Chương 1


    Thăng Long- Đông Đô mùa Hạ 1433.

          Những trận mưa lớn liên tiếp. Hồ Lục Thuỷ tràn

    ngập nước. Từng cơn sóng lớn chìm nổi chập chờn. Lê Lợi linh cảm thấy mệnh của mình sắp hết. Ông biết không thể sống lâu hơn nữa trên cõi đời này. Con người chuẩn bị vĩnh biệt thế gian, thường phải dọn dẹp về lẽ được thua, còn mất.

           Sau những buổi thiết triều thư thả, Lê Lợi cùng bầy tôi trò chuyện trong vườn thượng uyển, dưới bóng cây muỗm quả chín lúc lỉu. Quan quân khôn nguôi nhớ về những tháng năm Lê Lợi hăng hái dấy nghĩa binh đánh giặc Minh.

           Lê Lợi hỏi:

    - Ta thắng giặc Minh cuồng bạo là vì sao?

       Các bề  tôi nói:

    - Vì giặc Minh hình phạt bừa bãi, chính lệnh bạo ngược, mất lòng dân  đã lâu. Còn vua thì trái lại. Lấy nhân          nghĩa thay bạo tàn. Đổi hỏa hoạn thành yên trị. Nên vua mới thành công chóng thế.

    Lê Lợi mỉm cười. Nụ cười không thanh thản. Trái tim đau buốt. Đầu óc choáng váng.

    Lê Lợi nghe đâu đây vang vang, hào sảng, giọng ai đọc thơ Nguyễn Trãi:

                          Bình Ngô đại cáo

             Hòa rượu cùng uống, binh sĩ  một dạ cha con

             Lấy yếu chống mạnh, thường đánh bất ngờ

             Lấy ít địch nhiều, hay dùng mai phục

             Rút cục, lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn

             Lấy chí nhân mà thay cuồng bạo…

             Việc nhân nghĩa cốt ở  yên dân…

    Lê Lợi ngắm gương mặt các đại thần. Chỉ có võ thần là Lê Lễ, Lê Vấn, Lê Ngân, Lê Lý… Văn thần là bọn Lê Linh, Lê Quốc Hưng… vẫn vây quanh ông đến phút này.

    Tự nhiên ông thấy lòng trống trải xót xa.

    Nguyễn Trãi đâu rồi? Nguyễn Trãi đâu? Nguyễn Trãi ơi! Ta đã để mất khanh từ bao giờ? Nguyễn Trãi ơi! Ta từng phong chức đại phu Nhập nội Hành khiển và ban quốc tính cho khanh là Lê Trãi. Vậy mà khanh đã bỏ ta mà đi. Khanh xin từ chức, về Côn Sơn ở ẩn. Bỏ lại kinh thành Thăng Long mà khanh yêu tha thiết. Bỏ lại ta. Người mà ngươi đã phụng sự suốt mười năm nằm gai nếm mật trong rừng, đánh giặc Minh. Ngươi đã vào sinh ra tử cùng ta.

    Ta biết lỗi tại ta. Lỗi tại ta. Ta mê lầm nghe lời xiểm nịnh, tống khanh vào ngục. Ta đã bỏ rơi khanh không tin yêu khanh như ngày xưa đánh giặc…

    Tâm trạng day dứt về Lê Trãi ám ảnh dằn vặt Lê Lợi. Từng đêm. Từng đêm. Ông nằm nghe tiếng vạc gọi đàn, rủ nhau đi ăn đêm mà lòng dạ bồn chồn. Loài vật còn biết thương nhau. Vì sao ta là con người lại để tan đàn xẻ nghé.  Vì sao ta phải lìa xa người tâm phúc của ta thủa cơ hàn, máu chảy đầu rơi, không tiếc thân mạng.

    Lỗi tại ta. Lỗi tại ta.

    Lê Trãi ơi! Làm sao ta có thể nhắm mắt xuôi tay mang xuống tuyền đài mối ân hận này.

    Đêm Thăng Long. Mưa dầm dề. Những cơn mưa mùa hạ chở đầy sấm sét đổ xuống Hoàng thành.

    Lê Lợi thức cùng mưa. Hình ảnh Nguyễn Trãi hào hoa hiện về. Bậc văn nhân nho nhã. Dáng thanh mảnh cao sang. Vị anh hùng của Thăng Long đã mười năm nằm gai nếm mật cùng ta xông pha trận mạc. Kẻ sĩ tài danh lặn lội từ Thăng Long vào rừng sâu Thanh Hóa tìm ta, dâng sách bình Ngô.

    Lê Lợi nhớ như in ngày đầu gặp Nguyễn Trãi. Bấy giờ ông đã được quyển binh thư và thanh kiếm thần, đêm nằm đóng cửa đọc sách.

     Nguyễn Trãi cùng Trần Nguyễn Hãn khăn gói tay nải khoác trên vai, nhòm qua khe cửa.

    Thấy động, Lê Lợi tuốt gươm xông ra.

         Hai người phủ phục nói:

    - Chúng tôi đường xa lận đận tìm đến ngài. Chỉ vì một buổi tối qua làng Thụy Hương ngủ ở đền, được thần báo mộng “Thượng đế nghĩ nước Nam vô chủ, nên có sai Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm tôi”.

    Lê Lợi cười lớn. Ngài lưu hai người lại bàn việc khởi binh.

      Nguyễn Trãi bảo:

      - Khởi binh là việc lớn. Chưa nên vội. Phải làm nhà dạy học thu hút dân bản vào việc nghĩa.

    Nguyễn Trãi chế ra những cái trống con, nấu mật đặc, nặn hình con gà, con chó cho lũ trẻ làm đồ chơi. Thấy thú vị, trẻ trong thôn bản đua nhau nói với cha đến xin theo học.

    Nguyễn Trãi lại lấy mỡ viết khắp lá cây trong rừng “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần”. Sâu kiến ăn mỡ, đục thành chữ. Dân đi kiếm củi thấy thế, cho là chuyện thần linh. Người nọ rỉ tai người kia, kéo đến đầu quân ngày một nhiều.

    Từ đó Nguyễn Trãi luôn cận kề Lê Lợi tham dự vào việc bàn tính mưu lược. Bao nhiêu thư dụ hàng, những bài biểu trao đổi hai nước đều do Nguyễn Trãi soạn cả. Kế sách Bình Ngô “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn/ Lấy trí nhân thay cường bạo” của Nguyễn Trãi đã giúp Lê Lợi thắng giặc Minh hung ác, mở nghiệp nhà Lê…

    Lê Lợi biết, ngòi bút Nguyễn Trãi có sức mạnh như ngàn ngọn gươm vung lên giữa trận chiến ác liệt. Nguyễn đã dùng bút đánh giặc bằng tư tưởng nhân nghĩa và ngoại giao tinh tế. Mỗi bức thư của Nguyễn là một vũ khí làm mềm lòng quân giặc, làm chúng hoang mang, kinh sợ, rã rời, khuất phục.

    Lê Lợi dấy binh chiến đấu chống quân xâm lược nhà Minh, trong quan hệ lực lượng rất chênh lệch. Nước nhỏ chống lại nước lớn. Lấy ít địch nhiều. Lấy yếu thắng mạnh.

    Lê Lợi đồng tình với đường lối tâm công mà Nguyễn Trãi đề xuất, làm vũ khí lợi hại để chiến đấu và chiến thắng.

    Không muốn giết người là bổn tâm của đấng nhân giả. Tâm công là đánh vào lòng người. Tâm công có ý nghĩa cao cả nhằm vĩnh viễn đè bẹp ý chí xâm lược của giặc. Những thư trao đổi giữa Lê Trãi và tướng lĩnh nhà Minh, là cuộc chiến tranh sáng/ tối trong lòng người, là cuộc chiến trên bình diện văn hóa, bản lĩnh, đạo làm người, giữa nhân nghĩa và bạo tàn…

    Lê Trãi đã viết thư chỉ vào mặt Phương Chính:

    Bảo cho mày ngược tặc Phương Chính: đạo làm tướng lấy nhân nghĩa làm gốc, trí dũng làm cành. Nay lũ mày chỉ chuộng lừa dối giết hại những kẻ vô tội, hãm người ta vào đất chết chẳng động lòng thương, trời đất không thể dong, người ma đều phải giận. Bởi thế muôn năm đi chinh phạt chỉ thua lụn bại…”

    Lê Trãi viết thư lên mặt thách đố, đe dọa kẻ thù, tỏ rõ bản lĩnh và ý chí quyết đánh giặc của dân tộc:

    Nay mày muốn đánh nhau thì nên tiến binh vào cùng ta quyết sống mái một keo, đừng nên dùng dằng để khổ cho hai quân nữa”.

    Thư dụ Vương Thông, giọng Lê Trãi vừa mềm, vừa rắn:

    “Xưa nay người giỏi dùng binh là ở chỗ hiểu biết thời thế. Được thời và có thế thì biến mất làm còn, hóa nhỏ thành nhơn. Mất thời và không thế thì trở mạnh ra yếu, đổi yên làm nguy, chỉ ở trong khoảng trở bàn tay mà thôi…

    Nay các ngươi kế cùng sức kiệt, lính tráng mỏi mệt, trong không lương thảo, ngoài không cứu viện, bám bíu lấy một khoảng đất, thoi thóp trong một mảnh thành, chẳng phải là miếng thịt trên thớt, con cá trong chậu rồi sao?...

    Nay ta nổi dậy quân nghĩa, trên dưới cùng lòng, anh hùng tận lực, quân lính ngày một luyện, khí giới ngày một tốt, vừa cày ruộng vừa đánh giặc, ắt bọn ngươi phải diệt vong…

    Nếu ngươi muốn rút quân về  nước, ta sẽ sửa sang cầu cống, mua sắm tàu thuyền, thủy lục hai đường, tùy theo ý muốn. Quân ra khỏi cõi, muôn phần bảo đảm được yên ổn, không lo ngại gì. Nước ta lại phụng cống xưng thần, theo như lệ trước. Nếu không nghe lời ta như vậy, thì nên sắm quân dàn trận, giao chiến giữa bình nguyên để một trận thư hùng, xem cái tài hơn cái kém, không nên ngồi rù một xó, bắt chước cái điệu bộ của đàn bà nữa”.

    Biết nguy cơ thua trận, không thể nào cứu được nữa, Vương Thông phải sai viên Thiện hộ họ Hạ đem thư đến dinh Bồ Đề tỏ tấm lòng thành thực cầu hòa.

    Lê Lợi sẵn sàng khoan dung, ưng thuận cho hòa. Nhưng các tướng sĩ và muôn dân, căm giận sự tàn bạo của giặc Minh bấy lâu nay, đồng lòng xin đánh đến cùng, giết bọn chúng không tha một mống. Hả được mối phẫn cho trời, đất thần, người, ma oan khuất, mát hồn oan các vong linh vô tội, rửa hận cho đất nước, giống nòi, thỏa lòng trung nghĩa của sĩ dân.

    Thấy nhiều người muốn như vậy, Lê Lợi phân vân, hỏi ý kiến quan Thừa chỉ Nguyễn Trãi.

    Nguyễn tâu:

    - Giặc Minh hung tợn, lòng người chứa oán đã sâu, nay muốn giết chúng không còn một mống, để trả thù hồn oan, không phải là không có lý. Song thần chỉ nghĩ nước mình là một nước nhỏ, tranh chọi với nước Tàu lớn hơn mình gấp mấy mươi lần, là một sự bất đắc dĩ.Vậy nếu có cách nào có thể dấp mối binh tranh gỡ nạn can qua cho trăm họ, lẽ nào mình lại bỏ qua. Tình hình quân giặc trong lúc này muốn mình phá vào sào huyệt, ăn gan uống máu để rửa mối thâm cừu, không phải là sự khó khăn. Nhưng thần trộm e như vậy sẽ kết mối thù với triều Minh quá sâu. Vì sự trả thù, vì sự cứu vớt lấy thể diện của một nước lớn, Minh chúa tất lại phái binh sang. Như thế cái vạ binh đao, biết đến bao giờ cho dứt được.         Chi bằng ta nên thừa lúc này kẻ kia lâm vào thế cùng mà cùng họ hoà hiếu để tạo phúc cho cả sinh linh hai nước. Hạ thần tin rằng nếu ta phóng thích bọn Vương Thông về, không lo gì bọn chúng sang đây quấy nhiễu nữa. Bởi chính Vương Thông đã chán nản việc dùng binh ở nước ta lắm. Chứng cớ là trong một vài bài biểu giấu vào giữa một sỏi sáp của Vương Thông đệ về Minh triều mà quân ta bắt được gần đây. Trong đó Vương Thông nói “Xin thôi đừng vì miếng đất hẻo lánh một  phương mà làm nhọc quân lính đi xa muôn dặm. Bây giờ muốn đánh phải dùng số quân như dạo ban đầu mang đi mà phải được chừng sau, bảy viên đại tướng như hạng Trương Phụ thì mới có thể mưu đồ được. Nhưng dù lại lấy được thì sự giữ sau này cũng khó lòng”.

    Lê Lợi nghe Nguyễn Trãi nói rất phải, nên đã tuyên cáo dụ với mọi người.

    “Trả thù báo oán, là thường tình của con người ta.  Không muốn giết người là bổn tâm của đấng nhân giả. Quân Minh từ khi sang nước ta cướp của giết người, tàn dân hại vật, nay đến lúc thế cùng lực kiệt, bó tay chờ chết, ta dù có giết chúng đi, cũng là cái tội đáng chịu của bọn chúng. Song chỉ vì nghĩ rằng giết kẻ cùng thì kế xin hàng là việc không nên chút nào cả. Dữ kỳ thoả mối lòng tức giận một buổi, để chịu tiếng chê muôn đời giết kẻ đã hàng, sao bằng buông tha mạng sống cho hàng ức vạn người, để tắt mối tranh chiến sau đây, sử xanh ghi chép, nghìn thuở dậy tiếng thơm”.

    Nghe lời cáo dụ của đức vua, mọi người không bàn ngang nữa.

    Tháng chạp năm ấy, bọn Vương Thông, Phương Chính đã đem quân về nước.

    Lời thơ Lê Trãi vang dậy non sông:

    Tổng binh Vương Thông, tham chính Mã Anh, lại được cho mấy ngàn cỗ ngựa,

    Về nước rồi còn tim thót chân run

    Nó đã tham sống sợ chết thực bụng cầu hoà

    Ta coi toàn quân là hơn

    Để dân nghỉ sức”.

    Nguyễn Trãi người anh hùng dân tộc đã giúp Lê Lợi mở  nghiệp nhà như thế đó.

    Núi sông còn ghi công Nguyễn Trãi.

    Mà Lê Lợi thì phụ bạc lãng quên người cận thần trung nghĩa. Quên Nguyễn Trãi. Ngài còn định giết Nguyễn Trãi nữa.

    Phút cuối đời Lê Lợi thấy ân hận xót xa.

    Ông không hiểu vì sao sáu năm trong ngôi vị đức vua trị vì thiên hạ, có những lúc ông bị rối loạn tâm trí đến như vậy? Ông nghe bọn nịnh thần nó nói xuôi nói ngược, mà mang lòng nghi kỵ với Nguyễn Trãi.

    Giờ đây, Lê Trãi ở đâu?  Lê Lợi cồn cào trong dạ, thảng thốt gọi thầm: “Về Thăng Long với trẫm đi! Lê Trãi ơi! Ta cần khanh ở bên ta phút ta đi về cuối đường hầm. Về với trẫm đi! Lê Trãi ơi! Vị công thần khai quốc của nhà Lê ơi! Về đây cùng trẫm phút cuối đời cho ta được nói lời cảm tạ trước khi về chín suối. Cho ta được giải thoát, không phải mang nỗi hối hận này xuống mồ. Cho ta được sám hối trước gương mặt sĩ phu tao nhã của khanh.

    Lê Trãi đâu rồi? Lê Trãi ơi!…

    Chương 2

     

    Thăng Long- Đông Đô.  Mùa Đông.

    Thuận Thiên năm thứ hai 1429.

    Triều đình Lê Lợi rối ren. Đại thần chia năm bảy phe nhóm. Lê Lợi rất lo, lệnh cho Nguyễn Trãi viết chiếu cầu hiền tài.

    Trẫm nghĩ, muốn thịnh trị phải được người hiền tài. Muốn được người hiền tài phải do tiến cử.

    Thời đại thịnh trị xưa, người hiền tài ở triều rất đông đúc. Người nọ nhường người kia…, làm nên thịnh trị yên vui…

    Nay trẫm gánh vác trách nhiệm nặng nề, sớm khuya kính lo cẩn sợ, như đứng bờ vực thẳm, chỉ vì chưa tìm kiếm được người hiền tài giúp nước. Vậy ra lệnh cho đại thần văn võ, mỗi viên tiến cử lấy một người, ở trong triều hay ở ngoài thôn dã…”

    Những tưởng Lê Lợi thực sự cầu hiền. Nguyễn Trãi thầm mừng được phụng sự đức vua anh minh. Nhưng sự đời đâu có dễ. Lòng người đen bạc. Hiền tài hay bất tài, phản nghịch hay trung thần, đều từ đôi tai ưa nịnh hót của vua mà ra. Không có luật lệ. Không có chuẩn mực. Sẵn kiếm bên mình, đức vua lệnh chém giết những công thần như trở bàn tay.

    Chẳng bao lâu Lê Lợi nghe bọn nịnh thần giết Trần Nguyên Hãn. Nguyễn Trãi là người bà con với Trần Nguyên Hãn, bị tống ngục. Sau vì không có chứng cớ, Nguyễn Trãi được tha. Ông ngậm miệng gửi lòng qua mấy câu thơ Nôm: “Tội ai cho nấy cam danh phận/ Chớ có thân sơ mới trượng phu”.

    Được tha tù, Nguyễn viết Biểu tạ của gián nghị đại phu “Nếu không được tiên đế xét rõ đáy lòng, thì hầu khiến tiểu thần ngậm cười dưới đất”…

    Từ đó về sau, suốt sáu năm ở ngôi Hoàng đế trị vì tại Thăng Long vì nghe lời gièm pha, Lê Lợi không tin dùng Nguyễn Trãi nữa.

    Bị ruồng bỏ ở Thăng Long, Nguyễn Trãi cùng vợ yêu Nguyễn Thị Lộ sống nghèo túng trong cảnh lặng lẽ

     “Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải”.

    May mà bên ông có Nguyễn Thị Lộ trẻ trung duyên dáng, tâm đầu ý hợp như Bá Nha và Tử Kỳ, sớm tối cùng chồng đọc sách ngâm thơ, uống trà, tiếp bạn, dạy con trẻ học, quên nỗi tủi sầu thế sự, quên thăng trầm nổi nênh thân phận kẻ trượng phu …

    Tuổi năm mươi tràn trề sung sức, trí lớn tung hoành, Nguyễn muốn giúp Lê Lợi thành “Vua Nghiêu thuấn/ Dân Nghiêu Thuấn”.

    Nhưng trời Thăng Long u tối. Lòng người điêu bạc. Âm mưu rình rập. Nguyễn Trãi đành chọn cách đi ở ẩn. Mới năm mươi tuổi Nguyễn đã phải đi ở ẩn. Một bi kịch lớn của người anh hùng tài đức đang độ nở hoa.

    Trong một buổi chầu, Nguyễn mạnh dạn dâng sớ lên Lê Lợi cáo ốm, từ quan, xin về Côn Sơn.

    Lê Lợi lòng đầy kiêu ngạo. Không ngờ Nguyễn dám xúc phạm ngài, xin từ chức quan lớn. Thế có nghĩa là Nguyễn không thần phục ngài và bá quan văn võ. Nguyễn dám coi thường ta?

    Lê Lợi đỏ mặt tía tai nói lớn:

    - “Lê Lợi vi quân. Nguyễn Trãi vi thần”. Khanh quên rồi sao?

    - Dạ muôn tâu bệ hạ, thuở ấy

    Vì  họ Hồ chính sự phiền hà

    Để  đến nỗi lòng người oán hận

    Quân cuồng Minh đã thừa cơ gây họa

    Bọn gian tà  lại bán nước cầu vinh

    Nướng dân  đen trên lửa hung tàn

    Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ

    Dối Trời lừa người

    Kế  quỉ quyệt đủ muôn ngàn khóe

    Gây binh kết oán, tội chồng chất ngót hai mươi năm

    Tan nghĩa nát nhân, đất trời chừng muốn sập…

    Chúng thần là kẻ sĩ Thăng Long, lo vận nước,

thương dân phải tìm minh chủ đứng lên cùng nhân dân đánh giặc. Chúng thần được thần linh mách bảo, nên đã tôn bệ hạ làm vua “Lê Lợi vi quân. Nguyễn Trãi vi thần”. Nay sự nghiệp đã xong. Xã tắc vững bền. Non sông từ đây đổi mới. Thần trộm nghĩ mình tuổi cao sức yếu, lại theo đuổi nghiệp cầm bút, nên cúi xin bệ hạ cho phép lui về ở núi, xênh xang bầu rượu túi thơ.

Lê Lợi nén giận. Ông bằng lòng cho Nguyễn Trãi về nghỉ nhưng vẫn giữ  chức quan Nhập nội Hành khiển, hằng năm phải về  chầu những buổi thiết triều lớn.

                                           *

Côn Sơn. Mùa Hạ 1433.

Sáng tinh mơ đẫm hơi thở nồng nàn của rừng thông điệp trùng. Màn sương mờ ảo khoác áo choàng trắng trên những cây thông xanh lá rì rào. Nguyễn Thị Lộ dậy sớm đun nước pha trà mai cho Nguyễn Trãi.

Từ ngày về Côn Sơn, Nguyễn thích uống trà mai. Những cành mai khô chẻ nhỏ, đun nước uống, cảm giác nhẹ nhàng, thanh khiết. Nguyễn hôm nay cũng dậy sớm hơn mọi ngày. Tiếng thông reo, chim hót ríu ran, gió mồm Nam mơn man dâng niềm vui thanh bạch, khiến hồn Nguyễn lâng lâng. Ông ngồi trên chiếc bàn ghế tre mỏng, lấy bút đề thơ.

Nguyễn Thị Lộ rót trà ủ vào ấm tích. Nàng rót một chén nóng thơm mang đến bàn viết của Nguyễn. Dòng thơ lai láng vừa dứt. Nguyễn nhận chén trà từ tay nàng, âu yếm:

- Nàng đọc to bài thơ này lên, ta muốn nghe giọng nàng  dịu ngọt lướt trên cỏ xanh.

- Vâng. Phu quân vừa thưởng trà vừa lắng nghe thiếp đọc thơ của chàng.

                Cỏ xanh cửa dưỡng để lòng nhân

                Trúc rợp hiên mai quét tục trần

                Nghiệp cũ thi thư hằng một chức

                Duyên xưa hương lửa tựa ba thân

                Nhan Uyên nước chứa bầu còn nguyệt

                Đỗ Phủ thi nên có  bút thần

                Nợ quân thân chưa báo  được

            Hài hoa còn bợn dặm thanh vân

Nguyễn chăm chú ngắm nàng đọc thơ mình, nhịp điệu êm đềm, cung bậc ríu ran. Đôi mắt nàng sáng rực, hai má ửng hồng. Hạnh phúc dâng đầy.

Nguyễn thì thầm:

- Nàng vui cùng ta từng câu, từng chữ.

Nguyễn Thị Lộ vui rộn rã. Bài thơ hòa hồn chàng với cỏ cây vạn vật. Hồn chàng quyện trong khối tình chồng vợ với nàng từ tiền kiếp. Chàng dùng triết lý nhà Phật để ca ngợi tình vợ chồng chung thủy hợp duyên tiền kiếp. Trái tim nàng reo vui trước hình tượng “Hương lửa ba thân”. Theo Phật, mỗi người có ba kiếp. Quá khứ. Hiện tại. Vị lai. Cái nhân duyên quá khứ sinh ra kết quả ở hiện tại. Cái nhân duyên ở hiện tại sinh ra kết quả ở vị lai. Vợ chồng nàng lấy nhau đời nay là nhân duyên kiếp trước “duyên nợ ba sinh”.

Nàng linh cảm khối tình của nàng với Nguyễn mang xuống tuyền đài chưa tan. Nàng ở với Nguyễn gắn kết keo sơn. Tâm đầu ý hợp. Nàng hiểu và chia sẻ được với Nguyễn từng ý nghĩ trong đầu, từng câu thơ buồn vui trăn trở, yêu thương ngập tràn. Nàng yêu Nguyễn thiết tha. Tình yêu của Nguyễn đã nâng nàng hiện ra một Nguyễn Thị Lộ. Nàng là Nguyễn Thị Lộ. Nàng không giống ai.

Có lần Nguyễn bảo: “Ta yêu nàng. Bởi nàng là Nguyễn Thị Lộ”.

Cảm xúc hạnh phúc miên man tràn ngập hồn nàng.

Nguyễn Thị Lộ  ôm ngang lưng chồng thốt lên: “Mình hẹn nhau từ muôn kiếp trước”.

Nguyễn Trãi hôn lên đôi mắt đẹp của nàng. Nàng cuộn tròn trong vòng tay nồng ấm của Nguyễn.

Rừng thông Côn Sơn rì rào hát ru tình, đưa chàng và nàng vào mộng…

    Nguyễn Thị Lộ nhìn sâu vào đôi mắt hiền trong

trẻo của Nguyễn. Một nét buồn trầm lắng hiện lên trong đôi mắt ấy.

Ái ân giữa bồng lai Tiên cảnh, cũng không đủ sức mạnh xua muộn phiền phảng phất trên đôi mắt thi nhân.

    Nợ quân thân chưa báo được

    Hài hoa còn bợn dặm thanh vân

    Tuổi năm mươi chí lớn tài cao, mong báo ơn vua, đền nợ nước. Đi ở ẩn ư? Bất đắc dĩ. Nhưng thời thế đẩy đưa. Biết thoái, biết lui mới xứng là bậc hiền nhân quân tử.

    Nàng hiểu thấu nỗi lòng của Nguyễn. Xót thương chồng. Nàng luôn giữ nụ cười hàm tiếu trên môi. Nâng niu hồn Nguyễn. Không chạm lòng đau của chồng.

    Nàng không dám bình hai câu thơ ấy. Nàng bóc củ khoai lang nướng, bốc hơi thơm nưng nức, mời Nguyễn và rủ chồng ra Động Thanh Hư đọc bài ký của Nguyễn Phi Khanh thân phụ Nguyễn Trãi. Nàng luôn phá tan nỗi đau trong hồn Nguyễn bằng những cuộc dạo chơi thú vị nơi non nước Côn Sơn…

     

                                     * 
       

    Động Thanh Hư- Côn Sơn, nơi tướng công Băng Hồ Trần Nguyên Đán, bố vợ Nguyễn Phi Khanh, ông ngoại Nguyễn Trãi về ở ẩn.

            Trần Nguyên Đán là nhà chính trị, nhà  thơ Việt Nam thế kỷ IVX, là chắt Trần Quang Khải người hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường. Vốn dòng tôn thất nên được làm quan từ rất sớm. Dưới triều Trần Dụ Tôn làm đại quan ở Đài ngự sử, sau vì có điều không vừa ý nên xin từ chức. Năm 1370 cùng nhiều tướng lĩnh đánh dẹp Dương Nhật Lễ, lập Vua Trần Duệ Tôn lên ngôi, được phong chức Tư đồ. Bấy giờ nhà Trần suy, vua không có thực tài, quyền bính tập trung vào Hồ Quí Ly.

    Trần Nguyên Đán thấy rõ nguy cơ đe dọa dòng họ Trần, ông xin về nghỉ ở Côn Sơn, sống cuộc đời nhàn dật. Nhưng ông vẫn đau đáu với thời cuộc. Những ngày ở ẩn cũng như những ngày làm quan, nỗi dằn vặt lớn trong hồn ông là lòng thương dân và cảm thấy mình bất lực, đến trở thành vô dụng. Những tứ thơ Băng Hồ tiên sinh buồn da diết.

    Nguyễn Thị Lộ thường ngâm ngợi một mình bài thơ chữ Hán của Băng Hồ, mà xa xót thương Nguyễn Trãi:

                         Nhâm Dần lục nguyệt tác

                        Niên lai hạ hạn hựu thu lầm

                        Hòa cảo, miêu thương, hại chuyển tâm

                        Tam vạn quyển thư vô dụng xứ

                        Bạch đầu không phụ ái dân tâm

            (Mấy năm liền hè hạn hán thu lụt lội

            Lúa khô, mạ hỏng tổn hại rất nhiều

            Đọc ba vạn cuốn sách mà thành vô dụng

            Đầu bạc tuổi già rồi, luống phụ lòng yêu dân)

    Nguyễn Trãi của nàng giờ đây cũng đầy ắp tâm trạng giống ông ngọai ngày xưa. Nàng nhiều lần định nói với Nguyễn điều này, nhưng sợ chàng chạnh lòng đau. Nàng đành ngâm ngợi một mình.

    Càng ngâm thơ Băng Hồ, Nguyễn Thị Lộ càng thương chồng da diết. Tình thương ấy ngấm sâu trong từng tế bào, hiện hữu trong hơi thở nồng nàn nàng lặng thầm dâng Nguyễn.

                                                            

                                        

                                          * 

         

    Nguyễn Trãi thong thả đi bên người vợ trẻ. Nàng lướt nhẹ, uyển chuyển. Ánh sáng rực rỡ sườn non. Họ dừng lại tấm bia đá ghi bài ký Thanh hư động ký.

    Nhiều lúc Nguyễn Trãi ứa nước mắt trước tình cha mình là Nguyễn Phi Khanh, con rể Trần Nguyên Đán thấu lòng cha vợ như chính lòng mình vậy. Ông về Thanh Hư Động viết bài ký tạc vào bia đá nhân cách Băng Hồ tiên sinh, gửi cháu con…

    Nguyễn Thị Lộ nhìn từng nét chữ sáng tươi trên bia đá. Nàng bảo Nguyễn:

    - Thiếp đọc cho chàng nghe những lời của phụ thân ghi trên bia. Phụ thân dành cho chàng đấy. Chàng lắng nghe nhé.

    - Ta rất muốn nghe. Nàng đọc đi.

    Giọng trong trẻo của Nguyễn Thị Lộ vang lên truyền cảm, như luồng điện sinh học, ướp hồn Nguyễn Trãi:

      Kẻ hiền tài có khi ra giúp đời, có khi nghỉ ở nhà, khi hành động giúp đời, hay khi vui nhàn  ở nhà, đều thuận theo lẽ  Trời cả. Vậy Trời là  gì? Trời chỉ là một khối lớn cực kỳ  trong sáng (thanh) cực kỳ  trống không (hư) mà thôi. Bốn mùa tiếp nối thành năm mà không kể công lao, muôn vật sẵn sàng chịu ơn mà không hề ghi thành tích. Không phải là một khối lớn cực kỳ trong sáng, cực kỳ trống không thì đâu được ổn định như vậy?

      Tướng công Băng Hồ nhà  ta, một bậc anh tài, non sông chung đúc, bày mưu kế cho nhà  vua, làm rường cột cho xã tắc. Hồi xảy ra loạn đại định, tướng công góp phần dẹp yên nội biến, dốc lòng gánh vác giữ gìn nền tảng nước nhà trong thuở lung lay. Gặp phải lúc đất trời khép lại, nếu không phải là một người biết hành động theo lẽ Trời thì đâu được như thế?

      Kịp khi tình hình biến loạn đã dập tắt, kết quả nhân nghĩa rõ rệt, nghiệp vua vững như âu vàng, vận nước vững như bàn thạch, thì lúc đó, chí hướng lớn lao như Lưu hầu, Tấn công của tướng công phát sinh không thể ngăn cản được nữa. Cho hay, đó là dịp sáng suốt giữ mình của tướng công. Nếu không phải là một người biết vui nhàn theo lẽ Trời, thì đâu được như vậy?

      Bởi thế, tướng công tâu vua, xin một khu đất hoang ở Côn Sơn, để dựng nhà  làm nơi về hưu. Hai vua vốn quí  trọng công lao của tướng công, ý muốn lưu lại, nhưng chí tướng công đã quyết, đành thể theo nguyện vọng của tướng công.

      Tiếp đó, tướng công xem xét  đất dai, đo đạc hình thể. Rồi một hồi trống đánh lên, mấy vạn người xúm lại, phát lùm cây rậm rạp, san gò đá gồ  ghề, dòng suối gạn trong, lối hoang mở rộng. Có đủ nhân công, vật liệu, liền đắp móng xây tường, việc làm liên tiếp, không đầy một tháng mà công trình xây trát, kẻ vẽ đều từ xa nhìn tới, thấy toàn màu xanh, đi ngắm toàn vùng, bao nhiêu vẻ đẹp, bao nhiêu cảnh trí muôn hình với tên gọi khác nhau dù ở nơi yên nghỉ, hay nơi vui chơi đều gọi chung là Động Thanh Hư.

      Công việc xong xuôi, vua Duệ Tôn tự tay khắc bia treo trước cửa động, còn Thượng hoàng (Nghệ Tôn) tự làm bài minh khắc vào trong vách đá, nhằm vừa để ghi nhớ công lao của tướng công, vừa để ca ngợi cuộc đời của tướng công.

      Tướng công ở triều lui về, rong ngựa đường Gia Lâm, xuôi thuyền bến Bình Than, rồi có lúc, cùng bạn trèo non, như ông Tạ phó, hay có lúc ngâm bài Qui khứ như ông Đào Tiềm.

      Khói đầu non, ráng ngoài đảo, gấm vóc phô bầy, hoa dọc suối, cỏ ven rừng, biếc hồng phấp phới. Bóng mát để nghỉ, chỗ vắng để ngồi, mùi thơm, ngát lịm, sắc đẹp mê hồn. Phàm những hình ảnh trong mát, tiếng suối tuôn reo, xa vời mà hư không, sâu thẳm mà thanh tịnh mới hợp được tai mắt tâm thần người ta, ở đây đều đủ cả, dường như tướng công đã hòa mình với bầu trời mênh mông mà vui chơi ra ngoài muôn vật vậy.

      Ôi! Trong khoảng vũ trụ  , tạo hóa bày ra những cảnh trí  như vậy để chờ  người đến vui chơi, không phải là  ít. Nhưng khốn nỗi khi đã thành công như Tiêu Hà, người công thần khai sáng đó lại bị giam cầm, hay như Mã Viện, người ngoại thích chí thân đó lại bị gièm pha, há chẳng phải công đã thành mà không biết rút lui đó sao? Đến như Vĩnh Phúc mười lần xin nghỉ mà không thỏa được cái chí nhớ sông Dĩnh, Ôn công hằng năm đau ốm mà vẫn không toại được cái lòng nhớ sông Lạc, há chẳng phải việc về hưu cứ mong đợi vẫn khó có dịp đó hay sao?

      Nay tướng công nhà ta, trước kia Trời  đã giúp cho hội công danh, rồi sau lại dành cho cảnh núi rừng, không hề mang cái tiếng công thành mà không biết lui, không phải than cái điều muốn lui mà khó gặp dịp. Ấy là bởi ra giúp đời, hay nghỉ ở nhà, khi hành động hay khi vui nhàn đều thuận lẽ Trời cả. Vậy còn ân hận gì về việc tạo hóa bày ra cảnh để đợi người nữa sao?

      Ấy vậy, ở cương vị  của đại thần, tướng công lúc tiến, lúc thoái  đều có quan hệ với vận mệnh nước nhà.  Đó là điều lo suốt đời của người có chí lớn, không như kẻ tầm thường, khi được vua dùng thì lo được, rồi lại lo mất, khi được chức vụ thì bôn xu nịnh hót, không từ một điều gì không làm, khi mất chức vị thì giận dỗi xa lánh, ôm lòng bực tức. Những kẻ này không thể sánh với người hiền tài có chí hướng, lúc tiến, cũng như lúc thoái như tướng công.

      Than ôi! Cảnh quang tạnh của trời đất vốn khó lường, nhưng chí giúp đời của kẻ hào kiệt tất phải gặp hội. Ước gì ta được cất mình lên khoảng Trời “trong sáng” và “trống không” bắt chước tướng công vui chơi cùng tạo vật!”

    Tiếng Nguyễn Thị Lộ vừa dứt. Nguyễn Trãi bừng cơn mơ. Hồn chàng bay theo giọng đọc trầm bổng thiết tha buông giữa hư không của nàng mà gặp hồn ông ngoại, hồn cha Nguyễn Phi Khanh.

Đôi mắt ngân ngấn lệ Nguyễn thầm gọi “Cha ơi!”.

Tiếng Nguyễn gọi cha của chồng, làm Nguyễn Thị Lộ trào nước mắt.

Im lặng mênh mông.

Những cây thông thẳng đứng trầm mặc giữa trời xanh. Gió đưa hương vời vợi.

Nguyễn Thị Lộ nâng vạt yếm lau nước mắt cho chồng.

Nguyễn Trãi thầm thì khe khẽ:

- Nàng có nghe tiếng phụ thân đang nhắc nhủ chúng ta không?

    - Vâng. Thiếp đã nghe thấu tiếng cha trên khoảng trời mênh mang. Thiếp cảm nhận tấm bia khắc ghi lời thân phụ như một vầng trăng sáng ánh vàng giữa mảnh trời xanh bát ngát. Mình soi vào đó, thấy hình bóng người xưa và thấy cả bóng hình mình ẩn hiện. Người xưa đã sống, đã yêu, đã đau buồn khắc khoải như thế nào, thì mình nay cũng vậy thôi. Thiếp hiểu lòng chàng. Thiếp xin chắp tay tạ ơn ông ngoại Băng Hồ tiên sinh. Tạ ơn cha thi sĩ lừng danh Nguyễn Phi Khanh. Ông Cha đã truyền sức sống của mình cho chàng, cho thiếp. Thiếp nghe trong làn gió thơm từ ngàn thông thổi lại, tiếng mẹ ru à ơi, tiếng ca dao từ muôn kiếp trước…

    Con ơi nhớ lấy lời cha

    Bảo nhau chớ có vào ra chốn này

    Chốn này là cảnh đoạ  đày

    Trăm nghìn tai hoạ gieo đầy trên vai

    Chữ nhẫn là chữ  keo vàng

    Ai mà nhẫn được thì  càng sống lâu…

    Nguyễn thị Lộ vừa hát ru, vừa nắm tay Nguyễn vuốt ve những ngón mềm mại búp măng, cầm bút uyển chuyển như rồng bay phượng múa.

           Nàng dịu dàng hỏi:

    - Phu quân nghĩ gì về Băng Hồ tiên sinh, nói cho thiếp nghe với.

    Nguyễn ôm Nguyễn Thị Lộ vào lòng:

    - Nàng ngồi sát cạnh ta đây, trên phiến đá này, dưới bóng thông già phơi sương, ngậm gió đã gần trọn trăm năm. Ta kể nàng nghe chuyện cũ về Băng Hồ tiên sinh.

    Như mèo con nhảy vào lòng người, chờ âu yếm. Nguyễn Thị Lộ  xà vào lòng chồng, thân ngọc dịu dàng hơi ấm.

    Nguyễn Trãi chậm rãi từng lời trầm lắng:

    - Băng Hồ tướng công là thân tộc nhà Trần. Cha là Nhập nội thái bảo, Uy túc công. Công húy là Nguyên Đán, nếp nhà thi lễ, nòi giống thần minh, trăng trong gió mát, có nhã thú xa lánh cõi trần, ngày trắng tuổi xanh, có hoài bão một lòng vì nước. Xưa trong buổi Dương Nhật Lễ bội hoạn, đi theo hai vua Nghệ Tôn và Duệ Tôn chạy ra ngoài, khi dẹp yên được phong làm tướng. Giữ vững cơn lay động, gỡ mối sau buổi rối ren, trong khoảng mấy năm, trong nước yên lặng, người ta khen là hiền tướng. Người trong thiên hạ, dù là trẻ con, dân, lính, tướng, chẳng ai là không biết tiếng. Từ khi họ Hồ được tiến dụng, Công nói: “Người quân tử thấy cơ thì làm, không chờ đến cuối ngày”. Bấy giờ  bèn dựng động Thanh Hư ở núi Côn Sơn, để làm chỗ ngơi nghỉ. Động làm xong, Duệ Tôn tặng ba chữ ngự bút “Thanh Hư động”, nêu ở mặt bia. Nghệ Tôn tự chế bài minh bia khắc vào lưng bia.

    Băng Hồ tuy thân gửi suối rừng, mà chí thì ở tôn xã,lòng ưu ái chưa từng một ngày quên. Hoặc đi hoặc ở, khi động khi tĩnh, đều là có ý can gián, nhưng Nghệ tôn không nghe đến, thích kẻ xu phụ. Thế nước ngày càng suy. Không làm sao được nữa, Băng Hồ lui về hưu mà lòng nguôi ngoai thương dân cùng khổ.

    Cuối cùng, Băng Hồ ốm mà không uống thuốc, con cháu có người khuyên thì Công nói: “Thời sự như thế, ta được chết là may rồi, sao còn cầu sống để thấy họa hoạn?”

    Băng Hồ mất chưa được bao lâu, thì họ Hồ cướp được ngôi vua, giết hại con cháu họ Trần không sót ai.

    Cái trí sáng suốt thấy trước thời cuộc của Băng Hồ tiên sinh như thế đó. Băng Hồ có viết “Băng Hồ ngọc hác tập” truyền cho đời.

    Con trai, con gái Băng Hồ có mười một người, sau cuộc binh đao, ít người còn sống. Mẹ ta là con gái thứ ba của ông. Mẹ mất trước ông. Thuở còn chập chững bước đi, ta mồ côi mẹ, được ông đưa về Côn Sơn nuôi dạy. Bao nhiêu chữ, bấy nhiêu hồn thơ, tư tưởng nhớ nước thương nòi, Băng Hồ đã truyền cả cho ta. Nay ta muốn dựng lại nhà ở dưới núi Côn Sơn để tứ thời cúng tế, mà chí chưa được thỏa. Ta mượn thợ vẽ tranh chân dung Băng Hồ, chép chuyện ông ở phía sau, cất ở nhà, ghi nhớ không quên, và cũng là cách để ta tiếp nhận được linh khí của ông, gần với tấm lòng Băng Hồ, học đạo làm người từ ông để bước đi những tháng ngày dài cô lẻ, lùi về ở ẩn như ông ngày xưa ấy…

    Nguyễn càng nói, giọng càng trở nên xúc động.

Nguyễn ôm chặt Nguyễn Thị Lộ trong lòng như muốn dồn cảm xúc dâng trào trong hồn mình sang nàng:

    - Nàng biết không? Mẹ ta qua đời. Ta côi cút bé bỏng, được ông ngoại dắt về Côn Sơn nuôi dạy. Người đã dạy ta chữ Hán, dạy niêm luật thơ Đường. Dạy ta biết yêu cỏ cây, chim, hoa, núi rừng, đồng ruộng, yêu những người dân lam lũ, khó nghèo. Dạy ta biết nói lời ngay thẳng, biết sống theo đạo làm người. Người đã dạy ta đọc sách, ngâm thơ. Người còn dạy ta biết yêu nàng nữa. Nàng có hiểu không?

    Câu chuyện tình giữa cha ta với mẹ ta, con gái Băng Hồ tiên sinh là một thiên tình sử tạc vào non nước. Chẳng khác gì câu chuyện cổ tích nàng công chúa Tiên Dung lấy chàng Chử Đồng Tử nghèo xơ xác, không mảnh vải che thân.

    Nguyễn Thị Lộ ôm hôn chồng thắm thiết.

    Chưa bao giờ Nguyễn thổ lộ hết lòng mình với nàng như buổi sáng nay. Nàng bỗng thấy mình lớn lên, mạnh mẽ gấp nhiều lần bên Nguyễn. Nàng đã được Nguyễn trao gửi hết nỗi lòng. Tình tri âm, tri kỷ, tình vợ chồng, tình yêu ân ái, tình Đất Trời Nguyễn đã trao tặng nàng tất cả. Trên đời này, không có người đàn bà nào nhận được hạnh phúc lớn lao này từ Nguyễn như nàng. Nàng rưng rưng không nói thành lời.

    Im lặng. Đất Trời bao la. Nguyễn nắm tay nàng xuống núi. Rừng thông dạo nhạc. Suối ngàn reo ca. Nguyễn hẹn sẽ kể  về khối tình của Cha Mẹ chàng cho nàng nghe. Nguyễn Thị Lộ sống những phút giây hạnh phúc mơn man bên Nguyễn Trãi. Nàng đã sống cùng Nguyễn trong bản hoà tấu vô tận của thiên nhiên bát ngát hương rừng thông và thơ ca của Nguyễn. Cảm xúc thăng hoa nâng nàng bay bổng. Thời gian ướp hương tình yêu nồng nàn thắm thiết. Nàng sống bên Nguyễn một ngày ở Côn Sơn bằng cả trăm năm… Nguyễn dành trọn vẹn tình yêu lớn cho nàng. Trân trọng. Yêu thương. Hoà cảm cùng Trời Đất.

    Nguyễn Thị Lô trẻ tươi lại. Hồn trinh nữ  thắm tươi tuổi trăng rằm.

    Nàng dạo chơi bên Nguyễn những chiều tà, những bình minh, những đêm trăng lặn sao mờ. Rừng thông bát ngát dạo nhạc ân tình.

    Những dãy núi xanh đậm xa xa vòng quanh uốn lượn, ru ca nâng hồn nàng. Tiếng cô thôn nữ đâu đó ngâm giọng ca dao:

                Núi non kia hỡi núi non!

        Núi nào lắm nước trên nguồn chảy xuôi?

                Núi nào đá đỏ mình ôi!

        Núi nào lại có một nơi đá giòn?

            Núi nào đục mãi không mòn?

         Núi nào lại có một hòn đá dai?

            Núi nào những trúc cùng mai?

        Núi nào lại có một vài hàng thông?                              

    Côn Sơn ngàn thông xanh biếc dâng nụ hôn tình yêu khắc ghi trời đất khối tình mang xuống tuyền đài không tan của Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ.


... CÒN TIẾP ...

© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 11.09.2010.

TÁC PHẨM CỦA MAI THỤC CHỈ PHỔ BIẾN
DUY NHẤT TRÊN HỆ THỐNG VIỆT VĂN MỚI - NEWVIETART