưởng dẫn bọn Tây lục lạo khắp làng nhưng không tìm thấy Việt Minh, sợ quá ông nhảy xuống giếng mong tìm nơi ẩn trốn, nhưng Tây đã chõ súng xuống, đòm! Không ai hay việc xảy ra ở nhà Muôn, cũng không ai để ý Muôn đang nằm chết thiếp như một cái xác trên thềm sân lạnh.
Hắn run như chó phải pháo, vừa tụt khỏi cây rơm vừa khóc tu tu. Đáng lẽ phải ôm ngay lấy vợ mà kêu nhưng hắn lại không làm thế. Hắn phệt xuống sân, khóc và giãy đành đạch như trẻ con bị mất đồ chơi. Khóc chán, hắn lao vào Muôn, vừa đấm đá vừa cào xé. Muôn đau đớn ê chề lê lết kêu van:" Tôi...làm gì... nên... tội?...". Hắn gào lên, nước mắt nước mũi ròng ròng: " Đồ con đĩ! Ông nhìn thấy hết nhớ! Ông đánh mày vì cái tội... Cái tội mày ưỡn đít lên!". Muôn nhắm nghiền mắt chịu trận đòn ghen quái gở. Những cái đấm đá của tay cớm nắng trói gà chẳng nổi không thấm tháp gì so với cái đau nhức nhối đang lan từ hố chậu buốt lên tận óc. Lúc nằm dưới súc thịt đen hôi hám, Muôn bạt vía kinh hồn. Nhưng con quái vật đè Muôn đúng cái rễ xoan nổi gờ lên mặt đất. Mỗi cái dập của con thú say mồi là một lần Muôn cong oằn người lên đau đớn, cảm thấy xương trong người đang vỡ ra rụm rạo...
- Tôi khốn nạn thế đấy cậu ạ... Bây giờ nhiều đêm tôi không thể nào chợp mắt. Cứ nhớ đến ngày ấy là vã cả mồ hôi!
Tôi ngồi thần cả người ra. Lão Vòn vô học, ru rú xó quê... Cả một tiểu đội lính lê dương... Tôi đây này, đã bằng nọ bằng kia, từng đi nước này nước khác. Vậy mà hơn chục năm rồi, tôi không thể quên một phút, cái phút vợ tôi, trước khi nhận lời yêu đã ngước cặp mắt tội đồ thú nhận không còn trong trắng nữa. Một cái gì đó to lắm, cao lắm đổ nhào khiến tôi cảm thấy hẫng sụt. Lòng tôi trống huếnh mất bao ngày. Đã bao lần tôi dùng lí trí ép cái cảm giác mất mát, thiệt thòi ấy xuống, nhưng nó như một bóng đen dai dẳng luôn bám riết lấy trí óc tôi. Tôi nói nhỏ với lão Vòn mà như nói với mình:
- Sự việc qua rồi, ông dằn vặt làm gì cho khổ?
Lão Vòn lắc đầu nhè nhẹ, cặp mắt đẫn đờ:
- Cậu không biết đâu. Mẹ con tôi giấu kín chuyện Muôn bị Tây hiếp. Làng xóm không ai biết cả...
- Ông giấu được là tốt, thế thì có gì mà ông phải ân hận?
Lão Vòn bất ngờ ôm mặt khóc hu hu như con trẻ. Nước mắt chảy đẫm kẽ bàn tay xương xẩu...
*
Muôn vật vờ như tàu lá héo. Căn bệnh quái ác từ bọn lính viễn chinh đổ vào người Muôn như một lời khai tử. Rất từ từ, rất ác hiểm, nó ngấm ngầm tàn phá Muôn từ bên trong. Muôn nằm bẹp trên chõng tre, cửa mình dề dề tháo mủ. Ngôi nhà tranh bốc mùi thối khắm đến nỗi Muôn phải lấy vải thô bọc tro bếp lót quần. Lão Vòn bỏ mặc cho bệnh hoạn gặm dần dần thân thể Muôn mà không mời thầy thuốc. Đầu Muôn trọc lóc như trái bưởi. Muôn mê man lảm nhảm bảo tai có con gì kêu u u, có những giọt nước gì buốt lắm cứ rỉ rả nhỏ lạnh, nhỏ lạnh ở đỉnh đầu...
- Lúc ấy tôi mong cho cô Muôn nhanh chết. " Mày chết đi cho ông nhờ! Đồ đĩ rạc đĩ rày!...Mày chết đi! Mày chết đi!". Tôi rít rẩm trong cổ họng như thế suốt ngày đêm. Muôn đã mấy lần thều thào van tôi cho cô ấy về nhà mẹ đẻ chữa bệnh, nhưng tôi không cho. Đến khi họ nhà cô ấy biết thì bệnh đã nặng lắm rồi. Toàn thân cô ấy xẹp lép như một mớ xương đùm giẻ... Giời ơi! Tại sao tôi lại khốn nạn thế hở giời?- Lão Vòn ngửa cổ kêu lên những tiếng xót xa. Tôi trân trân nhìn lão. Thuở nhỏ tôi nghe loáng thoáng lão Vòn đã bỏ chết một đời vợ trước. Chuyện của các cụ, tôi không mấy để tâm. Đâu ngờ nó lại thế này.
- Đằng nhà cô Muôn nhận con về chạy chữa mà không dám hé răng trách tôi lấy một nhời. Cậu không biết đâu. Ngày xưa, bệnh cô Muôn là căn bệnh điếm nhục đổ vào cả dòng họ. Mẹ con tôi giấu biệt chuyện Muôn bị Tây hiếp là để giấu cái thói ươn hèn nhu nhược của tôi...
- Cũng dễ hiểu thôi. Ai muốn phơi cái xấu của mình ra?- Tôi thông cảm với lão Vòn. Tưởng lão sẽ nguôi ngoai, không ngờ lão khóc méo xệch cả mồm:
- Nhưng tôi lại vu cho Muôn mấy tháng trước đi gặt lúa thuê ngoài Triều Khúc đã lăng loàn trai gái nên mới mắc tim la!
- Tôi thật không ngờ... Ông là đồ...
Tôi muốn tuôn ra muôn ngàn lời rủa xả táp vào bộ mặt nhăn như mớ giẻ kia. Nhưng tôi kìm lại được. Tôi bặm môi quắc mắt nhìn lão. Lão co rúm người lại như con giun bị lật đất phơi ra ánh sáng mặt trời.Tôi rùng mình ghê sợ nhìn lão Vòn như nhìn một con rắn độc. Người ta bảo mỏng môi hay hớt... Môi lão Vòn mỏng dính, dẩu lên thế kia... Chả trách lão dựng chuyện điêu trác hất hình. Lão nghĩ Muôn sớm muộn gì cũng chết nên điều gian dối của lão không thể bị Muôn tố giác.
- Thế ông lấy vợ khác ngay lúc đó à?
Lão Vòn lờ đờ nhìn tôi: - Không, một năm sau cơ, cậu ạ...
Lão ngồi so lại, đầu gối củ lạc nhô lên quá tai. Khoảng trán vốn đã ngắn troằn giờ càng ngắn hơn bởi những nếp nhăn nhàu nhĩ...

Cứ tưởng bệnh Muôn vô phương cứu chữa. May nhờ có ông lang Mường với bài thuốc bí truyền đựơc vời tới khám bệnh cho Muôn. Ông lang gọi riêng bà Diên ra chỗ vắng nói nhỏ: " Bệnh cô nhà ăn sâu quá, cụt hết cả buồng trứng rồi! Gia đình đồng ý tôi sẽ chữa, nhưng cô nhà không thể sinh nở được.". Bà tái mặt nhưng cắn môi gạt nước mắt gật đầu. Còn người còn của, cốt Muôn sống được là may. Nhưng Vòn thì không nghĩ thế. Đàn bà là cái máy đẻ con. Không đẻ đái gì được nữa thì "thay nái", huống hồ nhà Vòn mấy đời độc đinh... Mẹ con Vòn nguây nguẩy không cho Muôn về lại. Nhà Muôn thì coi con gái đã đi lấy chồng, sống nhà người, chết là ma nhà người, nên thúc ép Muôn đi. Quay qua quẩn lại. Bà mẹ Vòn có vẻ xuôi xuôi. Nhưng Vòn thì mặt rắn câng như gỗ đá. Muôn cắn răng quì lạy chồng, nước mắt đầm đìa mà không lay chuyển được con người trơ tráo, đành khăn gói cúi mặt lầm lũi trở về nhà mẹ đẻ.
Mấy tháng sau, Muôn khe khẽ mở ngọn tre dấp cổng trở lại nhà chồng vào một đêm tối như bưng mắt. Bà mẹ chồng mù loà nằm trên giường tỉ ti khóc lóc gọi tên Muôn. Vòn nằm trên chiếc chõng tre bên cạnh rít qua kẽ răng: " U im đi cho tôi ngủ! U còn nhắc đến con đĩ ấy làm gì! Nó chết rồi!". Bà già lại khóc to hơn: " U con mình ác quá, Vòn ơi! Thế này thì u chết chắc bị chó ngao xé xác, bị bỏ vạc dầu, bị quỉ sứ lột da... Hay là để mai u sang nhà ông bà Diên thưa chuyện...". Vòn bật chồm người dậy. Dưới ngọn đèn dầu tù mù nhưng mặt Vòn trắng bệch đi. Hắn nghiến răng nói gằn trong họng: "U mà nói ra, tôi giết!" và sấn đến túm cổ bà già chét mạnh. Bà già sợ hãi ú ớ run lên.
Muôn lặng lẽ bước vào nhà. Hắn đứng chết trân như thân chuối dựng. Muôn nhìn hắn bình thản như nhìn một con vật yếu đuối. Bước đến nắm tay mẹ chồng, Muôn nói khẽ: " U ơi, con đến để lạy u...con đi...". Hắn giương dáo mắt nhìn Muôn, lập bập mãi mới hỏi được một câu tưởng chừng như hụt giọng: "Mày...đi đâu?". Muôn lột chiếc khăn để lộ mái đầu tóc đang mọc lại lơ thơ và nheo con mắt khinh khi nhìn chồng nói từng lời như rút ruột: " Tôi mà hê ra thì dơ cái mặt anh, cái mặt tôi và cả họ nhà tôi cũng chẳng đẹp đẽ gì! Tôi đi để rửa ô nhục trên cái thân tôi...". Muôn bụm miệng ngoắt người lao khỏi cửa, hút vào vườn cây cối um tùm. Tiếng côn trùng đang nỉ non chợt im bặt theo bước chân chạy trong đêm líu ríu. Tiếng chó sủa ran càn theo một vệt về hướng bến sông...
- Giá lúc đó tôi mà bạo như bây giờ thì cô Muôn không chết. - Lão Vòn nức nở. - Nhưng tôi sợ quá! Từ bé tới lớn tôi có dám ra khỏi nhà vào ban đêm đâu. Đến đi tiểu u tôi còn phải hốt cho một thúng tro đặt xuống gầm giường cơ mà! Hôm đó tôi đã chạy ra đến ngõ. Nhưng gối nó cứ nhũn xuống. Tôi chạy như ma đuổi trở lại nhà sập cửa đánh thình một cái, cẳng chân chưa kịp rút vào bị kẹt sưng mấy ngày liền... Sáng ra thì ...
Đôi dép mo cau... Chiếc khăn vuông đen rơi lại trên bến đò ... Bà Diên chạy dọc bờ sông gào khóc khản cả hơi... Trai làng lặn hụp mấy ngày đỏ kè cả mắt vẫn không mò được xác Muôn. Dân làng người thì xót xa cho kiếp hồng nhan bạc phận, trách mẹ con nhà Vòn ăn ở bất nhân thất đức. Kẻ bênh Vòn thì bĩu môi rỉa rói: Ôi dào, nứa trôi sông không dập thì gãy, gái bị chồng rãy không chứng nọ thì tật kia...
- Thôi được rồi! - Tôi cắt chuyện lão Vòn vì cảm thấy không chịu nổi nữa.- Rốt cục ông muốn nhờ tôi giúp việc gì?
Lão Vòn khóc hưng hức trong cổ họng một hồi lâu rồi lúng túng nói với tôi những lời đứt quãng. Lão bảo, lão hơn bảy chục tuổi rồi, đêm đêm nằm vắt tay lên trán nghĩ lại những việc mình làm trong đời thấy lòng cắn rứt không yên. Hễ cứ chợp mắt là lão lại thấy bà Muôn cái đầu trọc lóc ngoẹo cổ nhìn lão kêu rằng rét quá, rét quá! Lão ngước lên thành kính như con chiên trước cha xứ nhờ rửa tội:
- Cậu ạ, cậu là người có học, thành danh nhất họ. Tiếng nói của cậu quan trọng lắm, các cụ chắc sẽ nghe theo. Tháng tám này giỗ họ có bàn về việc qui lăng các cụ. Tôi nhờ cậu giúp cho một tiếng, đưa bà Muôn vào phần mộ của họ nhà mình! Có được vậy tôi mới nhẹ lòng...
Tưởng gì chứ chuyện đó tôi giúp được. Ngôi mộ đất nhỏ như thúng úp ngoài bến sông là do nhà cụ Diên đắp hồi xưa, dưới chỉ chôn có đôi dép và cái khăn vuông. Mùa lũ, ngôi mộ chìm nghỉm trong nước lạnh. Mùa khô, ngôi mộ bị lút giữa ngô đậu xạc xào heo hắt. Cả họ nhà tôi và họ nhà bà Muôn không ai thừa nhận bà là người của họ mình, vì thế quanh năm ngôi mộ nằm chơ vơ quạnh quẽ. Lạ một điều là ngôi mộ không hề mất. Ngày nhỏ tôi vẫn thấy có chân nhang cắm loe hoe trên ngôi mộ đó... Chuyện cũ mấy chục năm rồi, chắc các cụ nhà tôi sẽ không chấp nhách.
Nhưng tôi đã không giúp được lão Vòn. Trong những việc soạn thảo gia phả, kiến thiết nhà thờ... thì các cụ trong họ trọng tôi. Còn việc này, tôi là kẻ hậu sinh, vai vế trong họ là lớp dưới nên các cụ khăng khăng phản đối. Cái lý của các cụ là, chấp nhận đưa mộ bà Muôn về thì khác nào chấp nhận kẻ lăng loàn đĩ tã, bôi một vết nhơ vào dòng họ Trịnh thanh danh! Họ Nguyễn nhà bà Muôn thì không muốn có thêm một bà cô. Họ đánh tiếng rằng, đàn bà như mớ dưa, ngon khú gì là do tay người muối. Đã lấy chồng là hết trách nhiệm. Hết cách, tôi đành kể ra những lời sám hối của lão Vòn. Ông Cân, trưởng họ Trịnh nhà tôi sỉ bã thuốc lào đánh phụt, xì một cái rõ dài:
- Ôi dào! Tin mồm lão Vòn thì đổ thóc giống ra mà ăn. Lão là chúa hay dựng chuyện, anh không biết à?
Tôi buồn lắm, chẳng biết làm gì hơn là ngồi tần mần viết câu chuyện kể về thân phận một kiếp người. Hy vọng rằng khi bài báo in ra có thể thay đổi được tình hình. Bài viết được in. Tôi hí hửng đưa tờ báo về. Ngay tối hôm đó, ông Cân lù lù xuất hiện tại nhà tôi. Ông chẹp nước chè liên hồi, ý chừng khó nói. Mãi sau ông mới hiêng hiếng mắt nhìn tôi thở dài:
- Hỏng! Hỏng quá! Tưởng anh ăn học hơn người...Ai ngờ...
Tôi bảo:
- Cháu chỉ muốn minh oan cho bà Muôn...
- Giời ơi là giời! - Ông Cân rít qua kẽ răng - Anh làm thế khác nào đổ cứt vào nhà thờ họ. Chuyện bà Muôn tôi lại không biết hơn anh à?!
Ông phủi đít quần hầm hầm bỏ về. Tôi đã khốn khổ khốn nạn bởi những ánh mắt của người trong họ nhìn tôi những lần về quê sau đó.

May cho tôi. Giữa lúc tôi đang khổ sở ê chề thì một sự kiện làm thay đổi mọi chuyện. Một vị khách từ Hà Nội đáp xe về làng Bụa. Ông đến thẳng nhà ông Cân trưởng họ, trong tay là tờ báo có bài viết của tôi. Ông khách ngồi kể giữa một vòng vây trẻ già họ Trịnh. Ông Cân len tới ngồi sát ông khách, cái nhíp hai đầu to tướng, một để nhổ râu, một để rút quai dép cao su, luôn nhíp nhíp trên cái cằm nhẵn thín, mắt lim dim, đầu gật gù nhè nhẹ. Bọn trẻ con há hốc mồm như nuốt lấy từng lời. Lão Vòn chọn cho mình một góc khuất sau cỗ phản, ngồi bó gối nghiêng tai. Khuôn mặt lão lúc cười lúc mếu, ngô nghê như con trẻ. Ông khách tuổi ngoài tám mươi nhưng còn minh mẫn tráng kiện, rõ là người đã từng xuống biển lên rừng. Ông tên là Đào Bá Đoàn, nguyên chính trị viên của một đại đội trong đoàn quân tiến lên Tây Bắc. Trong cái đêm mưa phùn gió bấc căm căm, đại đội của ông được lệnh bí mật vượt sông Bùi. Đoàn quân qua sông êm thấm nếu như không có một người đàn bà lẽo đẽo bám theo sau. Nguyên tắc bảo mật thời chiến bắt buộc những người lính phải bắt trói kẻ lạ mặt mang theo để đảm bảo an toàn. Chính ông là người thẩm vấn kẻ lạ mặt trong căn hầm ở nơi tập kết. Cô gái ấy khai rằng, cả nhà cô mới bị giết trong trận càn nên muốn theo bộ đội trả thù. Nhìn vóc dáng ốm yếu của cô, ông đã khăng khăng từ chối. Cô gái khóc dữ quá. Ông buộc phải gửi cô sang đoàn dân công hoả tuyến. Tuyến chiến dịch ngày ấy lan truyền tin về một người đàn bà nhỏ thó, nhưng gánh hàng rất khoẻ, luôn đòi được ra tuyến trước. Một hôm, đang trên đường rút quân sau trận đánh, đơn vị lấm láp bã bời, chỉ mong nhanh đến nơi tập kết cho bộ đội nghỉ ngơi. Bỗng đội hình hành quân chùn lại, xôn xao. Ông lách hàng quân vượt lên. Một tù binh người Angiêri đang ôm đầu kêu khóc, máu chảy ướt đẫm kẽ ngón tay. Cạnh đó, một dân công đang bị bộ đội giữ lại. Một chiến sĩ hấp tấp chạy đến phân trần: " Báo cáo thủ trưởng, bọn tôi đang áp giải tù binh về tuyến sau thì chị này ở đâu lao ra, bất ngờ dùng đòn gánh phang tới tấp...". Người đàn bà ngước khuôn mặt ướt nhoè nhìn ông, khóc rấm rức. Ông sững người khi nhận ra chính cô gái đã gặp ở bến sông Bùi. Ông đứng ra bảo lãnh và gửi cô sang phục vụ ở trạm quân y dã chiến...
Nếu như gần cuối chiến dịch ông không bị thương thì có lẽ chuyện của bà Muôn mãi mãi lấp chìm trong quên lãng. Trong căn hầm ngập ngụa bùn đất mùa mưa gió Điện Biên, ông ngồi dựa vào lưng Muôn để nghe cô kể về hoàn cảnh của mình. Ông đã khóc. Khóc vì cơn đau đạn xé chưa thấm vào đâu so với nỗi đau nhân thế mà cô từng gánh chịu.
Chiến trường ngày càng ác liệt. Bệnh viện dã chiến ta ít, Tây nhiều. Những lính Tây "ba vạch" ngày đêm rên la thảm thiết. Trong lúc sa cơ thất thế, những tên lính lê dương như trở thành những con người khác, thảm hại, đáng thương, chẳng giống lúc chúng lăm lăm trong tay súng đạn quan thầy. Ngày nào Muôn cũng tất bật chạy hết hầm này sang hầm khác thay băng, đút cháo cho cả bộ đội lẫn tù binh. Và Muôn luôn ở bên ông lâu nhất...
- Thế ông lấy bà Muôn à? - Một thằng bé hóng hớt nãy giờ buột miệng. Ông Cân lừ mắt, mắng át đi:
- Ranh con. Hỗn!
Lão Vòn cúi xuống, cổ họng phát ra những tiếng hậm hừ. Chẳng biết lão rên hay lão xuyễn. Ông khách ngẫm ngợi hồi lâu, mắt cứ ứa nước ra. Ông ngửa bàn tay vuốt mắt rồi thẫn thờ:
- Được thế thì phúc cho tôi quá! Bệnh viện dã chiến dính bom... Tơi bời hết cả... Có còn gì đâu!...
*
Họ nhà tôi nhốn nháo cả lên. Ông Cân mặt mày phớn phở đến tìm tôi:
- Anh bổ sung ngay bà Muôn vào gia phả nhớ!
Tôi cặm cụi một ngày. Ông Cân móc kính xăm xoi một hồi, hạ giọng thầm thào:
- Anh viết thế còn ra thể thống gì nữa? Con cháu sau này nó đọc nó cười cho. Chỉ viết từ đoạn bà Muôn theo bộ đội thôi! Tôi đã quyết rồi, mai lập mộ bà Muôn.
Từ bé đến giờ tôi chưa thấy một nghi lễ nào trong họ tôi rùm beng đến thế. Thầy cúng làm lễ gọi hồn bà Muôn từ phương trời xa lắc về nhập vàọ sọ dừa, cành núc nác thay hài cốt để trong tiểu sành táng vào nơi cao ráo nhất, tên bà được khắc vào bia đá với những dòng trang trọng: Trịnh tộc- Mộ phần cụ Nguyễn Thị Muôn - Sinh năm 1934 - Thác năm 1954 - Liệt nữ hy sinh vì nước.... Tôi cắm nhang và thầm khấn:
- Mong bà hãy bỏ qua sự vô tâm của con cháu nhà chồng từ trước đến nay.
Lòng cảm thấy bớt áy náy đối với việc họ hàng, tôi chuẩn bị về Hà Nội. Vừa nổ máy xe thì ông Cân đùng đùng lao đến nhà, trợn mắt lên chửi bới:
- Mẹ cha quân mất dạy! Cả họ nhà nó ngu!
Tôi sững người chẳng hiểu mô tê, hỏi lại. Ông Cân mắng té tát:
- Anh không biết gì à? Sao anh thờ ơ thế? Các anh bây giờ chỉ chăm chắm về với vợ với con thôi, chẳng thiết ngó ngàng đến việc gia tộc nữa. Anh lên đồng Gào chống mắt lên mà xem. Cái thằng họ Nguyễn bên bà Muôn nó cũng lập mộ. Mẹ cha quân mất dạy! Cả họ nhà nó ngu!...
Tôi tất tả chạy lên đồng Gào. Ngôi mộ mới xây, vôi trắng lốp. Tấm bia cũng có những dòng không kém phần trang trọng : Nguyễn tộc- Mộ phần cụ Nguyễn Thị Muôn - Sinh năm 1934- Thác năm 1954- Liệt nữ hy sinh vì nước...
Tôi nhếch mép, trong đầu nảy ra một ý nghĩ chua chát: Bà Muôn sống bằng một cuộc đời đau rất thật, vậy mà chết lại bằng ba ngôi mộ giả! Nhưng tôi vội lắc đầu xua đi ý nghĩ hỗn hào. Thế này cũng được, càng tốt cho bà Muôn chứ sao. Mấy chục năm bà không ai thờ cúng, giờ bà đáng được thờ gấp đôi gấp ba. Sẵn bó nhang còn lại trên mộ, tôi đốt ba nén. Tôi chưa kịp quay về thì một toán thanh niên lộc ngộc, vẻ mặt hầm hầm, tay lăm lăm búa chim do ông Cân dẫn đầu lao lên đồng:
- Chúng mày phá cái mộ ấy cho ông! Mẹ cha quân mất dạy! Cả họ nhà nó ngu!...
Tôi cuống lên giang hai tay cản đoàn người hùng hổ lại. Ông Cân chỉ vào mặt tôi chửi văng cả bọt mép:
- Cái trán mày bóng tứng thế mà cũng ngu à! ăn lắm vào, béo như chó hàng phở nên lú lấp rồi chứ gì? Nó xây mộ kiểu này là nó ám họ nhà mình. Nó gọi hồn bà Muôn về họ nhà nó rồi. Thế là họ nhà mày thừa mả, rồi sẽ ốm đau chết chóc. Họ nhà anh sẽ lụn bại, không ngóc đầu lên được, hiểu chưa? Phá! Phá hết cho ông!
Tôi hét lên một tiếng khiến cho bọn trẻ chùn tay:
- Không được làm càn! Người ta mà kiện thì cả họ mình đi tù. Rồi lại gây thù chuốc oán cho mà xem. Nhìn kìa!
Một toán thanh niên khác gậy gộc tua tủa do ông trưởng họ Nguyễn dẫn đầu đang lao rầm rập về phía chúng tôi. Cánh thanh niên bên này giơ cuốc lên thủ thế. Tôi đứng giữa hai hai phe bặm môi nghĩ cách dàn hoà. Hai đám thanh niên lưỡng lự, hết nhìn tôi rồi lại nhìn hai ông trưởng họ. Hai ông trưởng họ một cao lòng khòng, một lùn tịt, gườm gườm nhìn nhau bằng cặp mắt hai con trâu chọi. Tôi thấy trong ruột rối bời, chẳng biết nói với họ thế nào.
Giữa lúc đôi bên còn gằm ghè thì một thằng bé hộc tốc chạy lên đồng. Nó thở không ra hơi, giơ tay chỉ về phía bến sông:
- Cụ Vòn... Cụ...
Chả ai bảo ai, tất thảy đều quăng vũ khí lao theo thằng bé.
Bến sông vắng lặng. Gió buôn buốt lùa dọc mặt sông làm nổi lên những gợn sóng lăn tăn. Mưa phùn lay phay. Những chiếc lá ngô tím tái ướt át cứa vào mặt tôi thon thót.
Lão Vòn nằm thoi thóp nơi ngôi mộ giả bà cụ Diên đắp năm xưa. Chiếc cuốc nằm chỏng chơ ngay cạnh lão Vòn quần áo phong phanh, râu tóc lơ phơ ướt bết dính đầy đất cát. Ngôi mộ vừa bị lão phá tan tành. Chúng tôi vội vàng khiêng lão ra ngoài bãi ngô, đặt lên thảm cỏ, đốt một đống lửa to sơ cứu. Lão Vòn đã phát phiền, tay quờ quạng rón chuồn chuồn. Tôi cuống cuồng xoa điên dại vào khuôn ngực hom hem của lão.
Nhưng... muộn quá rồi! Lão đi mà mắt vẫn mở trừng trừng như cầu xin một điều gì đó. Mấy chục con người vừa nãy yêng hùng là thế, giờ len lén ngoảnh mặt. Tôi đặt cả bàn tay nóng ran lên đôi mắt lão Vòn, trong đầu thầm nói: Ông ơi, ông cứ thanh thản mà đi. Khối người còn giấu những điều khuất tất trong cuộc đời, nhưng có phải ai cũng đủ can đảm nói ra được như ông đâu?
Tôi mở bàn tay. Mắt lão Vòn đã khép. Khuôn mặt nhăn nhúm như chiếc lò xo của lão từ từ giãn nở, phảng phất một thứ ánh sáng...


Hà Nội tháng 2-2004



ĐỖ TIẾN THỤY


TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC