TÁC GIẢ
TÁC PHẨM




NGUYỄN THỊ HẬU



Sinh năm: 1958 tại Hà Nội.

Quê quán: Xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Tiến sĩ Khảo cổ học, cán bộ nghiên cứu Viện Nghiên cứu xã hội Tp. Hồ Chí Minh
Hiện là Phó Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử VN.






TẠP BÚT

TẢN MẠN VỀ NGƯỜI PARIS































Qúy Vị Đang Nghe

Sonate No.2--3-4 Op.35 dành cho dương cầm

cuả

Frédéric Chopin (1810-1849)












Le Quai du Louvre ở Paris
tranh của họa sĩ Pháp Claude Monet (1840-1926)





TẢN MẠN VỀ NGƯỜI PARIS


Tôi có thể biết gì và nói được gì về người Paris nhỉ, khi mà tôi chỉ tình cờ gặp họ trên đường phố hay may mắn hơn, được tiếp xúc vài lần trong thời gian ngắn ngủi tôi đến Paris?

Ấn tượng về người Pháp nói chung và người Paris nói riêng đến với tôi là từ ba tôi. Dù chỉ là giáo viên tiểu học thời trước năm 1945 nhưng ông có một vốn tiếng Pháp tuyệt vời và sự am hiểu sâu sắc nền văn hoá Pháp, như ông vẫn nói, là nhờ ông đọc rất nhiều sách tiếng Pháp. Trong nhà tôi có một tủ sách lớn mà phần nhiều là sách văn học được ba tôi cần mẫn tìm mua và gìn giữ suốt cuộc đời, kể cả những lúc khốn khó nhất. Cùng với tài sản “vật chất” quý giá này ông còn để lại cho chúng tôi tình yêu văn học – nhất là dòng văn học lãng mạn – cổ điển của Pháp (và sau này là văn học Nga – Xô viết). Từ đó, những nhà văn mà tôi vô cùng yêu thích cùng với nhân vật trong các tác phẩm của họ, trong tâm tưởng của tôi, chính là hiện thân của “người Paris”. Họ – những người không quen biết mà khi tôi tìm đến đã âm thầm giúp tôi lấy lại thăng bằng trong những khoảnh khắc chống chếnh đến rợn người …
Chút hồi hộp như sắp gặp lại những người thân quen từ thời thơ ấu. Bao thời gian đã trôi qua, liệu tôi có còn nhận ra được họ?…

Do thói quen nên những ngày ở Paris tôi thường dậy sớm. Một mình trên con đường vắng lặng, cảm nhận hơi thở mùa thu tinh khiết từ những vòm lá còn đẫm sương đêm, từ mùi thơm những khay bánh mì mới hay ly cà phê trong cửa hàng nhỏ…Trên phố có người thong thả dẫn theo bên mình chú chó lông xù trắng tinh có đôi mắt nhỏ đen láy, trông như hai cái nút trên tấm áo choàng bằng lông thú! Những người công nhân làm ca đêm trong dáng mệt mỏi vội vã đi về, có người ghé vào cửa hàng mua một chiếc bánh mì lớn còn nóng hổi, vừa đi vừa ăn thật ngon lành (gần nơi tôi ở cũng có việc “đào đường” để lắp đặt hệ thống xe điện trên mặt đất, phục vụ cho du lịch tham quan khu trung tâm “phố cổ” Paris. Nhưng việc đào đường chỉ tiến hành vào ban đêm để tránh nạn kẹt xe)… Ở mỗi góc phố đều có một quán cà phê mà trang trí và phong cách phục vụ hầu như không thay đổi từ hàng trăm năm nay. Ung dung bên làn khói nhẹ, ly cà phê và tờ báo, người Paris vẫn lưu giữ thói quen đón ngày mới trong những quán cà phê như vậy…Từ khoảng sau bữa trưa quán thường đông hơn. Người Paris và người đến với Paris hình như luôn nhàn nhã, họ có thể ngồi cà phê hàng giờ và chuyện phiếm về mọi vấn đề, để rồi Paris chỉ thực sự sống động từ khi chiều nhạt nắng cho đến lúc mọi con đường ngõ phố chìm dần dưới làn sương giăng mờ tím và ánh đèn trong từng ô cửa sổ lần lượt nhắm mắt…

Khoảng 8 giờ sáng đường phố bắt đầu nhộn nhịp. Dưới lòng đường từng dòng xe hơi nối đuôi nhau, có thể chậm nhưng không có hiện tượng kẹt xe ở các giao lộ, đơn giản vì mọi người đều tuân thủ tín hiệu đèn giao thông. Nếu có khách bộ hành nào lỡ qua đường đúng lúc đèn chuyển màu vàng hay đỏ thì dòng xe cũng tạm dừng để nhường đường. Người Paris đi bộ nhiều vì sử dụng phương tiện giao thông cộng cộng là chính. Họ luôn vội vã đến các bến xe bus hay mất hút trong đường hầm metro, trong ga xe lửa. Hầu như ai cũng đeo xách một chiếc túi khá lớn, chân đi giày vải mềm, thanh thiếu niên đi giày thể thao, máy nghe nhạc hay điện thoại đeo trên cổ, vừa đi vừa lắc lư theo tiếng nhạc… Những chuyến metro vào giờ cao điểm rất đông, nhưng chỉ cần một hàng máy soát vé tự động là đủ để cho dòng người trật tự ngay từ cửa vào. Trên các phương tiện giao thông công cộng, nhiều người tranh thủ chợp mắt vì quãng đường khá dài, hoặc đọc sách, báo hay một cái gì đó, thỉnh thoảng nhìn lên bảng điện báo tên ga dừng, ga sắp đến. Cũng có người trò chuyện nho nhỏ. Nhiều phụ nữ thường thay giày cao gót, cất giày vải và áo choàng vào túi khi sắp đến ga xuống. Trong trang phục của công sở hay một bộ quần áo lịch sự, ở họ toát ra một phong thái thật ung dung, duyên dáng… Trên một chuyến metro như vậy, khi tôi đang chúi mắt vào tấm bản đồ thì có cảm giác ai đó chăm chú nhìn mình. Ngẩng đầu lên tôi bắt gặp ánh mắt vừa vội vã quay đi của một người phụ nữ trạc tuổi tôi, có vẻ như chị là Việt kiều ở Pháp đã lâu nên dễ biết tôi là người “đồng hương” mới qua. Suốt quãng đường dài, chị – vì không thể “bất nhã” mà nhìn tôi mãi, tôi - vì rụt rè cũng không dám hỏi chị để làm quen…Cho đến một ga, lúc bước xuống chị mới nhìn tôi và nở một nụ cười, nụ cười làm cho mọi người Việt có thể nhận ra nhau ở bất cứ nơi nào trên trái đất… Tàu chạy rồi tôi vẫn thấy chị đứng đó, nhìn theo…

Dịp tôi ở Paris có Ngày hội Báo Nhân đạo – tờ báo của Đảng Cộng sản Pháp. Hàng chục báo của Đảng Cộng sản nhiều nước đã tham gia ngày hội này. Các gian trưng bày tuy nhỏ nhưng đều rực rỡ, nhiều tờ báo còn tổ chức biểu diễn văn nghệ dân tộc nên thu hút khá nhiều người ghé xem. Gian báo Nhân Dân của ta thì buồn quá, trưng bày lèo tèo vài tờ báo, panô, biểu bảng quảng bá làm từ những vật liệu cũ, thậm chí còn trông rõ hàng chữ cũ bị sơn đè lên… Dù khách có vài người nhưng cũng chẳng thấy ai tiếp khách. Vậy nhưng quầy bán thức ăn Việt Nam bên cạnh thì đông nghịt với hai món chủ đạo là phở (gói) và chả giò “ăn liền”. Những người phục vụ luôn tay, hỏi ra mới biết toàn là du học sinh Việt Nam tình nguyện đến phục vụ và tự tổ chức quầy hàng này. (Thế các cán bộ phụ trách trưng bày báo đâu rồi? Hình như các cô chú ấy đi… Hội chợ, gần đây thôi ạ, ở đó đang bán nhiều đồ hạ giá rẻ lắm!...). Tìm đến gian trưng bày của báo Nhân Đạo. Rộng rãi, sáng sủa, có cả sân khấu ca nhạc, nhiều quầy hàng lưu niệm bán các ấn phẩm của tờ báo. Tôi ghé vào mua mấy cái logo báo Nhân Đạo để làm kỷ niệm. Hai cụ bà tuổi chắc ngoài bảy mươi, tóc bạc phơ và đôi mắt đã kém tinh anh – cũng là người tham gia phục vụ tình nguyện – hỏi tôi có phải là người Trung Quốc không. Khi tôi trả lời tôi là người Việt Nam thì hai cụ mừng rỡ, cứ nhắc đi nhắc lại hai tiếng Việt Nam, rồi lấy huy hiệu gắn lên áo tôi và nhất định không chịu lấy tiền khi tôi mua thêm mấy chiếc nữa. Khi tôi tặng lại cuốn sách giới thiệu Bảo tàng ở TP. Hồ Chí Minh nơi tôi làm việc thì hai cụ nắm tay tôi hồi lâu mà mắt rưng rưng…

Cứ một hai bữa tôi lại ghé tiệm Internet ở đầu ngõ để lên mạng xem tin tức và liên lạc với gia đình. Tiệm nhỏ chỉ có khoảng mươi máy, khách phần nhiều là thanh thiếu niên ngồi “chát” hay e-mail, không thấy ai chơi game cả…Chủ tiệm là một anh chàng cao lớn, khuôn mặt vuông với bộ râu quai nón rậm đen nhưng trông vẫn hiền khô! Biết tôi muốn mua thẻ gọi điện thoại, bằng thứ tiếng Anh cũng khá như …tiếng Pháp của tôi, anh hướng dẫn tôi tìm trong một “rừng” thẻ điện thoại chọn loại nào gọi về Việt Nam có lợi nhất. Có lần tôi ghé vào lúc tiệm đông người không còn chỗ, thấy tôi tần ngần định quay ra, anh liền nhường tôi “máy chủ”: để gia đình bà ở Việt Nam không phải đợi lâu. Lần cuối tôi đến chào tạm biệt, anh đã tặng tôi một chiếc thẻ điện thoại và nói: Mong bà sẽ sử dụng khi bà quay lại Paris …Bây giờ tôi vẫn giữ chiếc thẻ này như ấp ủ một niềm hy vọng…

Chỉ dẫn tận tình mọi việc cho tôi trong những ngày ở Paris là anh bạn đồng nghiệp mà tôi mới quen trước chuyến đi. Đó là một người đàn ông cao, gầy, mái tóc bồng bềnh màu hạt dẻ đã chớm bạc màu. Đôi mắt xanh sau cặp kính trắng luôn ánh lên tia nhìn hiền hậu nhưng chiếc mũi nhọn thì trông khá hài hước. Nhìn anh tôi cứ nghĩ, khi về già chắc anh trông rất giống Cụ Vitaly*! Anh khá kiệm lời nhưng khi nói về các vấn đề khoa học thì rất sôi nổi. Là người phụ trách chính về nội dung và mỹ thuật cuộc trưng bày cổ vật Việt Nam, anh đã thuyết phục mọi người phương án trưng bày hay nhất, tuy vậy anh vẫn tế nhị hỏi ý kiến tôi. Khi tham quan một số bảo tàng ở Paris, tôi nhận thấy các loại hình bảo tàng cổ vật hay mỹ thuật vẫn “trung thành” với phong cách trưng bày “cổ điển” – nghĩa là lấy cổ vật và tác phẩm mỹ thuật ở thế “tĩnh” làm trung tâm của nội dung trưng bày, các thiết bị hiện đại và phương án mỹ thuật đều phải làm tăng thêm vẻ đẹp nhưng không được làm nhạt đi hay lấn át yếu tố lịch sử của cổ vật. Đơn giản là phải làm cho cổ vật trở nên sang trọng hơn, đúng với giá trị vật thể – phi vật thể của nó. Theo tôi, đó cũng là phương án tốt nhất đối với cuộc trưng bày này. Anh bạn đồng nghiệp xoa tay hài lòng và nói vui: Tôi cứ nghĩ không biết bà có đề nghị cho “bà Bovary”* mặc váy ngắn và áo hở bụng không? (anh muốn nói đến kiểu trưng bày cổ vật theo “mô hình hoá” hay “sân khấu hoá” đang thành “mốt” trong nhiều bảo tàng ở Đông Nam Á). Tôi cũng đùa: Vâng, nếu ông cho “Giăng Van Giăng”* mặc quần áo hip hop và đi giày Adidas??? Chúng tôi cười phá lên khi tưởng tượng ra cảnh đó! Vâng, Paris không chỉ lưu giữ những kho tàng di sản vật chất quý giá mà còn cả một truyền thống “văn hóa bảo tàng” hàng mấy thế kỷ, là đại diện tiêu biểu cho “trường phái cổ điển” của hệ thống bảo tàng trên thế giới.

Cùng làm việc với chúng tôi là những nhân viên các bộ phận nghiệp vụ bảo tàng, công nhân của một công ty chuyên vận chuyển và đóng gói cổ vật. Ở họ thể hiện phong cách làm việc hết sức chuyên nghiệp. Chuyên nghiệp vì mỗi người đều có một chuyên môn và sử dụng chuyên môn một cách thuần thục, đồng thời làm việc đúng chức trách và tự giác, không trông chờ hay ỷ lại người khác và vì vậy, quan hệ giữa những người đồng nghiệp hầu như không vướng bận điều gì. Mọi công việc dù nhỏ hay lớn luôn được tiến hành một cách suôn sẻ, hoàn thành đúng thời hạn với kết quả tốt, hiệu quả lâu dài.

Một lần trên chuyến xe lửa từ Paris ra ngoại ô, tôi thấy một người đàn ông trung niên mặc bộ quần áo đã sờn cũ nhưng lành lặn và sạch sẽ, tay cầm một xấp giấy đi dọc toa tàu và để cạnh mỗi người một tờ. Tò mò tôi cầm lên đọc. Tờ giấy có mấy hàng chữ in vi tính: “Tôi thất nghiệp và đang cố gắng tìm việc làm. Tôi còn 4 đứa con đang đi học. Cám ơn sự giúp đỡ của ông, bà!”. Một vài hành khách để một ít tiền lẻ lên trên tờ giấy. Người đàn ông đi đến cuối toa rồi quay lại, cầm lấy tờ giấy và tiền, hơi cúi đầu cảm ơn và tiếp tục đi sang toa khác. Dáng vẻ lặng lẽ, cam chịu nhưng ông không làm cho người khác khó chịu hay thương hại. Thỉnh thoảng trong các ga xe lửa hay metro tôi cũng gặp những người sống nhờ lòng hảo tâm của mọi người. Họ đánh đàn, biểu diễn ảo thuật hay chỉ ngồi yên lặng trước một tấm bìa có ghi vài chữ. Người qua lại dù giúp hay không giúp chút gì thì cũng không một cử chỉ, một ánh mắt nào có thể làm tổn thương đến những con người không may mắn ấy…

Dù Paris đã xa lâu rồi nhưng hình ảnh những con người tôi chỉ thoáng gặp vẫn còn tươi nguyên… Dường như cái xôn xao rất lạ của mùa thu Paris làm trái tim bỗng nhạy cảm hơn, để cho trong ký ức của tôi “người Paris” bỗng hiện lên sinh động: ân cần, hào hiệp, hóm hỉnh với chút gì lãng mạn, và trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn đầy lòng tự trọng – sự tự trọng ở mỗi con người nhưng cũng là của cả một nền văn hóa…


* Các nhân vật trong truyện “Không Gia Đình” của Hecto Malo, tiểu thuyết “Bà Bôvary” của Flobe (Flaubert) và tiểu thuyết “Những người khốn khổ” của V.Hugo.



NGUYỄN THỊ HẬU
vannghesongcuulong



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN BIÊN DỊCH HỘI HỌA ÂM NHẠC