…” Có Lẽ Đức Chúa Trời Có Thật…”

(.. khoa học không có tôn giáo là mù lòa, tôn giáo mà thiếu tôn giáo là què quặt .“ ( Albert Einstein)

Sáng nay, bật nhớ tiến sĩ vật lý hạt nhân tốt nghiệp ở Hungary (Phan Như Ngọc) tác giả thi tập diễn ý THI CA THÁNH KINH (172 tr., 14,3 x 20,3 cm - Nxb Tôn giáo, Hà Nội 2007 ) – đã hơn một năm nay, tôi không nhận được tin tức , và cũng chẳng biết địa chỉ con gái ông, hiện đang ở Saigon để thăm hỏi. Và gửi thư điện tử nhiều lần (ngocpn@gmx.net), lại không nhận được hồi âm. Có dịp, tôi sẽ giới thiệu nội dung “ Thi ca Thánh kinh”, diễn ý thi ca qua : ” Gióp, Thi Thiên, Châm Ngôn,Truyền đạo.. “
: ”….Chúa đã dùng mục sư Lê Hoàng Phu, Nguyễn Văn Huệ, giáo sư Nguyễn Ánh Tuyết ở Viện Thần học Việtnam (California, U.S.A), cháu Phan Thanh Giang ( học sinh lớp 11) ( con gái ông hiện ở Saigon) để làm cho cuốn sách này được ra đời. Cảm tạ Chúa thật nhiều…” (trang 5, Thi ca Thánh kinh ).
Có một sáng chủ nhật, tôi và các tín hữu Chi hội Tin lành Thị Nghè ( quận Bình Thạnh, tp. HCM) được nghe thuyết giảng đề tài ” Hạnh phúc tuyệt vời” . Quả thật Chúa thương xót dẫn dắt tôi tớ Ngài, qua bài giảng thật sinh động, hấp dẫn, đạo Trời đi vào cuộc sống tín hữu, và không phải chỉ nghe làm đủ , còn phải biết biết áp dụng , đưa vào cuộc sống thường ngày . Từ đó, quen biết, liên lạc thư từ, sau đó, ông gửi thư điện tử báo tin: “ …trước ngày tôi dự định lên đường sang Hoa Kỳ thuyết giảng lời Chúa, bất thần tôi bị xây xẩm mặt mày, rồi bị tai biến ; phải ngưng chuyến đi, hiện nằm điều trị tại bệnh viện Đức quốc..”
Chẳng hiểu ông đã khỏi bệnh, hoặc tôi tớ Ngài đã về nước Chúa ?


Đường Bá Bổn.

(28/10/2010)

.”…. Thấy vợ tôi đọc Kinh thánh trên xe – ông Đặng khoe có một cuốn Thánh kinh bằng tiếng Hán, đã đọc qua mà chẳng hiểu gỉ?

Nắm được cơ hội, vợ tôi chứng đạo, phát truyền đại đơn, giới thiệu bài làm chứng về Chúa của một người trước kia luôn luôn được dạy rằng,- tầng vũ trụ này là tự nhiên mà có, không có ông Trới nào hết, chối bỏ sự hiện hữu của đức Chúa Trời, ai tin Chúa là duy tâm, mê tín dị đoan. Rồi tình cờ, ông ta ( Phan Như Ngọc ) được mục sư truyền đạo người Hòa Lan tăng cuốn Kinh thánh bằng anh ngữ :

“… Tối hôm đó, tôi ( Phan Như Ngọc) bắt đầu đọc thử các sách mới xin để xem sao . Ngay từ dòng đầu Kinh thánh, tôi đã thấy vô lý. Ban đầu, Đức Chúa Trời dựng nên trời đất. Lương tri tôi bật lò xo. Đó là phản ứng tự nhiên của một người đã sống gần năm mươi năm, nhưng chưa biết nhận Chúa. Nhưng rồi cái hích đầu tiên của Thiên chúa, mà ngày trước, tôi đã từng phân tích cho sinh viên , đây là quan điểm hoàn toàn sai lầm. Tự nhiên tôi nghĩ rằng Newton , người phát minh ra định luật hấp dẫn vũ trụ, được coi là phát minh vĩ đại nhất của lịch sử văn minh nhân loại, lại có thể kém như thế ư? Và tôi tự trả lời:

- Không thể được, chăc là mình dốt, không hiểu được ông ta, có lẽ Đức Chúa Trời có thật

Rồi tôi đọc tiếp câu chuyện Chúa sáng tạo vũ trụ trong sáu ngày. Tất cả như một truyện thần thoại dành cho trẻ con.

Khi đọc đến Tân ước, tôi lại thấy nhiều điều không thể chấp nhận được. Có thể tin chăng một bà mẹ đồng trinh sinh con, một người què được chữa lành, người chết có mùi đã được sống lại , chỉ nhờ lời phán ? Ai có thể đi bộ trên mặt nước, ra lệnh bắt bão tố vô tri phải dừng …? (….)

Đến Albert Einstein, nhà vật lý được coi là vĩ đại nhất của thế kỷ, đã phát biểu:

- Khoa học không có tôn giáo là mù lòa, tôn giáo mà thiếu khoa học là què quặt .

Lúc bấy giờ. Tôi chưa hiểu được nhiều, nhưng Chúa biết tôi là người từng được học nên đã dùng tiếng nói của chính các nhà khoa học thật lớn để mở mắt cho biết bằng cảm giác.

Không có và không thể có một máy móc nào đo được trí khôn. Vì vậy, quan niệm: Có Chúa hay Không có Chúa , là vấn đề Đức tin nằm ngoài phạm vi của khoa học, của cảm giác.

Nói theo ngôn ngữ khoa học đây là là những tiền đề ( axioms).

Thật ra tiền đề Có Chúa dễ tin hơn nhiều.

Nhà bác học Newton đã làm một mô hình hệ thống mặt trời rất đẹp để ngay trên bàn làm việc.

Một hôm có một người bạn vô thần đến thăm. Ông bạn khen mô hình đẹp quá và hỏi:

- Ai đã làm nên vậy ?

Newton cười hóm hỉnh trả lời:

- Tự nhiên mà có đấy thôi.

- Ông bạn không tin.

Newton trả lời:

-Thế tại sao cậu lại tin cái vũ trụ vĩ đại chuyển động nhịp nhàng này tự nhiên mà có, không cần Đấng sáng tạo ?...

(…..)

( Tiến sĩ Phan Như Ngọc- Hạnh phúc tuyệt vời )

- Cái này hay , nhưng với trình độ tôi thì khó hiểu rồi ! ông Đăng tiếp.

- Nhưng tôi biết rõ rằng có một điều - hầu hết mọi nhà dầu chưa tin Chúa Trời, mà phía trước nhà vẫn có bàn thờ THIÊN – vậy bàn thờ THIÊN này có phải là thờ TRỜI? Người Hoa tự xưng thiên tử mà không tin cha mình là Trời, cái này mới là điều lạ ? Ông Tường có kinh nghiệm gì về đức Chúa Trời kể cho nghe. Phải là câu chuyện có thật, đã trải nghiệm - nếu bình dân đại chúng một chút thì càng tốt – đừng lý thuyết cao siêu như mục sư tiến sĩ, thì chỉ có người trí thức mới dễ đồng cảm mà thôi .

Ngẫm ra có phần chí lý, chẳng hạn khi tôi lấy vợ, lễ cưới cử hành tại Phòng Sách Báp Tít, 68 đường Minh Mạng- Đà Lạt. Mục sư Mỹ Bill Roberston buộc học học thuộc vài câu tủ, từ tối hôm trước.

- Anh có bằng lòng lấy cô Khê làm vợ ?

- Có.

( quay sang hỏi cô dâu )

- Cô Khê có nhận ông Tường làm chồng ?

- Có

- Chiếc nhẫn này tượng trưng cho tình yêu bất biến Thiên chúa ban phát, các người không thể tự cắt chia lìa, ốm đau phải săn sóc nhau, lúc dư dả bạc tiền, bụng dạ no nê như lúc nghèo khó bụng đói meo – vẫn phải cùng nhau chia sớt vv…

( mục sư Mỹ xin lỗi tự nhận diễn tả tiếng việt vung về ).

-…chung qui là phải sống với nhau đến trọn đời – khi ra ngoài đường, chẳng may nhìn thấy cô gái nào đẹp hơn vợ mình – hay là cậu trai nào bảnh hơn chồng mình – thì phải bịt mắt lại, ngó lơ như không thấy, không biết, không làm quen. Hãy nhớ câu này” Don’t be lustful !” đó là đã làm theo ý Chúa.

Về Sài Gòn, vợ đòi đi thờ phượng ngày chú nhật ở Hội thánh Báp tít. Cả Sài Gòn khi ấy chỉ có hai nhà thờ Báp tít – một, trên con đường Công lý giảng tiếng việt – mục sư Chánh ( người luôn tự nhận là một trong hai thanh niên Báp tít đầu tiên ở Saigon ) chủ tọa - còn một nhà thở giảng tiếng anh cũng nằm trên đường Công lý, khúc ngã tư Yên Đổ.

Tôi đành chở vợ tôi đến nhà thờ giảng tiếng việt, và đến quán cà phê gần đấy chờ tất lễ đón vợ.

Cho đến 30/ 4/ 1979, sau khi nghe truyền đạo Lê Thiện Dũng ( nay đã là mục sư, hiện ở Hoa Kỳ) , tôi giơ tay tin nhận Chúa tại Hội thánh Báp tít Ân điển.

Thời kỳ này, rất, - rất là ít người tin Chúa – mục sư Chánh đến tận nhà dạy báp têm, và cuối năm , mấy bố con được làm phép báp têm , đầu nhín chìm trong bể nước trước sân nhà thờ. Lần này mục sư chủ tọa rơi mất kính cận, hai tay quơ quào, mắt nhằm, mắt mở hụp lặn trong bể nước mới tìm đôi kính cận có trên 11 mấy đi- ốp – tôi nói đùa :“ …vậy ra lần này “Ngài” cũng hụp lặn, thì coi như mới được tái sanh giống hệt chúng tôi thôi “ !

Tôi tin Chúa thì tin vậy thôi , đầu tiên để nghe thánh ca rất thú vị - nhất là Ave Maria, Silent Night - và chẳng chịu học lời Ngài, chẳng mở Kinh thánh đọc một dòng, một chữ - đến ngay vợ nhờ bỏ tiền dấng 1/10 ngày chủ nhật, lại giấu bớt xài riêng. Còn được nghe lời cầu nguyện của ai đó :”… xin Chúa đại dụng món tiền nhỏ bé này của chúng con để mớ mang nước Chúa “- thì tôi lằm bằm – đương kim thư ký Hội thánh thấy túi dâng tiền nhiều quá – nhất là buổi nhóm có tín hữu Báp tít Hàn quốc tham dự, tiền dâng bỏ vào phong bì mầu vàng, rồi bỏ chung vào giỏ tiền dâng của Hội thánh Báp tít bản địa. Khi tất lễ, thư ký X… một mình xách 4 giỏ tiền dâng hiến chạy ùa vào phòng dành riêng ban trị sự, đóng cửa sổ lại, khóa chốt cửa chính; rút chiếc phong bì màu vàng ( tín hữu Hàn quốc dâng) giắt vội vào túi sau để dụng đại ; rồi ung dung gọi bà thủ quĩ vào đếm tiền dâng hiến “… - ai lại để một mình tôi đếm, kỳ quá hà !”

Bà thũ quĩ tên Việt H… có đôi mắt tinh anh, đã nhiều lần theo dõi thư ký, lần này kiếm không thấy chiếc phong bì màu vàng của một con cái Hàn quốc dâng, bèn làm ra nhẽ - ông thư ký trả lời - đến ngay mục sư quản nhiệm chẳng kêu ca gì nữa là …-“ sao bà tư hóa có muốn tư hữu hóa chút đỉnh không nào ?” .

Rồi thư ký cúi đầu, miệng nhẩm lời cầu nguyện:

-“ Chúa ôi ! xin đại dụng món tiền này để mớ rộng thêm nước Trời – và Chúa ban cho tôi tớ ngài, là con đây, xin một ít dụng đại để nuôi vợ, con. Con nguyện dốc lòng đội ơn Chúa và hầu việc Ngài hết mình. A men !”.

Từ đầu thập niên 90, tôi bắt đầu tập hát thánh ca, để hát tôn vinh danh Ngài. Xin Ngài chỉ ra lỗi lầm con đang mang, Ngài tha thứ vi phạm, ngài phiếu sạch tội lỗi con bằng giòng huyết báu của Ngài, và Ngài ban cho con có trí nhớ thuộc lời cầu nguyện chung:

“ Lạy Cha chúng con ở trên trời ! Danh Cha được tôn thánh, nước Cha được đến, ý Cha được nên. Ở Đất cũng như Trời. Hôm nay xin cho chúng con đồ ăn đủ ngày, xin tha thứ tội lỗi chúng con, như chúng con tha tội những kẻ nghịch cùng chúng con. Xin chớ để chúng con bị cám dỗ. Vì Nước Quyền,Vinh hiển thuộc về Ngài đời đời, vô cùng. A men”.

Mỗi sáng, tôi dành 5 phút đọc một đoạn kinh thánh, suy ngẫm, cầu nguyện – không phải chỉ nghe làm đủ - còn phải biết làm theo. Cảm tạ Chúa cấp ma –na dung đủ ngày , cảm tạ Ngài khi thuận lợi, cả khi không – lúc khỏe, khi đau ốm, lúc hanh thông, khi hoạn nạn tôi đểu cúi đầu dâng lời cảm tạ Ngài . Nếu tin Chúa, chỉ để có miếng ăn độ nhật, thì kẻ lấy danh Chúa làm chơi, mưu cầu cơm áo, danh lợi – thì Ngài đã có lời phán xét” kẻ lấy bụng mình làm chúa đó thôi sao ?”…..


(trang 171- 179- trong
“ 5000 Km xuyên Việt” (Nxb. Thanh niên, Hà Nội 2008)
_____________________________  

ĐƯỜNG BÁ BỔN.




© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải ngày 07.10.2010 theo nguyên bản của tác giả .
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại