Chương 3


    Côn Sơn nắng mai tràn khung cửa. Đường thơm lá thông khô rải trên sỏi đá gập ghềnh. Tiếng chim kêu những chiều tà gọi bạn. Thông rợp mát che bóng tiều phu. Hồ nước thanh mát, nguyệt lồng đáy nước. Trăng sao vời vợi bầu trời đêm mịn như nhung. Cò nằm bãi. Hạc lẩn trong cây. Nguyễn Trãi ngày ngày mở sách xem Chu Dịch. Cảnh thanh nhàn, mảnh trời tĩnh lặng, làm cho Nguyễn luôn nhớ về làng Nhị Khê. Nhớ cha. Nhớ mẹ.

    Làng Nhị Khê quê cha đất tổ của Nguyễn cách kinh thành Thăng Long không xa về phía Nam. Ngôi làng cổ xưa nằm giữa cánh đồng lúa bát ngát. Luỹ  tre làng xanh biếc bao bọc những mái nhà tranh hiền hoà. Ngôi nhà của gia đình Nguyễn Phi Khanh vườn rộng, ao sâu. Trong vườn trồng rau hoa và rất nhiều cây hoa trái. Những cây chuối thả những buồng quả nặng trĩu.

    Nguyễn yêu những ruộng lúa nước vừa được cấy mạ non tơ, trải một màu xanh thành từng hàng, từng lối thẳng đều tăm tắp nổi trên mặt ruộng đầy nước. Hình ảnh những người phụ nữ đi cấy in sâu trong tâm trí Nguyễn. Nón lá nghiêng che, những cái lưng còng xuống, bó mạ trên tay, cấy mạ xuống bùn nước. Mỗi người cấy lúa trong dáng điệu khác nhau. Họ như những người dệt tấm thảm xanh trên những cánh đồng, trong vũ điệu “Bán mặt cho đất. Bán lưng cho giời”. Lòng họ ngân nga câu hát:

    Ai ơi bưng bát cơm đầy

    Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần

    Sự nhọc lòng một nắng hai sương của những người đàn bà đi cấy còn hiện lên trong dáng điệu họ cấy mạ phải đi giật lùi, lưng trải trên nền lúa xanh thẳng hàng, để lại dấu chân trên nước. Chỉ vài tháng sau, màu lúa xanh chuyển màu vàng quyến rũ, thành cánh đồng lúa trĩu bông nhả hạt ngọc nuôi người. Đó là dòng sữa mẹ Việt Nam chảy trên nền đất nâu bất tận đến chân trời.

    Nguyễn Trãi nâng bông lúa nơi đồng ruộng bùn nước, đặt lên ngôi đền  thơ của mình, nhắc người Việt Nam muôn đời sau- đừng bao giờ quên lúa. Lúa nuôi dưỡng sự sống dân tộc, đừng tham vàng mà bán đất trồng cây lúa. Lúa là nền tảng của sự mất/ còn, là nền tảng của nòi giống Đại Việt. Lúa là biểu tượng người dân ngàn đời xây nên Tổ quốc giang san.       .

    Tình yêu của muôn người dân lành hiền như hạt lúa cắm cúi trên “đồng cạn, dưới đồng sâu”. Họ ngửa mặt nhìn trời:

    Trông trời, trông đất, trông mây

    Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm

    Trông cho chân cứng đá mềm

    Trời xanh biển lặng mới yên tấm lòng

    Hồn non sông đất Việt tụ về hình tượng Bông lúa như tiếng gọi vừa xa xăm, vừa gần gũi, thôi thúc lòng Nguyễn Trãi đến bồn chồn. Nguyễn gọi vang: Hỡi đàn con đất Việt! Lúa và người xây nên sự sống bất diệt của dòng giống con Lạc cháu Hồng. Không thể nào thay đổi được! Chớ tàn hại lúa! Ruộng trồng lúa nước rất quí. Nước ta ở vào thế “Tam sơn tứ hải nhất phần điền”! Hãy be bờ, giữ nước, cấy mạ non cho cánh đồng xanh mãi mãi mượt xanh như biển lúa xanh bất diệt, vũ trụ ban tặng dân Việt từ thủa hồng hoang. Hỡi đàn con đất Việt! Ngày lại ngày, nên dành ít phút thành tâm tĩnh lặng, lặng im, im lặng… nối mình với cõi thinh không vô tận, vô cùng… nghe cánh đồng lúa hát ru.

    Thế kỷ XX. Nữ sĩ Ngân Giang. Nữ hoàng Đường thi Việt Nam sinh ra ở Thường Tín đã nghe thấu thông điệp của Nguyễn Trãi tiên sinh hơn năm trăm năm trước mà hoạ bài thơ Hoa Lúa bằng chất giọng Đường thi:

    Lúa tựa hoa cau dáng nắng hồng

    Hoa thơm ngào ngạt lúa mênh mông

    Gió rung sương sớm hoa vàng nhánh

    Ruộng óng thu chiều lúa trắng bông

    Sóng lúa dạt dào qua xóm ngõ

    Ngàn hoa phơi phới ngập thôn đồng

    Lúa vươn thân ngọc, ôi muôn thuở

    Hoa khép hương trời mấy chốc đông… 

    Lúa  ấp iu dòng sữa vạn hương

    Hoa vừa hé cánh lúc đêm sương

    Chập chờn lúa biếc từ muôn ngả

    Lay động hoa vàng ngát bốn phương

    Khi đến chiều nao bông lúa trĩu

    Ngày về thôn cũ đóa hoa vương

    Lúa hoa gắn bó cùng sông núi

    Hoa lúa, chao ôi đẹp dị thường!”

    Làng Nhị Khê huyện Thường Tín của Nguyễn Trãi ngày xưa ấy, cánh đồng vàng trải tận chân trời mênh mang, nơi Nguyễn khắc ghi trong tim hình ảnh người cha học rộng, tài cao, trí lớn, đau đáu niềm yêu dân , yêu nước. Nhưng sinh ra và lớn lên trong thời loạn, đời ông lận đận, ôm mối sầu nước non và thân phận. Mối ưu tư về một kiếp đoạ đày, Nguyễn Phi Khanh gửi hết vào thơ.

    Nguyễn Phi Khanh (1336- 1408) hồi nhỏ tên là Ứng Long, dòng dõi Định Quốc công Nguyễn Bặc thời Đinh, quê gốc ở Gia Miêu ngoại trang, huyện Nga Sơn- Thanh Hoá. Quê thứ hai ở Chi Ngại huyện Chí Linh- Hải Dương. Quê thứ ba ở xã Nhị Khê huyện Thường Tín- Hà Tây. Từ Nguyễn Bặc đến Ứng Long là mười đời. Tổ tiên Nguyễn Ứng Long có nhiều người là võ quan cao cấp và tiến sĩ xuất thân qua các triều đại. Ông nội của Nguyễn Ứng Long là Nguyễn Công Luật, làm tướng quân Giám quân Thiên Trường thời Trần Phế Đế. Nguyễn Công Luật có ba con trai đều giữ chức vụ Quản quân trong ba đội lính hoàng cung, bảo vệ vua Trần. Nguyễn Minh Du và hai anh đều là võ quan có trình độ, thông hiểu binh thư, binh pháp. Ứng Long là con trai thứ ba của Nguyễn Minh Du. Ba con trai Nguyễn Minh Du đều mê nghiệp văn, không theo nghiệp võ truyền thống của gia đình. Ứng Long văn hay chữ tốt được Chương túc hầu Trần Nguyên Đán chọn làm kiểm chính dạy cho con gái của ông là Trần Thị Thái.

    Cuộc tình của thầy đồ trẻ với Trần Thị Thái đẹp như thơ, như mơ, mà thật nồng nàn cháy sáng. Trai tài, gái sắc hoạ thi ca dưới trăng vàng treo lơ lửng cành xanh. Tình yêu nảy nở. Lửa gần rơm. Chàng và nàng học trò con quan xinh đẹp, đài các, giỏi cầm kỳ thi hoạ, đã quấn vào nhau trao duyên gửi phận. Họ quên cả đất trời. Quên lễ giáo “Nam nữ thụ thụ bất thân”. Chàng và nàng hoà hai thân thể vào nhau đắm đuối. Đê mê. Ân ái. Nàng mang thai. Giấu cha. Giấu mẹ. Rồi đến lúc không giấu nổi được ai. Nàng và chàng lâm vào tình thế khó xử. Chàng sợ quá bỏ trốn.

    Ông quan lớn Trần Nguyên Đán, thương con, quí trọng thầy đồ mà cưới gả con gái cành vàng lá ngọc cho chàng. Ông sai gọi Ứng Long về nói với chàng:

    - Vận nước sắp hết, biết đâu không phải là Trời xui thế, vị tất không phải là phúc của nhà mình. Người đời xưa đã có việc này. Không thấy Trác Văn Quân và Tư Mã Tương Như đó sao? Nếu được như Tương Như để tiếng đời sau thì ta cũng bằng lòng.

    Tư Mã Tương Như  đời Hán, học giỏi văn hay, Trác Văn Quân mê tiếng đàn của ông mà  theo. Về sau ông dâng bài phú, được Hán vũ Đế cho làm quan.

    Ứng Long trở thành con rể quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Quyền lực Trần Nguyên Đán ngang tể tướng.

    Năm sau, Ứng Long thi đỗ Thái học sinh, sáu tháng sau nhuốm bệnh. Nghĩ đến công danh sự nghiệp và lời bố vợ dặn dò, ông buồn tủi làm bài thơ cảm khái.

    Thu bệnh trung

    Tiêu tiêu phong động chuyển thê thanh

    Thiên địa sơ thu khách tứ linh

    Long khánh nhị niên tân tiến sĩ

    Kiều tài tam quán cựu thư sinh

    Thiếu niên cảm thụ Hàn Trung Hiến

    Đa bệnh hoàn niên Mã Trường Khanh

    (Gió thổi xào xạc trở nên thê lương. Trời đất buổi đầu thu thật hợp với tâm tình của khách. Vị tiến sĩ tân khoa năm Long Khánh thứ hai, vốn là anh thư sinh cũ ở nhà quan tể tướng. Đang còn trẻ, anh đâu dám phụ lòng ông Hàn Trung Hiến. Có điều gã Tư Mã Tương Như lắm bệnh, nghĩ thật nên thương! Bao nhiêu chuyện đều trái lòng người. Đêm càng lâu càng daì, ôm mối sầu dằng dặc, nằm tựa gối mấy canh tàn).

    Ứng Long đỗ đại khoa, nhưng vẫn không được bổ dụng. Vì phái quí tộc nhà Trần e ngại Ứng Long có vai vế về hàng quan văn, sẽ thêm quyền hành cho gia đình họ Nguyễn của ông, vốn đã có nhiều người nắm các chức trọng yếu về hàng quan võ (ông nội, cha và các bác của Nguyễn Ứng Long). Thượng hoàng Trần Nghệ Tôn dựa vào lệ nhà Trần, hạn chế bổ dụng những người họ khác lấy con gái nhà Trần, bỏ Ứng Long không cất nhắc. Trần Nghệ Tôn không nể mặt Trần Nguyên Đán, kẻ có công dẹp giặc phò ông ta lên làm vua. Ông ta cũng không chú ý đến tài năng của vị tân khoa tiến sĩ có thể giúp mình trị nước.

    Trần Nghệ Tôn phán:

    - Bọn ấy lấy vợ con nhà phú quí, là kẻ dưới phạm người trên, bỏ không dùng.

    Thế là suốt hai mươi bảy năm trời, kể từ khi thi đỗ cho đến hết đời nhà Trần Nguyễn Ứng Long bị bỏ rơi. Ứng Long đành trở về với nghề dạy học. Nỗi đau đời lặng lẽ theo ông. Một người đỗ đạt cao, vốn có hoài bão lớn, muốn đưa tài sức cứu dân, giúp đời mà bị đời bỏ rơi, chơi vơi trong màn đêm Đại Việt. Ông gửi hồn đau vào thơ. Thơ ông buồn, linh cảm thấy nỗi đời đen bạc, chẳng lành, lòng sầu tiếc công cha nghĩa mẹ, nghĩa thầy nuôi mình ăn học đỗ tiến sĩ mà không đền đáp được tình nhà. Ứng Long luôn nhắc công ơn người cha vợ là Trần Nguyên Đán.

    Vạn sự bội nhân tiêu tiệm vĩnh

    Trừ sầu khingoạ, số tàn canh

    (Muôn việc trái đời đêm chậm rãi

    Ngậm sầu trăn trở, đếm tàn canh!)

    Nàng Trần Thị Thái lấy Ứng Long sinh nở mấy lần không nuôi được. Năm 1380 mới sinh Nguyễn Trãi, sau thêm ba người con nữa. Sống trong cảnh nghèo túng, Trần Thị Thái mất sớm. Hồi nhỏ Nguyễn Trãi ở nhà ông ngoại Trần Nguyên Đán. Lên sáu tuổi cậu về Nhị Khê ở với cha, được cha dạy học chữ, dạy tình yêu con người cùng thiên nhiên vạn vật của làng quê…

    Thời ấy, Trần Nghệ Tôn tin dùng người cháu của mẹ mình là Hồ Quí Ly. Cử Hồ Quí Ly làm chức khu mật Viện sự, kiêm chức Đồng Bình chương quân quốc trọng sự, quyền ngang tể tướng. Năm 1388. Biết Hồ Quí Ly nhòm ngó ngôi vua, các ông Thái uý Trang Định vương Trần Ngạc, Thẩm hình viện sự Lê Á Phu, cùng cha con Tướng quân Nguyễn Công Luật… mưu lật đổ Quí Ly. Việc bại lộ, Hồ Quí Ly dựa vào uy quyền Trần Nghệ Tôn, bắt giết từ vua Trần Phế Đế, Thái uý Trần Ngạc, cho đến Lê Á Phu, Nguyễn Công Luật…

    Anh em Nguyễn Minh Du cố cứu vua, cứu cha, cứu bạn bè, nhưng không thành. Nguyễn Công Sách vì cứu mẹ mà bị giết. Nguyễn Hố, Nguyễn Minh Du chạy thoát. Về sau Nguyễn Minh Du cũng mất tích.

    Đến khi củng cố được địa vị của mình, Hồ Quí Ly tuyển dụng hai người anh của Ứng Long là Nguyễn Sùng và Nguyễn Thư vào làm thuộc viên ở Khu mật viện. Nguyễn Ứng Long được làm một chức quan nhỏ, thảo các văn kiện của triều đình.

    Đợi đến khi Hồ Quí Ly dời đô về Tây Giai (Thanh Hoá), cướp ngôi vua năm 1400, cho mở khoa thi Hội, Nguyễn Trãi ra thi, đỗ Thái học sinh (tiến sĩ). Tháng chạp 1401, Hồ Quí Ly bổ dụng Ứng Long làm Học sĩ Viện hàn lâm, kiêm tư nghiệp trường Quốc Tử Giám kiêm dạy Thái tử. Sau được thăng chức Trung thư thị lang…

    Nhưng nhà Hồ chỉ tồn tại đến năm 1406 thì mất nước về tay nhà Minh.

    Nguyễn Phi Khanh cùng con là Nguyễn Trãi chạy không kịp. Hai cha con bị bắt và giải sang Vạn Sơn điếm ở Hồ Bắc- Trung Quốc.

    Tại đây, Nguyễn Phi Khanh khuyên Nguyễn Trãi:

    - Con nên về quyết chí rửa thẹn cho nước, trả thù cho cha, nối chí cha, làm vẻ vang tổ tiên. Như vậy mới là đại hiếu. Hà tất cứ lẽo đẽo theo cha, mới là đại hiếu sao?

    Nguyễn Trãi ứa nước mắt, ngẩng đầu nhìn cao xanh  vòi vọi. Hận nước thù nhà bốc lửa trong đầu kẻ sĩ Đại Việt.

    Nguyễn vái lạy cha ba lạy rồi quay về Tổ quốc.

    Nghe lời cha khuyên Nguyễn Trãi ngậm ngùi về Thăng Long. Lòng nặng nề xót thương cha già héo hắt quê người, không biết sống chết ra sao. Nguyễn bồn chồn lo lắng ngày đêm. Thương cha. Ông quyết chí tìm cách trở sang Trung Quốc, thuyết phục nhà Minh phải thả Nguyễn Phi Khanh.

    Cuối cùng Phi Khanh được trở về Côn Sơn, chẳng bao lâu thì mất, thọ bảy mươi ba tuổi. Lúc đó, vào khoảng năm 1408, mộ táng ở Bái Vọng Sơn vùng Côn Sơn.

    Về Côn Sơn, Nguyễn Phi Khanh đau buồn về cảnh mất nước nhà tan, ông để lại những vần thơ tiêu sái:

    Bách niên phù thế giai nhân mộng

    Bán nhật thâu nhàn ngã diệc tiên!

    (Trăm năm trôi nổi đời là mộng

    Nửa buổi riêng nhàn tớ cũng tiên!

                                              * 

    Ngày lễ Vu Lan. Nguyễn Thị Lộ cùng Nguyễn Trãi leo lên Bái Vọng Sơn thắp hương kính lạy cha. Hai người đi từ sớm. Họ từ từ vạch đường cây rậm rạp, lên núi. Vừa đi nàng vừa hái những quả sim chín mọng cho Nguyễn.

    Ngôi mộ Nguyễn Phi Khanh nằm trên lưng núi, được xếp đá trang trọng, chắc chắn. Người nằm đó, lặng im nghe suối reo chim hót. Thanh tịnh và linh thiêng. Hai vợ chồng Nguyễn dâng hương hoa, lễ tạ người cha, lòng rưng rưng thương nhớ.

    Ngồi bên tảng đá đợi cháy hết tuần nhang, Nguyễn Trãi kể chuyện Nguyễn Phi Khanh cho Nguyễn Thị Lộ nghe. Những chuyện Nguyễn ấp ủ trong hồn, chưa bao giờ thốt thành lời.

    - Gia đình phải nhiều lần chạy loạn, tan tác mỗi người một nơi. Phụ thân ta là người con rất có hiếu, khi làm một việc gì thường nghĩ đến cha mẹ. Sau khi thi đỗ tiến sĩ, ông cảm thấy buồn vì xa cha mẹ. Hay khi ở trong núi tránh giặc cướp, cảm thấy rất đau khổ, thương cha mẹ già trên tuổi sáu mươi mà vẫn phải chịu cảnh can qua, ông gửi vào thơ:

    Lục dật từ than thiên lý cách

    Lưỡng niên khấu loạn nhất thân tồn

    (Mẹ già sáu chục đường xa

    Nước loạn hai năm kiếp khổ đau)

    Nguyễn Phi Khanh ít có dịp gần cha, vì ông nội ta là Nguyễn Minh Du là một võ quan cao cấp, thường bận nhiều việc. Phụ thân vốn thiên về văn nên dễ gần gũi nhạc phụ mình hơn. Qua một số thơ văn của phụ thân gửi tặng Trần Nguyên Đán, ta thấy mối tình của ông với nhạc phụ quả thật thắm thiết. Trần Nguyên Đán trước sau vẫn một lòng yêu mến Ứng Long, thường ngồi cùng chiếu, uống rượu hoạ thơ. Khi tướng công Băng Hồ tặng ông ngựa, ông có thơ cảm tạ. Khi tướng công đãi tiệc, ông cũng có thơ tặng. Cứ mỗi độ Xuân về, Tết đến, ông đều có thơ mừng tuổi tướng công. Ông nhiều lần theo tướng công đi chơi núi sông, thăm cảnh đẹp đất nước. Tình con rể với cha vợ như tình tri âm, tri kỷ. Những bài thơ ông viết về Băng Hồ là những bài thơ tả cảnh đẹp như mơ, tả tình xúc động:

Tiên vân tình nhật tuyết hoa niên

Yên cảnh, tam xuân thắng liễu xuyên

(Tuyết ánh trời mây  sáng khắp miền

Cảnh xuân sông nước đẹp vô biên)

   Hoặc:

Cực phố tà dương ca hoãn trạo

Kỷ nhàn đồng tải Hiếu liêm thuyền

(Chiều tà cuối bến dô hò rộn

Ai Hiếu liêm chung khách một thuyền)

Phụ thân coi tướng công Băng Hồ vừa là một người cha, vừa là một người thầy.

Ta đựơc phụ thân chăm dạy từ khi lên sáu  đến năm hai mươi mốt tuổi đỗ tiến sĩ. Thơ  của phụ thân, ta thuộc làu. Thơ phụ thân nhiều tình cảm gia đình thắm thiết, tình bạn bè tri kỷ, tình yêu nước, thương dân, yêu làng xóm đồng quê, cỏ cây hoa lá. Ta nhờ phụ thân mà biết sống cùng thơ. Nhớ vụ hạn hán kéo dài năm Giáp Tý (1384) làm cho khắp miền đất nước khô cháy. Phụ thân lo buồn, đau đớn, viết những bài thơ tâm sự cùng Băng Hồ, ông nói về nỗi thống khổ của người dân trong cảnh mất mùa, đói kém:

Đạo huề thiên lý xích như thiêu

Điền dã hưu ta ý bất liêu

(Mênh mông đồng lúa đỏ như thiêu

Khắp chốn kêu than xiết nỗi sầu)

Thêm nạn quan tham vơ vét, doạ nạt, cưỡng bức:

Lại tư võng cổ hồn đa kiệt

Dân mệnh cao chi bán dĩ tiêu

(Lưới tham quan lại vơ hầu kiệt

Mỡ béo dân lành hút đã hao!)

Phụ thân sáng tác rất nhiều thơ mùa thu. Cảnh nắng thu vàng đìu hiu cô quạnh, làm cho ông buồn việc đời, ngồi đốt trầm tựa gối, xem lá rụng chim bay, nghĩ ngợi miên man:

Khách hoài ủng chẩm khi miên hậu

Tâm sự phần hương ngột toạ trung

Đinh ngoại tảo sầu khan lạc diệp

Thiên biên sát lệ số chinh hồng

(Bâng khuâng ôm gối triền miên khách

Thờ thẫn, châm hương não nuột lòng

Sân trước quét sầu nhìn lá  rụng

Trời xa nhỏ lệ đếm chim hồng)

Phụ thân xem cuộc đời giống như xem đánh cờ. Ông buồn vì cuộc đời thay đổi trớ trêu. Mọi người đều đau khổ. Nhưng đau khổ nhất vẫn là dân đen, con đỏ. Ông thương mình. Thương người. Cũng có khi ông đi đây đi đó, thăm cảnh non sông gấm hoa kỳ thú, mong quên sự đời. Nhưng quên làm sao được. Men núi lên chùa Phật Tích, đi ngắm cảnh Tiên Du, hay nằm trong mái bồng giữa đêm khuya, trên dòng Hoàng Giang mà nghe mưa rả rích, đếm từng giọt, từng giọt như lệ lòng rơi. Không chỉ lệ của riêng mình, hoà lệ chung của mọi người.

Buồn đau đời như vậy, nhưng ông vẫn cố chịu đựng, không chán nản, ngã gục. Ông yêu cảnh sống thôn dã. Gặp ai cũng hướng về câu chuyện cấy ruộng, trồng dâu nuôi tằm, nuôi lợn gà, ao cá, vườn rau.

Ông khẳng định sức sống bất diệt của mình:

Thiên địa vị dung tư đạo xả

Giang sơn khẳng ngoại thử thân cô

Minh thời thảng hiệu nào phân bổ

Vạn lý ninh từ ngã bộc phô

(Trời đất lẽ đâu làm ta mất

Non sông chưa nỡ để thân ta cô

May ra giúp ích cho đời thịnh

Muôn dặm dù ta đã mệt phờ)

Ông tự nhủ mình vươn dậy sống mãnh liệt trong sức mạnh nội tại:

An đắc thử thân như thác thược

Hoà phong hư biến cửu chân tâm

(Thân này ống bễ ví làm được

Thổi gió hoà ra khắp chín châu)

Trong một bài thơ tặng bạn là Đỗ Tòng Chu đi xứ, ông đã tỏ rõ tình cảm lạc quan đầy chí khí:

Trượng phu há lại buồn ly biệt

Vỗ vỏ gươm cười nở lá gan

Bài phú Diệp mã chi (Con ngựa lá) dâng lên Hồ Quí Ly, phụ thân bày tỏ nhân sinh quan tích cực của mình, luôn muốn cho đất nước được thanh bình, nhân dân được yên vui:

Phàm những vật có hình hài ở trong thế gian hết thảy:

Hát múa trong gió xuân

Tắm gội trong hoà khí

Yên vui, thực sự yên vui

Thoả chí, thực sự thoả chí

Kẻ kỹ thuật phô diễn tài năng

Người trí thức tỏ bày chước quí

Dẫu vật nhỏ li ti

Cũng đua tài chút tí…

Vậy nên

Vật thiêng khác đời mà còn đáng yêu

Người hay khác đời mà không đáng quí?

Kính mong

Đem lòng yêu vật để lòng yêu kẻ  tài cao

Đổi chí  đãi vật để chí đãi người hiền sĩ”…

Trong hương khói linh thiêng bên mộ Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Thị Lộ lắng nghe, từng lời, từng giọt khóc cha của chồng mà rơi nước mắt. Nàng nuốt lấy từng âm thanh của Nguyễn Trãi, ghi tạc hồn cha. Người cha đã truyền cho Nguyễn Trãi sức sống mãnh liệt trong cảnh ngộ không kém Nguyễn Phi Khanh ngày xưa. Nàng bỗng tiếp thu được những bài học làm người của ông cha. Bỗng thấy mình thêm sức mạnh mới. Nàng sôi nổi nói với Nguyễn Trãi:

- Thân phụ là một nhà thơ lớn ở thời Trần, Hồ.  Ông chịu ảnh hưởng nhiều từ Trần Nguyên Đán, nhưng đậm tình người, tình quê, cuộc sống của người cùng khổ, tiếng thét xé lòng của bậc trí nhân, vì đại nghĩa muốn ra tay cứu đời, nhưng không được hiến dâng. Song con người ông tràn đầy chí khí, yêu đời mãnh liệt, không một lúc nào ngưng nghỉ. Bị sóng gió sự đời vùi dập, hồn thơ ông vẫn phiêu diêu. Ông chống lại sự mềm yếu của chính mình. Thiếp nhận thấy thơ của chàng chịu ảnh hưởng khá nhiều sức mạnh về chí khí của cha Nguyễn Phi Khanh. Thiếp nhận ra vẻ đẹp sáng ngời trong thơ phụ thân hoà cảm hồn mình với vũ trụ.

Thắp thêm một tuần nhang nữa trên mộ cha, Nguyễn Thị Lộ ngâm thơ Nguyễn Phi Khanh cho chồng nghe:

Trung thu hữu cảm

Kim ba tự hải mạn không lưu

Hà hán vi vân đạm đạm thu

Vũ hậu đài đã trữ nguyệt

Khách trung tình tự bất thăng thu…

(Sóng vàng như biển chảy tầng cao

Ngân Hán mây vun nhạt nhạt màu

Mưa tạnh đài cao chan chứa nguyệt

Nơi xa tấc dạ dạt dào thu…)

Nguyễn lặng nghe giọng ngâm thơ trầm lắng, trong trẻo của Nguyễn Thị Lộ. Nàng là Chung Tử Kỳ của đời ông. Nàng hiểu thơ là tâm sự của nhà thơ. Là máu và nước mắt thi nhân đọng vào nhạc chữ. Nguyễn Trãi cao hứng đọc bài thơ Ngẫu thành vừa vụt ra trong đầu:

Thế  thượng hoàng lương nhất mộng du

Giác lai vạn sự tổng thành hư

Như kim chỉ ái sơn trung trú

Kết  ốc hoa yên độc phụ  thư

Nguyễn giảng giải cho Nguyễn Thị Lộ hiểu  ý bài thơ này:

- Cuộc đời là một giấc mộng hoàng lương, tỉnh dậy thấy mọi sự hư không. Bây giờ ta chỉ thích ở trong núi, làm nhà bên khóm hoa mà đọc sách của cha.

Nguyễn Thị Lộ nắm đôi tay của chồng nhẹ  nhàng xoa vuốt:

- Vâng. Thiếp hiểu lòng phu quân. Sớm nay, thiếp đã tưới khóm hoa hồng, hoa cúc, hoa trà, hoa ngâu, mẫu đơn… trong vườn nhà chúng ta.


... CÒN TIẾP ...

© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 25.10.2010.

TÁC PHẨM CỦA MAI THỤC CHỈ PHỔ BIẾN
DUY NHẤT TRÊN HỆ THỐNG VIỆT VĂN MỚI - NEWVIETART