TÁC GIẢ
TÁC PHẨM
NGUYỄN NGỌC TƯ
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976.
Quê quán : huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam.
. Hiện là biên tập viên Tạp chí Bán đảo Cà Mau.
TÁC PHẨM CHÍNH :
. Ngọn đèn không tắt - tập truyện . Giao thừa - tập truyện . Ông ngoại - tập truyện . Nước chảy mây trôi - tập truyện . Cánh đồng bất tận - những truyện ngắn
* Giải thưởng:
- Giải 1 cuộc thi "Văn học tuổi 20 lần thứ II" của Nhà xuất bản Trẻ, Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, báo Tuổi Trẻ tổ chức năm 2000 với tập truyện "Ngọn đèn không tắt".
- Giải thưởng Văn học của Hội nhà văn Việt Nam năm 2001 với tập truyện ngắn "Ngọn đèn không tắt". Tập sách này đã được chọn in lại trong "Tủ sách Vàng" của NXB Kim Đồng năm 2003.
|

Tranh của họa sĩ Huỳnh Phương Đông.

CÒN GÌ KHI VẪY CHÀO NHAU ? !
Bình thường, khách đến quê tôi rất vội, thời
gian của họ đã phai và rơi rụng theo cuộc hành trình quá dài. Bình thường,
khách chỉ có một mong muốn, và mong muốn duy nhất là được đi Đất Mũi, rẻo
đất cuối cùng trên bản đồ Việt. Mấy mươi năm đất nước bị chiến tranh chia
cắt, với nhiều người, nơi này là niềm mơ ước, là nơi thiêng liêng, là điều
tâm nguyện cả đời. Bình thường, đến đó, khách thích ngồi bên cột mốc tọa độ,
hay đứng dưới biểu tượng con tàu có chữ “Mũi Cà Mau” để… chụp hình. Quãng
thời gian còn lại không dài, chỉ đủ khách ăn bữa cơm với cá dứa, cá nâu,
nghe mấy cô phục vụ nhà hàng ca vọng cổ, làm vội mấy câu thơ, bẻ vài trái
đước, trái mấm, hay nắn cục đất bỏ túi, thì tàu về lại thành phố đã réo còi.
Bình thường thì tôi, một người bản địa, kiêm
hướng dẫn viên bất đắc dĩ nhìn cảnh ấy thấy lại mình, đã từng đi năm sông
bảy núi, rồi thì ký ức sạch trơn. Không thể nói biết Hội An, khi chưa đặt
chân qua bên kia bờ sông Hoài, không thể nói biết Sài Gòn, Hà Nội khi chỉ
quanh quẩn năm ba dãy phố, không thể nói biết Quảng Ninh khi chỉ vòng vèo
vài nẻo Hạ Long. Và bình thường, những lần đi cùng khách, tôi hay buồn, vì
nghĩ, mai kia tấm hình phai màu, câu thơ không còn nhớ, trái đước héo khô
rồi, cục đất thì tan thành bụi vụn, cái gì thuộc về quê tôi còn lại trong
lòng khách? Nhợt nhạt. Mù mịt.
Chị không thuộc về chuỗi bình thường mà tôi
gặp. Chị ngạc nhiên khi tôi gợi ý đi Đất Mũi, chị hỏi “Ở đó hay lắm hả ?”.
Tôi cười cười, “chỗ đó ai cũng muốn tới”. “Vậy nơi nào trên đất này mà em
muốn đưa tôi tới ?” Chị hỏi.
Câu hỏi đó làm tôi sướng ngây ngất. Nhiều nơi
lắm, chị ơi, tuyệt nhiên không có núi cao, hồ thẳm, không hoa thơm cỏ lạ.
Nhưng có đến đó mới thật là biết đất quê tôi.
Và cả hai người đã không phụ lòng nhau. Từ lúc
cùng giong ruỗi trên chiếc xe máy, chưa bao giờ mắt chị tắt ánh nhìn bỡ ngỡ,
môi chị luôn đậu nụ cười, gương mặt chị lúc nào cũng như đang say. Chị luôn
chắc lưỡi hít hà, khen quê tôi đẹp. Tôi không mảy may nghi ngờ rằng chị nói
chỉ để xã giao.
Ra đi từ những sớm tinh mơ và trở về lúc chiều
phai, cuộc hành trình của chúng tôi nhẩn nha, không vội vã. Chị trầm trồ tại
sao con đường nào cũng có con sông hoặc con kinh rượt đuổi, trông theo mình.
Chị bắt dừng xe chỉ để ngắm những bông lau nở trắng xóa hai bên đường, chỉ
để leo lên cây cầu ván chụp hình mấy đứa con nít cất vó dưới kinh. Chị nằng
nặc đòi xuống xuồng be chín, tay dầm lóng ngóng bơi đi trên con rạch rập rờn
những lá bông súng nhỏ. Chị thú vị với từng chi tiết của chiếc ghe bán hàng
bông, phát hiện ra tất cả vật dụng đều được thu nhỏ, cả con chó cò cũng nhỏ.
Chị ngẩn ngơ hỏi tên những bông hoa dại tím ngằn ngặt bên sông, chị ghi
chép, có khi vẽ cả hình, cái lu bụng tròn, còn khạp thì thẳng đuột, cây mác
vót nhỏ hơn dao yếm, lại có thứ nhỏ hơn mác vót gọi là dao trầu.
Đi xe chán, tôi đưa chị xuống tàu. Chị hỏi tên
tất cả con sông, tôi kể một hồi, chị kêu lên, tên sông cũng hay ghê, những
Gành Hào, Bảy Háp, Ông Đốc, Cái Tàu… Trong cơn chuếnh choáng, khách thích
nếm vị nước của từng con sông, ưa bồn chồn ngó qua thành tàu, giọng như reo
bởi phát hiện một điều ngộ nghĩnh, “hình như trên đất này, mọi thứ đều động
đậy, nhúc nhích. Sông ở đây cũng náo nhiệt, cũng đông đúc hơn những con sông
miền Bắc, miền Trung mà chị đã đi qua”.
Trong cuộc đi về xuôi ngược khắp xó quê, tôi
hay bất chợt ghé lại những ngôi nhà bên đường, viện cớ xin ly nước mưa đỡ
khát. Và những cuộc gặp gỡ đã xảy ra (như mong muốn), những nhân vật bình dị
không tên đã làm nên điều kỳ diệu, để nhớ đằm sâu trong khách phương xa. Một
bà cụ đã vào tuổi chín mươi lại liệu như hát, hễ giật mình là buột
miệng, “Ý đ… má mầy ra ba hồn bảy vía…”. Một em nhỏ quên chào người lạ vì
bận hì hụi trên đất dùng chai sành lăn cho láng… nền nhà. Một đứa bé mới
mười tuổi đầu mà thơm thảo, đãi chúng tôi món cá lóc nướng rơm, khoái chí
khi thấy khách (lớn đầu mà khờ) không biết ăn theo kiểu miệt vườn, vầy nè,
dễ ợt, chỉ là bẻ miếng cá nóng hổi cặp với lá chùm ruột non chấm muối ớt.
Một cô gái đen giòn mắt ngước nhìn ti vi mà vẫn thoăn thoắt bó chổi rơm như
thể tay cũng có mắt, thẹn thò khi hỏi tới chuyện chồng con, “em xấu ỉnh, ai
mà thương”. Những anh con trai cục mịch, lầm lì, nói chẳng ra câu cụt câu
què mà khi cất giọng ca bỗng trở nên đắm mê, ngọt ngào, lãng tử… Mỗi lần nắm
níu từ giã, mỗi lần nghe bà con nhắn vói theo “Đi mạnh giỏi cháu ơi, cho gởi
lời thăm hết thảy bà con ngoài đó” chị xao xuyến níu vai tôi, đất này, mỗi
người là một kỳ quan.
Chị không thấy đằng trước, tôi hớn hở đến nỗi
cười không khép miệng được. Trời ơi, sao lại có người đồng cảm với mình đến
vậy. Gọi tên những miền đất đã đi qua, tôi cũng hay nhớ người ở đó, trước
tiên. Những con người sống động trên cái nền phong cảnh đã mờ nhoè.
Chị không biết tôi cảm kích, tự hào biết chừng
nào khi tiễn chị về, khi vẫy tay chào, khi chuyến xe chở người - khách -
không - bình - thường đi khuất…
Hành trang của chị không có cục đất, bài thơ,
hay tấm hình… Chị nói, chị đến với mảnh đất nầy không phải vì muốn ghi thành
tích. Đến để hiểu biết, và yêu.
Quá hay!
NGUYỄN NGỌC TƯ
|