Ba Con Chó


PHAN


1. Con Mực 

Nhà tôi có con chó mực đen tuyền, đen đến cái lưỡi đỏ của nó cũng có đốm đen giữa lưỡi. Tôi nhớ, nó có bốn cái móng treo ở bốn chân vì cách mặt đất cỡ lóng tay, nhưng ai cũng gọi là móng đề, chó có móng đề không hiếm nhưng đủ bốn chân bốn móng thì đặc biệt và dân gian cho sự vẹn toàn đó là đặc tính khôn ngoan và tận trung của một con chó. Tôi nghe được những lời khen ngợi con mực từ bạn cha tôi đến chơi nhà, lời bình phẩm của những người hàng xóm, rồi quên đi khi có bạn trang lứa rủ đi chơi. Chỉ nhớ ra con mực đáng tin cậy khi đi chơi một mình, có cảm giác sợ ma hay sợ chó hàng xóm ưa rượt đuổi con nít thì kêu con mực đi theo, và nó rất vui vẻ theo tôi rong chơi suốt mùa hè vô tận khi tôi chưa đi học. Nó ngày càng thân thiết với tôi, hiểu ý nhau nên đi chơi mỗi ngày xa hơn một chút…

   Đôi lần cha cho tôi đứng trong lòng chiếc xe vespa của ông, cha lái xe chậm rì trên con đường chiều lộng gió, thỉnh thoảng mới thấy cái xe ngựa ngược chiều, máng, treo lỉnh kỉnh quang gánh và tiếng trò chuyện của người quen trên xe ngựa, tôi hãnh diện lắm khi những người ngồi trên xe ngựa thấy tôi đang được đi xe vespa, có tiếng máy nổ pong pong khoái tai. Thỉnh thoảng gặp người đi bộ hay xe đạp, xe gắn máy hiếm hoi, họ chào hỏi cha tôi, tôi chào lại rất lễ phép để hy vọng được cha cho đi theo những lần sau. Những buổi chiều không ngày tháng nên còn hoài trong ký ức, bên trái là những xóm nhà ẩn hiện trong màu xanh của lá, lưa thưa những thân cau, thân dừa vươn lên trời xanh, bên phải con đường là ruộng lúa mênh mông, thỉnh thoảng nổi lên giữa bao la xanh rì của lúa là những cái gò mả, có gò chỉ vài cái mả, có gò hơn chục cái, những cái gò ám ảnh tuổi thơ vì từ đó người lớn thêu dệt, chế tác ra bao nhiêu chuyện kinh sợ để hù doạ trẻ con đừng đi chơi xa… Và không ai biết những toan tính, ước mơ gì đã hình thành trong tâm tưởng tôi từ dạo đó! Tôi cũng quên luôn với mỗi lần cha tôi dừng xe rất chậm rãi, tắt máy, dựng xe lên, gác cây súng săn lên chiếc yên dài của xe vespa. Ông ngắm rất kỹ, kỹ đến mười lần thì hơn năm lần con cò đã bay mất; Ba, bốn lần kịp bóp cò thì chừng hai lần phải phiền đến con mực, nó lẽo đẽo chạy theo xe cha con tôi, không sủa một tiếng, biết căng mắt chờ đợi trong im lặng, khi nghe súng đã nổ, con cò ngã gục là nó lao đi lượm xác, tha về.

   Những năm tháng êm đềm của tuổi thơ trên một vùng quê thanh bình trong đất nước chiến tranh lan rộng là sau này mới biết. Những toan tính, ước mơ như gió thoảng qua tuổi dại khờ thì còn lại ký ức mông lung. Nhớ một hôm, ông Quận trưởng và nhiều lính đến nhà, hai, ba bàn tiệc được bày ra trong nhà, ngoài sân. Bàn cha tôi với ông Quận trưởng, thêm mấy ông bệ vệ nữa trong nhà. Bàn mấy anh lính cũng tưng bừng ngoài sân, bàn các bà, các cô hàng xóm sang phụ việc tiếp khách cũng vui nhộn dưới bếp. Một ngày rôm rả tiếng nói cười trong căn nhà cuối xóm ngó ra sông, - những ngày dài, chỉ có tôi với con mực ngồi dưới giàn mướp, nhìn ong, hay chơi trò chơi duy nhất là móc đất sét ờ bờ ao, ngồi nặn nhiều hình khối để xây lên thành quách. Tôi có ba ông lính bằng chì: một nằm, một ngồi, một đứng. Họ là lính Pháp nhưng quần áo bằng sơn đã tả tơi, lộ chì nơi đầu gối, đỉnh đầu, bả vai… Nhưng tôi nghĩ do họ đánh giặc hoài nên quần áo rách hết… Tiếc là tôi không có nhiều lính để thay thế cho họ nghỉ ngơi, họ cứ phải trấn giữ thành trì, di chuyển liên miên để chống đỡ Đức quốc xã tấn công, những tưởng tượng từ phim Đệ nhị thế chiến trong tivi mà tôi coi được. Con mực chăm chú theo dõi tôi xây thành, hò hét chiến đấu… tới mệt quá thì ngủ luôn tại trận, trời mưa hay bà vú gọi vô ăn cơm mới giãn tuồng. Cả cái thành trì bỏ xuống ao, tắm rửa cho ba ông lính để ngày mai lại xây thành đắp lũy… Ngày tháng ở nhà quê cứ thế êm trôi, những hôm mưa bong bóng mới thật là buồn, hai đứa ngủ gục trong căn nhà lạnh lẽo, oai nghiêm những đồ thờ đến hoang tưởng trong mơ. Trời mưa nên không gian trong nhà tối tối, sợ quá thì tuột xuống hầm, căn hầm chống pháo kích là bộ ván gõ thật dầy, dầy đến nửa thước ván, xung quanh chất bao cát, đào âm xuống đất thêm cả thước tây, cha làm cái dốc thoải xuống để khi nghe pháo kích chỉ việc tuột xuống là hết sợ. Trẻ con nào cũng thích tuột dốc xuống hầm nên chúng tôi nhuần nhuyễn, chỉ nghe tiếng máy bay bay thấp thôi là đã có đứa dưới hầm. Tôi với con mực thường rút xuống đó chờ mòn mỏi trong thinh lặng, chờ mẹ, có hôm thì bà vú đi chợ về để có được chút quà vui miệng. Đâu ngờ hôm nhà vui tiếng người là ngày đại nạn của con mực. Tôi đang chén thù chén tạc nước xá xị hiệu con nai với mấy dế sĩ ngoài vườn, ỉ cậy vào những biệt đãi của cha mà làm càn, tội lớn hoá nhỏ, tội nhỏ hoá không nên ngang ngược vào nhà bếp bưng luôn dĩa chả lụa xắt khoanh, bưng cả dĩa gà luộc đi đãi bạn bè, mặc tiếng bà vú la ơi ới, "ông trời con ơi là ông trời con…" Có khi cỡi chổi ngựa, cho mình là cao bồi cướp xe lửa, cỡi ngang nhà bếp, cướp chả giò hay dĩa xôi, chạy tuốt ra góc vườn xa là rừng, chia của cướp được với đồng bọn đang chờ ngoài đó…

   Con mực gặp đại nạn khi cuộc dế luận hôm đó đang gay cấn vì thằng con ông trưởng ty cảnh sát cũng là một dế sĩ uyên bác, nó biết cách làm cho dế than đá ăn dế lửa mới kỳ ngộ! Nuôi dế than bằng lá ớt chứ không cho ăn cỏ, tối, đem dế than ra hè phơi sương chứ không cho ngủ dưới gầm giường, (ba ngủ không được là liệng hết dế ra sân), nhưng cái hộp dế phải buộc sợi dây vô gốc cây, để phòng kẻ trộm! Thằng nói dóc dẻo đeo, nghe nó, dế than cho ăn lá ớt, chưa kịp phơi sương đã ngủm cù đèo. Nhưng lần nào nó tới nhà, nghe nó nói chuyện cũng dễ tin như thật. Nó đang rôm rả ngoài vườn với những dế sĩ thò lò mũi xanh ở nhà quê thì con nha đầu hàng xóm, không được cho ăn chả lụa, uống xá xị, vì cái tội chơi bán đồ hàng nhưng không bán chịu cho những kỵ sĩ ngựa chổi, có bị phá quán thì chỉ biết ngồi khóc. Nó hớt hải chạy tới mỉa mai: "Tham ăn chả lụa, no bụng rồi thì bụng đâu mà ăn thịt chó!" Tôi không hiểu hết lời mỉa mai đó đâu, nhưng linh tính không lành, chạy đi tìm, miệng kêu con mực ơi ới… đến khi cứng họng vì hai, ba ông lính đang đè con mực của tôi ra, họ khứa ngang cổ nó một đường dao, ông lính ngồi xổm trên đôi giày saut đang dùng cây đũa tre chuốt nhọn, cho vào vết khứa lục tìm gân máu. Tôi biết vì đã từng thấy, họ lấy tiết đỏ để làm tiết canh đó mà. Bây giờ la lên, khóc lớn, cũng không cứu được con mực. Tôi de ra xa để lấy trớn, chạy hết ga, tông vô ông lính ngồi xổm, ông bất ngờ nên bật ngửa. Hai ông đè, sợ tôi trúng lưỡi dao nên buông con mực ra để bảo vệ tôi. Con mực thoát chạy. Mọi người đuổi theo, tôi đuổi theo ra sông. Gặp chiều nước cạn, nó cùng đường trên cây cầu giặt làm bằng mấy miếng vỉ sắt đáp trực thăng, nó lao luôn xuống sình. Ngồi quay đầu lại nhìn những người truy sát. Mọi người tránh đường cho cha tôi ra cầu giặt, hai cha con đứng trên cầu giặt, cha rút súng ngắn, ngắm vào con mực. Mắt nó mở to, hai dòng lệ thả xuống, hoà vào dòng máu từ cổ tứa ra theo hơi thở… tôi thấy con mực gục xuống, tôi lao đi lượm xác nó như nó lao đi lượm xác những con cò. Chỉ không nghe tiếng súng nổ, cha đã cho súng vào bao da. Lặng lẽ quay về.

   Một mình tôi với con mực dưới sông cạn. Chấm hết mùa hè bất tận ở nhà quê, tôi đi học. Vào lớp dự thính nên phải ngồi cuối lớp, con mực đục lỗi vách lá trường làng, chui vào lớp học, nằm im dưới chân tôi tới hết buổi học thì cùng về. Có nó đi cùng thì không sợ chó nào tấn công mình vì nó không sợ con chó nào hết…

   Đã hơn bốn mươi năm thời gian, người đi kẻ ở, sống chết âm dương… Sáng nay ngồi đọc báo một mình ngoài patio với ly trà buổi sáng. Con chó con được kể là món quà sinh nhật trong mơ của thằng con nhỏ trong nhà, nó ước mơ có con chó từ khi đi lớp 1, nhưng lần lửa hẹn hoài, hết hè này đã đi lớp 7, nó còn ở nhà với gia đình có 5 năm nữa, không cho nó bây giờ thì bao giờ? Tuổi nhỏ không có con chó của mình như người già không nơi nương tựa. Đó là sự xuất hiện của con chó mới hai tháng tuổi, một thành viên mới của gia đình, chó con chưa leo nổi lên cái ghế bành, hứ hứ dưới chân. Thử sức thông minh của nó bằng cách tiện chân, lăn trái banh đá của thằng con đến sát cái ghế, giữ đó cho nó chứ không nói gì. Con chó con không tệ, biết dùng trái banh làm thang leo lên ghế bành, nằm gọn trong lòng tôi, lim dim như trẻ thơ no sữa. Người ta đánh chó chạy đi, ai đánh chó chạy lại. Thả nó xuống đất, nó lại leo lên, những tình cảm đối với loài chó đã ngủ yên trong lòng từ lâu, con chó con khơi lại, nó như  đứa trẻ non nớt đã phải xa gia đình, không có người thân, đi tìm một nơi nương tựa… Hình dung ra bao điều, nó vẫn nằm im trong lòng tôi để nghe kể tiếp chuyện con mực.

   Hôm đó, tôi đưa con mực về nhà bà ngoại. Tôi không có bà ngoại nên gọi bà ngoại của thằng bạn bên hàng xóm là bà ngoại, để được chia quà ngang bằng với nhau. Bà ngoại không biết chữ, nhưng biết chia quà công bằng, chẳng kể cháu ruột hay trẻ con nhà hàng xóm. Bà ngoại của tuổi nhỏ kêu là bà ngoại chỉ để được chia quà, nhưng khi không còn nhỏ, mua chút quà gởi cho ngoại thì nghĩ  là bà ngoại ruột của mình. (Tiếc là khi nói dối ngoại để được quà thì ngoại biết, nhưng khi gởi quà thật lòng về ngoại thì ngoại đã lòa.) Hôm đó, ngoại đắp thuốc xỉa, rịt thương cho con mực. Nó không về nhà cả tuần, nhưng tới hai đứa ăn cơm hàng xóm, tối, ngồi ngoan nghe ngoại đọc kinh, rồi đi ngủ. Ăn ngủ bên nhà ngoại như nhà mình, làng quê Việt nam ngày đó, hàng xóm không có bờ rào như sau hoà bình, lòng người không then chốt, thênh thang…

   Nhà ngoại có con chó trắng, giận lẩy bỏ đi đâu không biết. Thằng bạn trở mặt vì con chó của nó hết được ngoại thương, nó đi giã hột bã đậu cho con mực uống, cho Tào Tháo đuổi con mực chết luôn đi! Trưa thanh vắng mà nghe văng vẳng, tiếng cốt xe tăng nện vô nón sắt của lính, tưởng ngoại giã đậu phộng để làm muối đậu-ăn xôi buổi sáng, cứ tới lăng xăng, thể nào ngoại cũng cho vài hột đậu rang, ai dè tới nơi mới thò lõ con mắt thấy được âm mưu sát cẩu. Nó giã xong hột bã đậu, bỏ hết vô cái chén, đổ nước trà tươi còn ấm, đem giấu chén trà độc vào kẹt lu nước, ngâm đó, rồi đi chơi. Nó đâu biết chén trà bã đậu được chắt hết nước, bỏ thêm đường phèn ngọt ngay, nó uống trà mời tấm tắc khen ngon, rồi ngồi luôn trong nhà xí vì cái quần đã không thể đi ra và không muốn ai biết! Bí mật chỉ được khui ra khi hai thằng đã râu ria, ngồi nhậu với nhau sau những bể dâu của hoà bình, thèm ly trà đường ngọt liệm tuổi thơ đã xa lìa… Tôi kể bạn tôi nghe: Sau tháng 4, 1975. Nhà mày hồi hương về Rạch giá để khỏi đi kinh tế mới, căn nhà bán lại cho anh Thành, con bác Tư thợ mộc. Anh Thành hồi đi lính thì độc thân, nhưng sau hoà bình dắt vợ con về. Bác Tư mua lại căn nhà cho anh Thành ra riêng. Nhà tao cũng không còn ai ở, cả chục căn nhà bị tịch thu đã rồi, cha anh tứ tán, kẻ không tin tức từ khi ra khơi, người không biết đã đưa đến trại nào, còn sống hay đã chết, mẹ tao với xấp nhỏ anh em tao chui rúc trong căn phố chợ để người ta không chướng mắt làm khó. Nhưng mỗi lần mẹ tao về lại căn nhà hương hoả là mỗi lần bán đi những thứ có trước tao như bàn ghế, divan, bộ ván chống pháo kích… từ từ bán tới đồ sơn mài, tủ thờ, đồ thờ để có tiền tiếp tế cho thân nhân khi đã biết được nơi giam cầm. Căn nhà chỉ còn bốn cái vách, vài chỗ bị trộm đục khoét nhưng còn gì để lấy được đâu. Một hôm, tao về ngủ coi nhà, và bắt được trộm. Ai dè là thằng bạn tụi mình hồi nhỏ. Cuối cùng, tao với nó đi câu cá trộm ngoài ao cá bác Hồi, định nấu cháo ăn đêm, nói chuyện hồi nhỏ nghe chơi đỡ buồn, câu được cá nhưng không trộm được gạo nên hai thằng ăn cá nướng, đốt đống lửa ngồi hong dĩ vãng đã xa... Sáng ra, đốn cây vú sữa ở khoảng sân giữa nhà tao, cây vú sữa mà tụi mình thường phải lên lầu mới hái được quả, đã chết buồn, những nhánh khô còn trái non khô choắt như cau khô. Tao đốn cây vú sữa cho nó bán củi, nó đang cần cái khó giúp là tiền.

   Thằng Được gánh củi đi rồi, xung quanh tao chỉ còn chuồng heo, chuồng gà váng nhện với mèo hoang, nhà bếp tro lạnh phủ bụi mờ… buồn lắm. Không tưởng nổi căn nhà đã từng đầy ắp tiếng cười nay quạnh quẽ thê lương. Tao thôi không về ngủ coi nhà nữa vì còn gì để coi chừng. Nhưng không lâu thì anh Thành lên chợ, tìm mẹ tao báo tin: "Bác Hai ơi! Con nghe được người ta đã biết là bác Hai còn căn nhà bên cạnh nhà con. Mấy hôm nay có cán bộ đến coi, chắc con không giữ nổi giùm bác Hai nữa rồi!" Mẹ tao thở dài, thì ra quyết định bán cho người mua nhà cũ. Họ đến giỡ hết, chỉ còn cái nền xi măng trơ trọi những vết nứt bởi thời gian, nắng mưa. Hôm tao về một mình, ngồi trên nền nhà cũ, cỏ hoang, rêu phủ mấy bậc thềm… con mực lù lù đến bên chân tao, thân run rẩy già nua, đói khổ làm cho nó hết lanh lợi như xưa. Chị Thành nói với tao, nó đi đâu không biết, nhưng hàng đêm vẫn về coi nhà, (dù còn có cái nền). Tao nhờ chị Thành nuôi nó, là nói thế thôi vì thời buổi người còn không có gì ăn. Tao nghĩ ra cách: "Chị đập hết cái nền xi măng này đi, lấy đất trồng trọt, làm như  là đất vườn nhà chị. Đừng nói với ai là nền nhà của gia đình em, như vậy mới mong giữ được miếng đất cho nhà em mà chị cũng có đất trồng khoai mì, khoai lang cho heo ăn, cho con chó của em ăn với!"

   Sau đó, tao đi ta bà thiên địa, ở đâu cũng có buổi chiều, ngồi nhớ nhà và con mực, không biết sống chết ra sao! Một hôm tao về, nghe mẹ tao nói, "Chị Thành nhắn mày về nhà thì về gặp chị ấy." Tao về nền nhà cũ, con mực nằm dưới gầm bàn bếp bằng xi măng nên mưa nắng chưa hư. Chiều muộn rải nắng tàn lên cỏ ngựa cao ngòng, trong cái tĩnh mịch, âm u của buổi chiều tàn. Tao với con mực nhắc lại bao nhiêu là chuyện, có nhắc tới mày với con chó trắng, không biết bây giờ ra sao, còn ở Rạch Giá hay đã vượt biên… Chị Thành đem qua cho nó miếng cháo heo. Nó không ăn, nhìn chị Thành như cảm ơn, nhìn tao như trách móc, nhưng nó dúi đầu vào chân tao, duỗi thẳng mình trên nền xi măng cũ, nước mắt nó trùng trùng như hôm ngoài cầu giặt đã xa, rùng mình một cái, rồi đi luôn. Chị Thành nói, "nó muốn chết cả tháng nay rồi, nó ráng sống là chờ em về đó!" Tao chết điếng, tưởng một người thân vừa qua đời.

   Tao lo việc an táng cho nó rất nhiêu khê, tao muốn chôn nó trên nền nhà cũ, chỗ căn hầm chống pháo kích là nơi tao với nó đã chia sẻ với nhau nhiều, sau những lần tao bị phạt, chứ nó có lỗi gì đâu trong suốt cuộc đời tận trung. Nay chết, cũng không được chôn cất cho tử tế trên đất nhà, vì những người miền bắc đã vào xóm này chiếm đất cất nhà. Họ xin không được thì bả con mực, nhờ nó khôn nên giữ được mạng tới chết già. Nếu chôn nó xuống thì người ta sẽ đào nó lên, đã loáng thoáng thấy mấy đứa trẻ gầy như kênh kênh, ngửi được mùi chó chết, chúng lảng vảng theo dõi. Chị Thành nói với tao tìm cách mà chôn con mực! Tao nghĩ hết cách, bỏ con mực vô bao bố xin được của chị Thành, buộc chung với một tảng xi măng của nền nhà cũ. Tao qua nhà chị ấy ăn cơm chiều với anh Thành. Chờ trời tối, sẽ đạp xe ra cầu sắt, tao định thả con mực xuống sông cầu sắt, dù gì tao với nó đã từng tập bơi ở đó, tảng xi măng cũng là nền nhà cũ, sẽ cùng nó dìm sâu tới tan rã chứ không cho ai ăn thịt nó.

    Nhưng vừa ra khỏi nhà anh Thành không xa, tao đã bị công an bắt, tội trộm chó, tống giam, chờ mai xử lý! Tao ngồi trong phòng giam của công an xã, nghe tiếng ồn chè chén bên ngoài, tiếng "trẻ con không được ăn thịt chó" khóc la tới nửa đêm. Tao cạy cửa sổ trốn đi khi người nhậu đã say, đàn bà, trẻ em đã thôi ồn ào, đành mất cái xe đạp vì đã bị khoá vào gốc cây bằng sợi xích to hơn cần thiết…  

   Không biết con chó Mỹ mới hai tháng tuổi, có hiểu chữ Việt không mà nằm im trong lòng tôi. Bóng nó trên màn hình laptop, làm như nó hiểu chuyện kể về một con chó Việt nam, - con mực, không may mắn như nó. Con mực chết không toàn thây sau hoà bình ở quê tôi. 

2.Con Vàng 

Sau cái chết của con mực, tôi man mác buồn khó tả khi thoáng thấy một con chó đen. Sự áy náy trong lòng còn hoài về con chó biết khóc, chắc là nó đã khóc một mình như con người khi trở lại nhà chỉ còn mấy bậc thềm rêu phủ, nắng rũ tịch liêu, người thân tứ tán, bạn bè nơi mô… người về tìm lại mình, không thấy lại đi, nhưng nó đã ở lại một mình trong cô tịch với tháng năm buồn bã... Gió rung dây nhãn lồng rụng rơi, không còn ai tranh trái chín, bụi u du tươi tốt đến không ngờ, còn ai đâu để tranh nhau cắt về chơi bắn bì… những hình ảnh còn hoài trong trí tưởng về sau. Tôi đi hết con đường xóm cũ, không còn ai chào hỏi như xưa, những người quen đã đi kinh tế mới, hồi hương, vượt biên…  những người ngoài bắc mới vào lơ láo, chán đến chẳng muốn nhìn, tôi đi qua giàn bông giấy nhà bác ba Sáng không còn đỏ rực là hình ảnh cuối cùng của khung trời bỏ lại sau lưng… Tôi đi, cùng trời cuối đất cũng không tìm ra một việc làm, nơi ở. Cả nước đang truy bắt thanh niên đi chiến trường tây bắc chống Trung cộng, tây nam đánh Campuchia. Thời kỳ thanh niên chẳng biết đâu là nhà, ăn bờ ngủ bụi. Tối ngủ nhà này sáng dậy nhà kia, nửa đêm cuốn gói là chuyện thường tình. May gặp được thằng bạn cũ, ngay thời trung học nó đã lộ số ở tù, chữ ký của ai nó ký nhái cũng y chang… Ba nó là trưởng ty cảnh sát ngày trước nên mẹ nó đã đốt hết những gì ông giữ trong nhà, nó may mắn tìm được cái máy đánh chữ của ba dưới gầm giường, nó chỉ cần một mẩu cà rốt với mảnh dao lam là mộc gì nó khắc cũng ra, chậm thuốc đỏ ịn lên công lý cho bạn bè. Cái thằng bẻn lẻn như con gái, ít nói, ưa thẹn thùng, tính nết mềm dịu hơn thuở nhỏ luyên thuyên và thích tranh luận. Vài đứa bạn cũ gặp lại còn nói bóng nói gió về nó, nhưng chuyện nghe rồi bỏ, chỉ biết nó bây giờ là cứu tinh của bạn bè, thằng nào cũng phải tìm gặp nó để nhờ vả. Nó đi phụ việc cho người bà con bán đồ cũ, đồ cổ ngoài Lê Công Kiều, đêm về đánh máy chữ, khắc mộc cứu nhân độ thế, phổ độ chúng sanh. Cứu khổ cứn nạn cho bạn bè cũng nó, nó có đồng ra đồng vô nhờ buôn bán giấy tờ giả nên rất hào phóng với tình nghĩa cũ. Nhưng nó đã vượt biên âm thầm, bỏ lại bạn bè bơ vơ không người cấp "Lệnh điều động" cho nhởn nhơ ở Sài Gòn, đôi khi còn bán được cho những thằng bá vơ ngoài bắc vào, bên Miên trốn về một mảnh giấy tùy thân để vất vưởng nơi này.

   Tôi đến Phân viện khoa học Việt Nam - Chi nhánh tại thành phố HCM. Cầm tờ giấy giới thiệu của Mặt trận tổ quốc do tên bạn để lại. Thời buổi, vài hôm không thấy mặt bạn bè là đã bị bắt hay đi vượt biên. Tôi không tin mình vô được Phân viện nhờ tờ giấy giới thiệu giả này. Không ngờ nhớ hoài cuộc phỏng vấn của cô nhân viên phòng nhân sự, mặt hiền như nước mưa, giọng nói Ba Tri béo ngọt như kẹo dừa, khổ đời nói thật thì cô không tin, nói láo thì cô xúc động, cảm thông, coi trọng con nhà liệt sĩ, gia đình vắng vẻ. Buổi trí trá thành công tốt đẹp, được cấp giấy chứng nhận cho một thằng mù tịt với hàng chữ, "Chuyên viên kỹ thuật" của Phân viện khoa học Việt Nam… Tôi tưởng mình sắp đi dự Hội nghị khoa học quốc tế với tờ giấy quá hách này, có dán hình 4x6, đóng mộc Phân viện giáp lai lên ảnh kỹ càng. Cấp luôn cho "Lệnh công tác" đỏ lè củ triện. Đêm về chong đèn đọc tới đọc lui hai tấm bù hộ mệnh, thấp thỏm người ta truy ra giấy giới thiệu dỏm thì ứng phó sao đây, đi làm công tác khoa học chứ đâu phải đi cà nhỏng mà chỉ là mảnh giấy "xác nhận công tác" tầm thường chỉ để qua mặt mấy anh du kích đánh vần không trôi.

   Lâu lắm rồi mới nghĩ tới quần áo, tóc tai, giày dép... nhớ ra hai thứ cần thì không có, thứ có không cần là tóc tới vai. Còn nham nhở tương tư lời chúc "mai mắng" của cô gái xứ dừa. Và đúng sáng "mai" lên đường đi nhận nhiệm sở thì bị người ta "mắng" vào mặt, bắt nhốt ở Ngã 5 chuồng chó vì du kích nói là giấy giả, tất cả giấy tờ tùy thân của thanh niên thời đó, du kích đều có thể quy ra giấy thông hành đi Miên như nhà nước đổi tiền không cần lý lẽ. Muốn xác minh cứ đi gặp Pôn pốt mà xác minh. Chỉ còn chờ người bị bắt đông đông, canh giờ lùa lên xe thùng bưng bít là thời điểm ăn thua mình gan! Tôi với vài bạn hữu mới tinh, rù rì bàn quốc sự trong phòng giam như phòng hơi ngạt của Đức quốc xã, được cái đâu phải bị bắt lần đầu mà ngồi khóc ông khóc cha, một hai ba… lăng ba vi bộ là huề. Thời đó khổ nhưng vui nghĩa khí, chẳng ai biết ai nhưng đã bị bắt, nhốt chung một phòng thì điếu thuốc chia chung, ổ bánh mì nên tình huynh đệ, "nè, làm miếng đi. Đợi đông đông rồi chạy tập thể, tụi nó không đủ người rượt mình đâu!" Nhóm quyết định vọt bàn kế hoạch chạy nhiều hướng để thử thời vận. Chẳng ai mong gặp lại anh em…

   Chúng tôi chờ người thủ lĩnh té vào du kích áp tải là gây hỗn loạn, rồi tự ai nấy cao chạy xa bay, tôi đường tôi, tới ngã tư An nhơn mới tin chắc là mình lại bỏ chiếc xe đạp thứ hai, chạy lấy người rồi tính sau. Chuyện mua lại chiếc xe đạp không dễ lúc này, từ từ tính… chân thả bộ theo con đường xanh rì hoa lá lên hướng Lái thiêu, suy tính cách nói làm sao cho người ta tin khi đến nơi công tác: Tôi là "Nhân viên kỹ thuật", tôi có "Lệnh điều động" nhưng đã bị trấn lột giấy tờ và xe đạp... tạm ổn. Còn lại, tùy cơ ứng biến.

   Người ta tạm tin, chờ xác minh cũng hết mấy ngày cù bơ cù bất, cho ngủ tạm qua đêm trong trại đã là một nơi đáng nhớ về sau… đến hôm xác minh được, nhận công tác mới biết là ta đã bị lừa! Cứ tưởng được làm khoa học với những ống nghiệm thủy tinh trong phòng thí nghiệm. Ai dè, người ta đưa cho tôi cây phảng với cây cù nèo và chỉ ra cánh đồng bất tận, cỏ năng cao hơn lưng quần… Hôm nay phát một công, mai cuốc công ruộng đã phát cỏ năng hôm nay, cuốc lật để giết cỏ dại… tôi thật bối rối, không biết xài cây cù nèo làm sao để lưỡi phảng đừng phang vô ống chân? Đành thuyết phục mấy thằng địa phương, chúng phát cỏ năng dễ như ăn cơm, những thằng thành phố không biết xài phảng với cù nèo thì ôm năng chất lên bờ ruộng, chờ khô rồi đốt đi, đem tro rải lại xuống ruộng làm phân. Công việc ổn thoả, không ngờ mình có khả năng thương lượng mau chóng đến không ngờ. Nhưng ngày ôm cỏ năng lội đồng cố nín thì qua ngày cuốc ruộng tứa ra nước mắt người dân thị thành, xoè đôi tay phồng rộp, cầm củ khoai mân mê… rồi chai lì đi khi đã đặt được bàn chân không xuống ruộng, khi đôi giày bố đã tả tơi, chợt nhớ lâu rồi không tắm xà bông.

   Đêm về, ngả lưng tưởng ngủ say, những cơn mơ thành phố đã thay bằng cơm gạo, sáu trăm đồng một lít mà tiền công làm ruộng một ngày chỉ có năm trăm. Nhìn đứa em người bạn làm chung  ở địa phương xách bữa trưa cho anh nó, nghĩ về gia đình trong mơ hồ cũng có thằng em xách cho mên cơm… bỏ toàn những món trước đây không ăn, sao bây giờ ngon lạ! Giấc mơ lập lại từng đêm, từng đêm, đi vào mộng trùng dương. Sáng ra học cuốc lật, cuốc lừa, thay vì hai nhát cuốc thì còn có một, nhát lấy đất lật lên, che lại chỗ nhát trốn cuốc. Sau này, cỏ dại cao hơn lúa thì mình chắc cũng đã đi khỏi nơi đây. Xin lỗi. Đêm về lại âu lo, sao dân thành phố cuốc ruộng nhanh hơn dân địa phương mà cán bộ không cho là chuyện lạ! Thì ra, cán cuốc có thể gãy vì người nông dân cầy sâu cuốc bẫm, cán bộ có thể văng bất cứ lúc nào nên còn tại chức thì lo cắn cho sâu để thủ thân, cắn lúa giống, cắn phân từ khi ruộng còn chưa cày ải. Vậy thời gian còn lại với những người bạn mới, cứ kéo nhau ra chợ gài sòng, cờ gian bạc lận sống qua ngày. Gặp thời chó ngáp nên cũng chỉ đủ tiền cà phê thuốc lá, hai mươi tám quân cờ domino đã gài triệt buộc 7 con người.

   Đêm về cái phòng 7 thằng tứ xứ sống với nhau,  mấy thằng người địa phương thì tối về nhà ngủ, hôm nào có tin đêm nay ruồng Nghĩa vụ quân sự thì tụi nó mới ngủ trại để giữ thân. Căn phòng dài như chuồng bò, ngăn ra một phần ba làm kho lúa giống, phân bón, thuốc trừ sâu…  còn lại kê giường như trại lính, góc phòng có ba cục gạch-gọi là bếp ăn tập thể. Cái bếp thanh đạm quanh năm không nghe mùi dầu mỡ. Ngày nào cũng hùn tiền mua gạo nấu cơm, thức ăn cho 7 người là một trái cà chua nấu với nửa xị nước tương, pha thêm nước lạnh và muối hột để đủ chấm rau đồng hái được. Chẳng bữa ăn nào no bụng, thế mà còn phải nuôi thêm một con chó! Nó là con vàng, theo người chủ đến đây xin việc-cũng như những người đã đến trước-sau, ai cũng vì hoàn cảnh mà chấp nhận một chỗ tạm dung tương đối ổn, một việc làm không công bằng vì ngoài dân đang mướn cuốc một công ruộng với tiền công là ba ngàn đồng, gấp sáu lần tiền công trong Phân viện, vậy năm phần còn lại đi đâu? Hỏi người trưởng trại là bộ đội phục viên, người ngoài nớ ấm ớ trả lời-tôi làm trheo lệnh cấp trên!... Anh không trả thù con em miền nam vì anh đâu có thù ai đâu, anh chỉ thu tiền cho thuê chỗ tạm dung. Anh cũng bị bắt đi bộ đội, có ai che chở cho anh như anh đang che chở cho chúng tôi, không cảm ơn còn trách nỗi gì! Mẹ anh đã từng khóc hết nước mắt hôm tiễn biệt thằng con đi nam, anh mấy lần thoát chết với đạn bom, chuyện Trường sơn của anh, thỉnh thoảng có dịp ngồi chung với bình trà quốc doanh, nghe ra cay đắng hơn ngọt ngào. Anh không màu mè cán bộ, không lớn lối chức quyền, một người thật thà đến khó ưa. Anh nói toạc móng heo ra tham vọng cơ ngơi trong miền nam để đón gia đình vào, anh có quyền đó và xứng đáng được hưởng sau khi chiến tranh kết thúc. Anh không chối cãi cuộc nam tiến là thế cách duy nhất có thể giải phóng cho cái bao tử người miền bắc. Nhưng cứ sống phè phỡn như người miền nam thì trước sau cũng mất gia tài. Chuyện đấu khẩu với một người nông cạn về kiến thức, lý luận một chiều, trong tư thế thắng, vai trò thủ trưởng, thật không đơn giản. Nhưng dù sao cũng cảm ơn anh là một người nhỏ mọn thật thà, -không chối cãi nghĩa là công nhận  có chuyện ăn chận tiền công của nhân viên, ăn cắp lúa giống, phân bón, thuốc trừ sâu… đem bán bỏ túi riêng. Người  thủ trưởng có ăn năn sau mỗi lần ăn cắp là hành vi ăn hiếp thuộc cấp, "Tớ đi chợ, thấy rẻ, mua mớ cà pháo đưa về muối. Đưa lên đây cho anh em ăn…" Chân dung anh bộ đội chỉ lộ nguyên hình khi anh phát lương cho anh em, thằng nào cũng bị trừ tiền cà pháo muối với giá cắt cổ. Hũ cải chua kế tiếp, không ai (dám) động đến thì anh nguyền rủa, ra lệnh lung tung để đầy đoạ nhân viên. Anh tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc từ chiếc xe đạp có buộc chùm hoa ny-lon trước đầu xe hôm lãnh chức thủ trưởng trại Thạnh Lộc, vị thủ trưởng có cái "đài" bóng lưỡng vì lau chùi thường xuyên. Chưa đầy năm đã lên được chiếc mobylette xanh của Đức. Anh dùng toàn thời gian từ khi thức dậy tới đi ngủ để nghe đài và lau chùi cái xe. Anh mãn nguyện với cái xe có tới hai cái xích, khi không muốn phí xăng thì vẫn đạp như xe đạp được. Anh làm cho mọi người bị cuốn hút vào tham vọng có cái tivi nữa là anh thanh thản chết.

   Chuyện thủ trưởng kể hoài không hết, anh chỉ phạm mỗi một sai lầm bất ngờ-có tính toán là dùng quyền thủ trưởng ra lệnh thịt con vàng. Khẩu lệnh oai nghiên nhất của thủ trưởng từ trước tới nay, không ngờ bị lưỡi phảng đưa vào cổ, với lời chắc chắn như đinh đóng hòm, "tôi thách anh đó!" Tưởng anh rút súng, bóp cò. Ít nhất cũng nổ lên nóc nhà để thị uy, nhưng không, anh đã có đài, xe mobylette, sắp mua tivi nên hào khí Trường sơn đã tịt ngòi, anh xuống nước cầu hoà, không trả thù mà còn ra mặt ăn năn. Thật khó hiểu, nhất là con vàng vẫn không ưa anh qua tiếng sủa, nhưng thi hành mệnh lệnh mỗi khi anh sai khiến nó.

   Con vàng do Khánh đưa đến, chuyện của Khánh với nó như truyện ngàn lẻ một đêm. Khánh đi vượt biên với gia đình, do trục trặc bến bãi nên người thoát kẻ không. Khánh cù bơ cù bất ở đất Mũi mấy ngày, không làm sao có tiền để về lại Sài Gòn rồi tính sau. Tuyệt lộ thênh thang lại vấp nhằm con chó ốm, bị vứt ra đường mà chết không cam tâm, nằm rên ử ử… Khánh không cứu nó vì cứu mình còn chưa xong, nhưng nghĩ cho cùng, là duyên là nợ. Khánh ủ nó trong người qua đêm mưa nơi đầu đường xó chợ. Nó hồi sinh thay vì chết lạnh, chửi trời chửi đất bằng tiếng sủa bình minh sau bao ngày sủa không ra hơi, chạy lăng quăng như không biết đói… một người một chó kết bạn tâm giao suốt những ngày đói khổ ở tận cùng đất nước cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. "Khánh âm lịch" là cái tên bạn bè đặt cho, Khánh tin đủ thứ không thấy trên đời, cái gì thấy được thì không tin mà nhiều nhất là người ta. Khánh đem hết lòng tin còn lại sau chuyến vượt biên không thành gởi vào con chó, nó dẫn đi đâu thì đi đó, nó dẫn được Khánh về Sài Gòn nhờ tiếng sủa, nó sủa chào là người nên giao tiếp, nó sủa ghét là người nên tránh xa. Từ hôm Khánh tiết lộ bí mật, mọi người mới để ý và phân biệt được con vàng có hai tiếng sủa khác nhau, tiếng sủa ngắn, mạnh, uy hiếp đối phương, với bộ dạng, ánh mắt dữ là sủa thủ trưởng. Còn lại 7 anh em là nó sủa mềm tiếng, có âm "ứ…" kéo dài trong tiếng sủa là mừng bạn trở về! Nhờ vậy, không ai nghĩ đến việc ăn thịt bạn bè như thủ trưởng.

   Hôm bên nhà thờ có tiệc, cha xứ không mời nhưng cho người đem qua biếu anh em Phân viện dĩa thịt chó luộc ăn lấy thảo, vì mời thì không đủ sức nhưng khi có việc, nhà thờ vẫn phải nhờ anh em bên Phân viện qua giúp một tay. Hơn nữa, 7 thằng không tiền hớt tóc, nhưng chăm đi lễ, kính Chúa nể cha, không phá phách nhà thờ, đứa có đạo-cầu Chúa; đứa không đạo-cầu gái. Cha thông cảm sâu xa. Cha cho dĩa chó luộc thơm phức, con vàng cũng có phần, nhưng nó không ăn. Làm 7 thằng người dành nhau phần chó chê, rồi tự viết kiểm điểm trong lòng vì tranh ăn trước mặt con chó không ăn thịt đồng loại. Nhưng con người kề phảng vào cổ nhau, không khứa thì cũng khinh nhau ra mặt… Tới hôm trà suông với khoai luộc, thủ trưởng đãi anh em nhân ngày mừng thọ của mẹ tôi ngoài bắc. Cụ nay đã lục tuần, giá tôi về được thì hay biết mấy! Học giả (chưa bao giờ học thật) của Phân viện ngồi nghĩ: anh ấy xấu đều mọi mặt, riêng hiếu thảo thì hơn cả bọn mình. Nhớ tới đôi đũa bằng ngà voi giả, tức là làm bằng nhựa, có khắc mấy chữ Tàu trên thân đũa. Anh đã mua bằng tiền thật để làm quà thượng thọ gởi về quê cho mẹ. "Đũa này thì gắp rau luộc cũng ngon, cả làng tớ lại đến xếp hàng xin xem đây…" Anh nói hôm đem lên trại khoe anh em, tiếng rít gió qua kẽ răng của anh thô thiển lắm nhưng nói lên được hết tâm đắc, lòng thành, hiếu thảo với mẹ. Không biết có bao nhiêu người con mất cơ hội đền đáp cho mẹ vì chiến tranh đã đi qua đây, một xứ sở triền miên hết ngoại xâm  tới nội chiến…  những người trở về được sau chiến tranh như anh, bao người đang chết trong hưởng thụ, mấy ai còn nhớ ân tình khi dép râu nón vải… Tối trà tình là đêm hoà nhã nhất, không ai tranh luận mà chỉ toàn tâm sự dạt dào, nhưng nắng lên-ngày mới không có dư âm, sương tan ngoài nội cỏ, hố phân cách lộ thiên, bẽ bàng hơn trong lòng người nam kẻ bắc. Anh chửi cả đám là quân súc sanh, nhận về cho mình cụm từ không hiểu, "thằng chó má". Trời âm u có ngày, nhưng từ đó không có ngày nào trong Phân viện quang đãng từ ánh mắt, lời nói kình nhau, chờ ngày nào đó, dịp nào đó, cuộc phân tranh ngã ngũ mà đôi bên cùng ân hận.

   Con vàng đã ra dáng hảo cẩu, bụng thon ngực nở, lông vàng sậm mơn mởn như nhung, chân cẳng cứng cáp, lại thêm cái bờm như bờm ngựa từ đỉnh đầu chạy suốt sống lưng. Nó đứng, như con berger trong phim Đức quốc xã, nhỏ con hơn thôi chứ tướng mạo uy phong. Nó chạy băng băng trên bờ ruộng, bờm dựng đứng, tung bay như ngựa ngoài thiên lý, đẹp ơi là đẹp… Ngày nào nó cũng ra đồng với mấy tên nô lệ bao tử, nó không biết cuốc ruộng, hái rau chai về ăn, nhưng săn bắt rắn nước, rắn bông súng khỏi chê, không ăn lén mà chờ mọi người đốt rơm rạ nướng rắn, rồi ngồi nhai cao su có mùi thịt trên cánh đồng bất tận, 7 người một chó mặc sức thả ước mơ theo lửa rơm nên ngày nào cũng có tro tàn. Sau cơn gió, cơn mưa là mất dấu.

   Con vàng trở thành một thành viên tận tụy nhất, chịu khó đi săn, con gì nó bắt được cũng tha về bếp ăn tập thể, như người mẹ tảo tần một nắng hai sương để có cái ăn cho con cái, nhưng đàn con no ngon sinh chuyện, đào mả bố nhau lên mới biết cha chung. Người mẹ âm thầm ngồi vét nồi dưới bếp, ăn miếng cơm cháy với đầu tôm xương cá. Con vàng hóc xương rắn tưởng chết, người ta ngắm nghía bụi riềng. "Kể ra loài nào sống chung với con người cũng không có kết quả tốt." Học giả bố láo bị chửi đầy tai, "mày nói có người nha mảy, nói thẳng vô mặt luôn đi, tụi tao ủng hộ! Cùng lắm bỏ chỗ này, tụi mình tới chỗ này được thì bỏ đi chỗ khác được! Có ai nghĩ là mình ở đây hết đời đâu mà sợ!" Tình hình Phân viện căng thẳng hơn Cu ba, học giả bỏ đi theo thằng Khánh cầu thầy chữa trị, thủ trưởng đi cầu riềng bên nhà thờ về, gặp nhau giữa đường nam-bắc phân tranh! Hú vía một phen, học giả không mau miệng phân giải thì máu đã nhuộn mấy củ riềng. Học giả trở về để bảo vệ con vàng, Khánh đi cầu may trong xóm xem có ai biết cách trị hóc xương cho chó.  Cuối cùng nó đem về mấy hoàn cơm nếp bóp với cám. Mấy đứa giúp tay ôm con vàng, cáng họng nó ra mà tống cẩu hoàn đơn, đổ nước… con vàng sặc muốn chết, nhưng nuốt xong mấy hoàn, miếng xương rắn cũng theo cám trộn nếp trôi xuống bao tử. Nó hết dữ, nằm dưỡng thương với đôi mắt biết ơn. Thằng Út ứ lên một tiếng chọc quê: cho uống thuốc mà tưởng bị làm thịt, dữ với mọi người rồi bây giờ giả lả biết ơn cứu mạng… Con vàng ứ lại một tiếng, như tao tin mọi người nhưng không tin mày đâu!...

   Khánh đã biết cười, đi thăm em hai chân, nó quen được một tiểu thơ trong giáo xứ vì tướng mạo nó nho nhã, nói năng lịch thiệp, phong độ con nhà… (lúc nó kê phảng vô cổ ông thủ trưởng để bảo vệ con vàng thì ai cũng tin là nó dám khứa, nhưng có mấy thằng bạn bất đắc dĩ của nó trông thấy, cả giáo xứ Ba thôn không ai thấy, đặc biệt là tiểu thơ-cũng dân con nhà về quê lánh nạn, không thể nào tin "Khánh âm lịch" cũng có lúc như chó điên!) Nó được mời ăn cơm trắng với canh rau đay, cà pháo, bên nhà tiểu thơ. No bụng nhưng động lòng trắc ẩn là đi ăn một mình, lòng thương anh em cùng khổ, con vàng tai qua nhưng nạn chưa khỏi, nó nhặt bông mướp đực bên nhà thờ, ra bờ rào hái đọt râm bụt về nấu với muối hột. Nó tuyên bố bông mướp là gạch cua đồng, đọt râm bụt là rau đay, nếu nghĩ như thế thì ăn như thật. Ai cũng ăn như thật vì nghĩ như thế mới nuốt nổi, chỉ có con vàng-ăn xong ói ra, đổ bệnh thêm mấy ngày vì không biết nghĩ đó là canh rau đay nấu với cua đồng. Mấy thằng ngu hơn chó được hả hê cười chó ngu hơn quý ông, không biết nghĩ đọt râm bụt nấu với bông mướp đực là canh rau đay nấu với cua đồng, ngu như chó! Thằng Út-Cu ba nằm nghĩ hết buổi chiều tuyệt thực vì phần cơm nấu một lần nhưng ăn hai buổi, nó ăn luôn một lần cũng chưa no nên chiều nằm ăn gió uống mây, đói tử vùng dậy, chỉ thẳng mặt con vàng mà nói, "mày đừng tưởng mày khôn hơn tụi tao!" Nó đâu có ác ý gì đâu, tự ông thủ trưởng nhột nên ghim nó chỉ mặt chó mà nói, "mày đừng tưởng mày khôn hơn tụi tao!" Thủ trưởng dạy là anh em trong trại phải đoàn kết nhất trí, sao lại có chuyện mày với tụi tao! Rõ ràng là mất đoàn kết, mà không đoàn kết thì làm sao nhất trí? Thủ trưởng lên lớp thằng Út một hồi. Tội nghiệp đời nó từ lọt lòng mẹ đã không biết mặt cha là ông lính Mỹ đen nào, từ hôm chửi chó thì đời nó còn tệ hơn đời cô Lựu. Đêm mưa dầm đói lạnh thê lương, thủ trưởng không sai học sĩ thủy lợi mà cứ dè thằng Út, "mày đi thăm bọng, thăm bờ một vòng coi Út…" Nó đội mưa mà đi, không biết nghĩ gì!

   Tội nghiệp con vàng bỏ ăn hết mấy ngày, nó ốm rộc đi như người bệnh nặng, lần đầu tiên nó tiểu tiện trong phòng, rồi hứ hứ yếu ớt như xin lỗi. Anh em chắt nước cơm cho nó uống, nó uống cầm hơi chờ chết. bỏ chỗ nằm thường ngày, chui dưới giường Khánh, nằm rên hừ hự… Gian phòng đầy tiếng người với những buồn-vui vô cớ, bỗng trĩu nặng không khí tang tóc như nhà sắp có đám ma. Khánh cứ ngồi trên thành cửa sổ, nhìn ra cánh đồng bất tận, thỉnh thoảng nhìn lại con vàng, mặt nó buồn còn hơn tiểu thơ đã ra đi, bặt tin. Sang nhà hỏi thăm chỉ nói là về quê dăm bữa, quê đâu nữa mà về khi đã lánh nạn đến đây, đâu phải người địa phương này từ sợi tóc tới móng chân. Tiểu thơ bình an nơi đầu sóng ngọn gió, ai cũng cầu nguyện cho nàng được tới nơi, nếu chỉ vì tình bạn với thằng Khánh thì tháng ngày qua tại nơi này cũng còn chút gì để nhớ để quên…

   Thằng Quân cũng ngồi thành cửa sổ thường xuyên như mọi khi, nhưng tiếng đàn của nó mấy hôm nay buồn da diết… Tưởng nó xách đàn qua chơi bên doanh trại Thanh niên xung phong hay bên trường Kỹ thuật điện. Ai mà biết nó đem bán cây đàn, mua miếng thịt trâu về nấu cháo cho con vàng ăn, mua mấy viên trụ sinh cho con vàng uống. Nó đoán con vàng bị nhiễm trùng đường ruột vì món canh quái đản của thằng Khánh, con vàng còn đang bị lải vì trước hôm bị hóc xương rắn, nó thấy con vàng nuốt cỏ mực. Học giả cho biết mỗi con chó là một  thầy thuốc dân tộc, chó biết tự khám và trị bệnh cho mình, chó nuốt cỏ mực, cỏ gai để tự tháo lải trong bụng. Chắc vậy mà Quân mua luôn thuốc sổ cho con vàng, nó đưa cho thằng Khánh, dặn dò cẩn thận là khi con vàng thật khoẻ lại mới cho uống. "Con vàng gặp thời thành tư bản đỏ: uống thuốc tây, ăn cháo thịt, chỉ thiếu chiếc mobylettes với cái thẻ đảng viên là lên thủ trưởng tụi mình!" Thằng Út giỏi tài nói lén cứ đi rỉ tai hết đứa này tới đứa kia, rồi cười khoái chí, thủ trưởng địt trời, địt đất chứ có nghe được gì đâu mà địt mẹ thằng Mỹ lai.

   Con vàng hết rên đau đớn nhờ hồng ân cu Quân. Qua đêm tư bản đỏ, nó cất tiếng sủa đĩnh đạc về phía giường thằng Quân. Tiếng sủa không mềm, kéo theo âm ứ trong cổ họng, tưởng cổ họng nó đã bị thương tật vì xương rắn. Nhưng không phải, nó sủa gấp hơn… mọi người nhìn về phía giường thằng Quân… trống trơn, bộ đồ đi ruộng của nó còn máng trên cán cuốc của nó. Người nghệ sĩ nhất y độc quởn, chỉ có cây đàn đã bán hôm qua, cây bàn chải đánh răng dắt ở túi quần sau, không mùng màn chiếu gối, không tâm sự lải nhải… Quân đã đi thật xa, bỏ nhiệm sở, đi vượt biên hay đi đâu không quan trọng bằng lời ngầm để lại, -ở trại này, ngoài con vàng, nó không phải đền ơn đáp nghĩa ai hết, không lưu luyến ai đến phải từ giã một cách bằng hữu như thế! Không ngờ tính chất nghệ sĩ ở con người đó, ngoài những cung bậc âm thanh, là cả lối sống và luôn lối suy nghĩ… Không khí hết vui dù đói vẫn ngự trị căn phòng từ khi thành lập, nồi cháo trâu của con vàng cứ nhả vào hơi đêm mùi thịt trâu thoang thoảng… Khánh dằn nắp nồi bằng cục gạch lóc nặng hơn cả con vàng, sáng ra vẫn có dấu ăn vụng. Hết nghe ai trách móc thằng Quân khi dễ anh em, bỏ đi không nói tiếng nào. Con vàng tử tế không nghe, không nhìn con người khi nghi kỵ lẫn nhau. Nó xử sự như một nhà hiền triết, sáng sớm đã ra đi, lặng lẽ săn bắt ngoài đồng rồi tha về…, nó bắt được cả con rái cá nhanh nhẹn cỡ nào. Con vàng đã khoẻ và mọi người được yên tâm về chất đạm trong mỗi bữa ăn.  

   Con vàng hết bệnh, mấy củ riềng mọc mầm trong góc phòng, trời đất mất ăn một bữa cúng bằng chính thịt xương của nó. Thủ trưởng đem dúi mấy củ riềng ngoài bờ ao, anh em mừng như cha mẹ sống lại, tai qua nạn khỏi, chuyện thằng Quân bỏ đi dần nhạt, đâu ai no bụng bằng âm nhạc của nó chứ! Mọi người quên đi kẻ cứu con chó nhưng là cứu anh em, những người mau quên bởi mong chờ hứng khởi hơn nhớ lại… họ đang mong ngày quốc khánh lại về trong hân hoan được ăn thịt, tối được uống trà quốc doanh, cắn đường móng trâu Hợp tác xã, hút thuốc Vàm cỏ, nói chuyện vượt biên…

    Văn thư trên Phân viện đưa xuống, lập danh sách nhân viên để phát thưởng, chia thịt heo với nhu yếu phẩm… tin hấp dẫn đến mất ngủ. Ngày quốc khánh đến thật gần. Từ sáng đã thấy rợp cờ ngoài phố chợ theo lệnh ông bí thư xã, ông thủ trưởng của chúng tôi đích thân về Phân viện trên thành phố từ chiều hôm qua, về để lãnh phần thịt heo ăn mừng độc lập của trại ta, "không có mặt sớm để chia thịt thì có mà ăn xương." Câu nói đầy trách nhiệm của người thủ trưởng như hiền phụ trong mơ, thức dậy dượng ghẻ đưa về cho anh em mớ xương dính mỡ để khi có thanh tra xuống hỏi thì đừng nói là không được quà của Phân viện cho ăn mừng quốc khánh. Mấy thằng con ghẻ của Phân viện đã như lính tiền đồn muôn năm thua thiệt, thương người thủ trưởng khôn nhà dại chợ, còn an ủi hắn. Nhưng hỏi đến quà đâu? "Ờ, Phân viện có gởi cho anh em Thạnh lộc ít đường, mấy bao thuốc lá, nhưng tớ phải tạt về nhà có việc, bỏ quên mất rồi, hôm nào tớ đưa lên!" Học giả ngồi nghĩ mãi không ra: lão làm gì có nhà để tạt ngang, không nghe nói đến người dì, người cô nào hết… một mình lão sống sót sau chiến tranh đã là ông trời quá đáng! Chỉ có cách ghé chợ nào bán tháo mọi thứ, rồi mua túi xương cho chó ăn  mừng độc lập. Học giả âm mưu với thằng Út, cố lén coi xét lão có tiền trong túi là mình suy tính đúng! Nhưng lão hôm nay không tuột cái quần dài ngay khi về trại, máng lên vách tường, chỗ đầu nằm giường lão như mọi hôm. Mặc suốt đến đi ngủ, thêm một nghi ngờ cũng không thay đổi được gì quan hệ "mày với tụi tao"… Mãi sau này, thằng Út không cam tâm bị áp bức-nhất là về vấn đề lương thực. Ép gì nó cũng nhịn chứ ăn chận lương thực thì nó đấu tranh đến cùng. Nhưng làm được gì nhau sau khi Út về thành phố mấy hôm bận việc gia đình, ghé ngang Phân viện đưa thơ giùm người bạn, và để hỏi cho ra lẽ Thạnh lộc ăn xương! Thì ra thủ trưởng Thạnh lộc đã bán sang tay trọn gói cho bà phụ trách đời sống ở Phân viện - cũng là người thu mua thịt thà, nhu yếu phẩm của những người độc thân trong cơ quan. Đơn giản ông nói với bà là Ủy ban nhân dân xã Thạnh lộc đã tặng quà cho ông và anh em Thạnh lộc, các tập đoàn sản xuất nông nghiệp trên ấy rất qúy anh em Phân viện vì hỗ trợ họ về mặt khoa học kỹ thuật, (hỗ trợ cả lúa giống, phân bón, thuốc trừ sâu… theo luật cung cầu của thời bao cấp.) Thủ trưởng không nói mà chỉ nói, họ quý anh em mình lắm nên đãi tiệc liên hoan, ăn không hết, còn đem ba cái thứ này về Thạnh lộc như chở củi về rừng…

    Trên Phân viện đâu biết mấy lon gạo thơm của tiểu thơ gởi Khánh đem về bồi dưỡng cho con vàng hôm nó bệnh còn đây, thằng Út định xử nhiều lần rồi nhưng ớn cái lưỡi phảng của thằng chó điên đó không có mắt! Nó khứa cổ Út là hết mong ngày đi diện con lai. Út đã ăn không no còn lo tiền lo lót cà phê thuốc lá cho người có radio bắt được đài BBC để đeo đuổi hy vọng một ngày được làm ruộng trên nước Mỹ. Út bị chửi là liếm giày đế quốc, bị đế quốc bỏ rơi còn chưa biết thân, cặn bã của xã hội, làm nhục nhân dân… Nhưng Út đã tuyên bố, "mày đừng tưởng mày khôn hơn tụi tao" nghĩa là đối với Út, chó sủa chó cứ sủa, đường Út Út sẽ đi nhanh như gió khi người ta cho đi diện con lai. Nay kẹt ngày độc lập mùng hai tháng chín, Út tế sống con vàng ba lạy để xin túi gạo thơm, đọc tuyên ngôn dõng dạc: "Con gì sinh ra cũng có cẳng, càng nhiều cẳng đi càng sát đất, không có cẳng, là thương binh cái cẳng. Nay hai cẳng nghiêng mình trước bốn cẳng, khẩn xin cứu tế ăn mừng độc lập!..." Con vàng khoái quá sủa gâu gâu, Út rành ngôn ngữ chó nên dịch luôn ra cho mọi người, "không có gì quý hơn độc lập tự do…" Thủ trưởng giận tím mặt, gọi Út vô kho sinh hoạt tư tưởng, ngoài này, Kháng trút mấy lon gạo thơm vô nồi xương mà Út hầm hoài cũng chưa có gạo.

   Nồi cháo lỏng bỏng, lèo tèo mấy miếng mỡ như cứt trôi sông, ai cũng tin học thuyết nhục trầm tỷ thượng của học giả ít khi nào nói trúng. Cả đám thi nhau vớt như đãi vàng cũng chỉ có xương cục đụng mấy cục xương. Con vàng khi người bỏ đi hóng gió, gọi mãi không về. Mấy thằng súc sanh ăn xương rửng mỡ, tức người chọc chó, chọc tức con vàng cho nó tru lên bài quốc ca nhân ngày độc lập. Thằng Khánh điên tiết, tả xung hữu đột cán cuốc vô đám ngu hơn chó để cứu con vàng. Con vàng từ đó, thấy thằng Út là lừ mắt nhe răng rồi bỏ đi chứ không chào hỏi gì nữa, hết bạn bè… thằng Út tức tối, gọi con vàng là thủ trưởng vì gặp nó ông cũng lừ mắt, răng ông nhe sẵn nên không cần nhe thêm, lừ lừ ra lệnh rồi bỏ đi, "liệu hồn mày đấy!"

   Hai bên nghinh nhau nhưng không đuổi thằng Út được vì thỉnh thoảng chị nó lên thăm, quà cáp đem theo vô cùng quan trọng với đàn em của chị Sáu, chị cho hũ mắm ruốc xào xả ớt, không thấy miếng thịt ba chỉ  nào nhưng nhiêu đó đã hết tấm lòng bồ tát của bà chị công nhân hãng dệt. Chị cho hũ muối mè để dành ăn hôm mưa, chai nước mắm để kho cá kho thịt, nhưng đàn em toàn kho quẹt. Chị Sáu mặn mà duyên quê, da sáng trưng vì má Út đi làm sở Mỹ, bị sóc dằm Mỹ đen, nhổ hoài không ra mà ra thằng Út. Số phận hẩm hiu của nó được trời đền cho bà chị Quan Âm, chị thương chúng sanh dù không sanh ra chúng, đàn em thương mến chị lòng lành, nhân hậu từ ánh mắt, nụ cười nên vô cùng cảnh giác chị, "coi chừng chó cắn" vì nó cứ nhìn chị chảy nước miếng. Nhưng chị thật thà, cứ bênh vực cho con vàng hiền ngoan, sao tụi em cứ nói nó muốn cắn chị! Chị đâu biết con vàng tiếng lóng là ai, mỗi lần chị Sáu lên thăm thằng Út và bạn bè nó, sắp về là con vàng đi công tác khẩn, trịnh trọng dắt xe mobylette ra khỏi trại, nhưng chỉ chạy đến bên kia cầu Ba thôn, lấp ló đợi chị đạp xe ngang là nổ máy lạch phạch chiếc mobylette, ngẫu nhiên chung đường… 

    Con vàng đã đủ lông đủ đuôi,  không phải coi chừng nó nữa, nó đi về tự tin, không sợ ai bắt nó vì muốn bắt nó cũng không dễ. Nó đi chơi, đi làm, tham gia sinh hoạt địa phương như mọi con chó đều thích nổi tiếng. Không nhớ ngày tháng nào trong năm, một năm chỉ có một đêm rằm cuối tháng là nước ròng sát đáy những con kinh hẹp bề ngang nhưng rất sâu ở Thạnh lộc, trời không trăng sao, đen kịt. Là đêm đi mò tôm. Từng tốp người hay từng gia đình, đàn ông con trai lội trước, cứ quậy cho sình lỏng ùng ục lên, cho tôm càng bị ngộp thì nổi lên mặt sình lỏng để thở. Đàn bà, con gái lội theo sau, họ đặt những cái đèn bão vào thau, chậu, đẩy trên mặt sình loãng. Ánh sáng đèn sẽ phản chiếu hai chấm đỏ là đôi mắt tôm càng, tùy thế đôi mắt mà suy ra mình con tôm đang hướng nào, họ chộp rất nghề, con tôm bự sự nằm gọn trong tay, bỏ rọ đem về. Cứ đúng sáng hôm sau đêm mò tôm là có lái buôn từ Sài Gòn lên, họ thua mua om xòm ngoài chợ Thạnh lộc để đưa về Sài Gòn. Người dân địa phương không mấy ai biết mùi vị tôm càng ra sao, vì mỗi năm chỉ có một dịp kiếm tiền dễ như đi mò tôm để mua áo mới cho con, lợp lại mái lá căn nhà đã dột nát… Không phải một thời mà muôn năm người dân quê truyền đời cơ cực.

   Đám thanh niên Phân viện cũng hợp tác với tập đoàn Tư Thép, mấy cô cấy lúa thuê điệu đàng đi mò tôm với mấy anh Phân viện như đi hội làng. Đám thanh niên bên Kỹ thuật điện không được lòng con gái địa phương, họ gọi tụi đó là "Kỹ thuật điên". Tụi nó thấy họ đi với trai Phân viện nên nói móc, tụi anh điên cũng còn thơm hơn mấy thằng "Phân vịt", thiệt là vui trong đêm mò tôm. Giỏi nhất là con vàng, nó khoẻ lại nhờ uống hết cây đàn của thằng Quân. Bảo ở nhà coi nhà, mày bệnh đó, biết không? Nó ử ử, rồi cũng ham vui, tự động xuống kinh, bắt tôm, bắt cá, làm mấy cô gái mê nó còn hơn mê trai.

   Con vàng ngày càng bận rộn, lúa đã thời con gái, anh em chỉ phải đi nhổ cỏ dại sơ sơ, bón phân, xịt thuốc trừ sâu, thăm bọng để canh nước cho lúa… chả đứa nào siêng ra đồng, cứ ngồi nhà chặt hẻo, đánh tiến lên với nhau. Sai con vàng đi thăm bọng, nó đi biền biệt không về là không có gì xảy ra, nó đi vô xóm, tán gái. Ẻm của nó xếp hàng bên lũy tre tình tứ, õng ẹo, em nào cũng mơn mởn xuân thì, thấy anh vàng là chổng mông chờ tình khi không mà có. Nó oai phong lẫm liệt, mấy con chó đực trong xóm, thấy nó là cụp đuôi, chuồn mất. Nó mà nổi giận, vật con nào là con đó chỉ còn có vô nồi. Nhưng nó nhận lệnh đi thăm bọng mà quay về liền, nhảy luôn chân cẳng sình đất lên bàn bài đang gay cấn, miệng ứ ứ không ngừng là y như rằng có bọng bị bể, ruộng ngập nước hay vỡ bờ…

   Mùa lúa đổ đòng đòng, vịt nhà ai léng phéng xuống ruộng là nó vặn cổ, mấy đứa nhỏ trong xóm, phải chăn vịt nhà, không sợ trộm mà sợ con vàng, sợ vịt lội bậy xuống ruộng Phân viện là chết với con vàng. Không ai dạy mà nó biết, con gì nó bắt được thì tha về bếp ăn tập thể, nhưng vặn cổ vịt ăn lúa thì bỏ đó chứ không tha về. Ông bí thư xã nghe danh, dùng quyền chính ủy mượn con vàng về coi ruộng nhà ông, nó vặn cổ bầy vịt cảnh cáo, bỏ đi, sống ngoài vòng pháp luật từ khi ông tuyên án bắn bỏ nó. Nó đánh hơi súng đạn rất tài, có công an, du kích xuất hiện là nó ẩn mình mất tiêu, ngoài ruộng hay phố chợ nó cũng mất dạng trong tích tắc. Từ hôm va chạm với bí thư, nó ngày đi giang hồ từ cầu Ba thôn tới cầu Trùm bích là đất địa của nó, đêm về ngủ Phân viện, coi nhà. Nó khác hết những con chó từ cầu Ba thôn, qua chợ Thạnh lộc, đến cầu Trùm bích, tướng tá nó uy vũ, cái bờm trên cổ làm cho nó uy nghi như đại tướng quân. Những tranh chấp địa bàn, gái gú trong quản hạt của nó đang ăng ẳng, ư ử, gâu gâu… nó đến là im hết. Có những con chó đực to lớn hơn nó, dám nghinh nó, nhưng tới lúc so nanh là con kia tự động quay đầu, bỏ đi. Nó làm nở mày nở mặt thằng Khánh ở địa phương. Người ta nói đánh chó nể mặt chủ, nhưng thằng Khánh không nhờ người ta nể mặt nó thì ốm đòn vì phạm thượng, dám phun nước miếng trước mặt ông bí thư chứ không thèm nói lạm dụng quyền lực cưỡng mượn chó, còn tuyên án tử hình con vàng mới quá đáng.

    Con vàng từ hôm sống ngoài vòng pháp luật, nó như suy tư hơn. Có khi thấy nó đứng im rất lâu ngoài bờ kinh, không phải đang canh con rắn, con chuột nào… nó có tâm sự trong đôi mắt vời vợi, hay nó nhớ cố hương khi đã thành gia thất. Quê quán của nó ở đảo Phú Quốc, nó là giống chó săn vùng biển. Không biết lưu lạc làm sao đến đất Mũi, kết nghĩa anh em với thằng Khánh sau lần thập tử nhất sinh. Đời trôi dạt thời ấy đâu riêng gì con chó, con người còn trôi xa xôi hơn… Những buổi chiều tàn trên cánh đồng bất tận, nó đứng yên như chó đá, trông cô đơn, lạc loài như người ta đánh mất quê hương… Và sau buổi chiều con vàng thinh lặng ngoài ruộng, nó chễnh mảng việc đồng áng, nó lờ từ hôm đưa ẻm bạch mao bên nhà thờ về kho lúa Phân viện làm ổ. Thì ra nó se duyên cũng chọn xuất xứ đàng hoàng, mấy ông thầy bên nhà thờ nghe tin, qua đón bầy chó con hoan hỉ…

   Con vàng vô mùa gặt lừng danh Thạnh lộc, nó không tha tới con chuột nhắt, bao nhiêu chuột lớn nhỏ trên đồng nó thâu tóm hết. Ai thấy nó trên đồng cũng phải mê, một dũng sĩ tả xông hữu đột, không có cái gì qua mắt nó, một cái bao đựng lúa bay xuống kinh, nó cũng lội đi nhặt về… 

   Mùa gặt xong xuôi, nông nhàn, con vàng lúc này đi nhà thờ chăm chỉ vì con chó trắng về bên ấy rồi. Nó chơi với chó con trong sân nhà thờ như một người cha tốt, mấy ông thầy cưng bầy chó nhỏ hết nói, vì đã lai nên đàn con của nó không cao giò, chỉ dợn sóng chứ không có hẳn cái bờn ngựa như nó. Các thầy lại nói thấy hiền hơn con vàng nên các thầy thương lắm. 

   Mùa Giáng sinh năm ấy do cánh én đưa về, khí trời hanh hao, không gian hết xanh tươi màu lá, ruộng đồng trơ gốc rạ sang xuân… Những buổi chiều phủ xuống tí sương mù xa xa, chúng tôi nhớ Sài Gòn ghê gớm lắm khi sang nhà thờ phụ làm hang đá bằng giấy bao xi măng, phun mấy màu quét vôi tường nhà, người đi lễ nhiều hơn, đông hơn, những kẻ nhớ Sài Gòn nhưng không dám về, không tiền đi quán nên kéo nhau ra cầu Ba thôn ngồi nhìn chiều rơi trên những cánh đồng sau mùa gặt… Chiều tiễn biệt thằng Khánh lên đường vượt biên lần nữa nằm ngoài dự liệu, nó đã được tin gia đình tới đảo, bác nó lo cho nó đi chuyến nữa, bữa tiệc tiễn đưa-không hẹn ngày gặp lại chỉ có 3 xị rượu đế, cóc ổi, khô cá đuối, ngoài chợ Thạnh lộc, nhiêu đó đã hết khả năng tài chánh của anh em, bữa tiệc không làm sao tiêu thụ hết thời gian từ chiều tới tối, lại kéo nhau ra cầu Ba thôn ngồi ngó ai về… Con vàng im lặng nhất, sự im lặng buồn bã như nó hiểu thằng Khánh dù thương nó tới đâu cũng phải bỏ lại vì ai cho đem chó lên tàu vượt biên. Nó thường theo thằng Út, là người ưa chọc phá nó nhưng cũng ưa chơi với nó, hôm nay nó quẫn chân thằng Khánh, không nói năng gì nhưng hai đứa nhìn nhau thương cảm. Nó cứ dúi đầu vô thằng Khánh, hít hơi… mắt nó long lanh như bị bụi, nước mắt thằng Khánh chực rơi trước nó, thằng Út chòm chèm nhai trái cóc tới trơ hột còn chưa chịu bỏ, Út đưa hột cóc vô mũi con vàng, "mày đi nhặt cái hột cóc này về được thì tao cho mày đi vượt biên." Út nói xong, ném cái hột cóc vô rẫy mía đường. Mía đường thì người ta không tuốt lá như mía ăn cây, rẫy mía rậm như rừng. Con vàng lao vô rẫy mía trong tiếng nguyền rủa của anh em, "mày điên rồi hả Út, kêu con vàng vô rẫy mía, lá mía cắt nó nát mình mảy chứ bộ chơi sao," nói thì nói vậy, ai cũng hiểu thằng Út giải toả cho thằng Khánh với con vàng đừng quá bi thương…

   Nhưng trời đã tối nhiều, huýt sáo bao nhiêu con vàng cũng không chịu ra khỏi rẫy mía, thằng Út nháy mắt anh em là đừng kêu con vàng về, để đêm nay thằng Khánh dễ đi! Chúng tôi trở về trại, đốt đèn dầu hom hem, thay vì đánh bài tiến lên như mọi khi thì anh em chỉ ngồi nhìn nhau. Tôi qua nhà thờ xin dúm trà, về bắc nồi trà, chia mỗi đứa một chén nhâm nhi… ghé xin ông Mười bắt rắn nắm thuốc rê về cuốn giấy báo, bữa tiệc này cũng là bữa tiệc tiễn tôi đi, tôi hết chịu nổi cảnh sống này, nhưng không nói ra. Chúng tôi ngồi tới trăng muộn đã leo thềm cửa sổ, con vàng trở về, mình mảy nó trầy xước, nhìn nó mệt mỏi tới hết sức, thằng Khánh ôm nó vào lòng, nước mắt dàn dụa… nó vùng ra, lao đi trong đêm trăng nhờ nhợ sắp Giáng sinh. Gần sáng, chuông nhà thờ đã đổ lễ nhất, chúng tôi nói Khánh đi đi, đi chuyến xe sớm dễ thoát, về gần tới An nhơn thì xuống xe, chịu khó đi bộ len lỏi qua xóm nhà dân là thoát trạm, lại tiếp tục đón xe về ngã 5 Chuồng chó, cũng xuống xe trước trạm nha Khánh, chịu khó đi bộ len lỏi qua xóm nhà dân, từ từ vô Sài Gòn, mùa này bắt dữ nên phải cẩn thận… Giờ chia tay rồi cũng đến, không đứa nào đưa Khánh ra chợ Thạnh lộc đón xe để khỏi ai nghi ngờ vì chúng tôi phải đi qua con đường độc đạo mà một bên là nhà thờ, một bên là trụ sở công an, ủy ban nhân dân xã Thạnh lộc, đâu biết đôi mắt nào từ trong khuôn viên quyền lực luôn để mắt tới chúng tôi, theo dõi.

   Khánh từ biệt anh em, gởi lại con vàng cho người cuối cùng trong bọn mình rời khỏi trại này… nó đi tay không vì khi đến đây chỉ có một con chó thì đã không đem đi được, Khánh lầm lũi ra khỏi cổng trại, bóng nó mờ mờ trên con đường một mình, không ai thấy nhưng biết là nó khóc, thằng này bề ngoài cứng cỏi nhưng tình cảm chôn sâu cất kỹ trong lòng. Khánh đã đi qua khỏi cổng nhà thờ, khỏi tầm mắt bạn bè tiễn đưa, những đôi mắt bèo mây còn bàng hoàng ước nguyện cho Khánh được toại nguyện, chuyến đi thành công, được gặp lại gia đình… nhất là tiểu thơ rau đay của Khánh!

    Con vàng xông vào trại dáo dác, mình mảy nó trầy xước tứ tung, mắt đỏ hoe, mệt lử… nó nhả cái hột cóc xuống chân thằng Út, nhìn quanh không thấy Khánh, nó lao đi lần vĩnh biệt. Chúng tôi chỉ biết nhìn theo bóng cái xe lam qua cầu Ba thôn trong ánh trăng nhạt nhẽo, có bóng con vàng chạy theo sau chiếc xe ì ạch qua cầu. Nó và cả Khánh, không ai còn gặp nữa dưới vòm trời Thạnh lộc, mọi người chỉ còn mong cho hai đứa nó bình yên. Nhiều năm đã đi qua nhiều địa danh trong đời, từ một góc trời bỗng nhớ tới con vàng và một người bạn đã gắn bó trong một khoảng đời đen tối ở quê xa. 

3.Con vện 

   Chó con nằm im nghe gõ keyboar lạch cạch, thân nhiệt nó hơi sốt, thở khò khè, chắc nhiễm trùng cuống họng. Nó là con chó hiền lành có đôi mắt lém lỉnh, lông vàng da bò pha mấy mảng đen, thuộc giống chó dachshund chân ngắn lưng dài, được lai tạo từ berger to lớn. Người Đức cố tạo ra giống chó có tính chất của loài berger nhưng thân hình thích hợp cho việc săn thú nhỏ, phải đào bới hang sâu như chồn, thỏ… ưu điểm của giống chó này là đánh hơi giỏi, mõm dài hàm mạnh, có cái đuôi khoẻ để vạch cỏ tìm kiếm con mồi lúc đi săn, tuổi thọ khá cao trong các loài chó, khoảng 20 năm. Và yếu điểm là đôi mắt dễ bị lòa khi có tuổi, xương sống dài trở nên bất lợi lúc sơ sinh vì còn yếu và khi về già… Được sống trong thời đại Google thật là mau lẹ, chỉ cần click chuột vài cái đã biết tới tổ tông của giống chó dachshund rất phổ biến ở Đức từ đầu thế kỷ 18 và du nhập sang Hoa Kỳ vào những năm cuối thế kỷ đó. Dòng giống nó lừng lẫy tới được chọn làm biểu tượng của Thế vận hội mùa hè 1972 tại Munich với tên Waldi…

   Với tôi đơn giản, nó là con vện vì màu lông pha, con chó con bắt đầu hành trình mới của đời mình chỉ sau hai tháng chào đời. Nó sinh ra tại đâu, vì sao người chủ lại bỏ hay bán nó đi, cha mẹ nó có biết không?... Tiện tay vuốt ve vài cái, chó con lim dim như gãi đúng chỗ ngứa. Ngưng tay, nó liếc trợn tròng như cô nàng tiếp thị. Gương mặt nó buồn như câu trả lời về xuất xứ, nhưng đôi mắt biết cười như nó đã quên. Nó sẽ là con chó biết làm cho người ta cảm động. Tạm thời nằm yên khi không khoẻ, không biết thằng con có biết tình trạng sức khoẻ con chó của nó? Tôi nhìn vô trong nhà vẫn chưa ai thức, xứ này nắng lên vàng rực cũng chưa ai dậy trong những ngày cuối tuần, những ngày trong tuần thì người ta lại đi học đi làm trước nắng lên. Nắng bơ vơ như người lạc xứ, sớm mai vàng chiều nhạt với hư không… Một mùa hè sắp sửa đi qua, thằng con đi chơi hơn tháng nay mới về lại nhà. Không gian câm đầy ắp căn phòng của nó những ngày qua nay lại vang vang tiếng nói cười, cái võng giăng ngang phòng vì không còn tủ kệ nào chứa nổi mớ thú nhồi bông đã ngủ yên từ hôn người chủ nhỏ vắng nhà, những con heo, con bò, gà, gấu… con nào mua về cũng được đặt tên theo những nhân vật, thú vật trong phim hoạt hình mà nó ưa thích. Mỗi đêm, trước khi lên giường, nó đều giành ra dăm phút trò chuyện với bạn bè rồi mới chịu ngủ. Chuyện dài về đứa con nhỏ nhất trong nhà bao giờ cũng dài như phim bộ vì nó lớn lên từng ngày trong tình thương yêu của cha mẹ, còn thêm anh Hai nó nữa, đó mới là nhân vật quan trọng trong đời nó vì anh Hai không quá già để khó khăn như cha mẹ, không quá trẻ để nó thiếu lòng tin, một người bạn khi vui chơi, người thầy khi học tập, người chia sẻ vui buồn với nó từ khi chào đời tới lúc không còn cha mẹ mới thấy trên đời chỉ có hai anh em… Nghĩ xa không qua ngày tháng, cái bàn ăn thiếu chuyện kể đủ thứ trong trường của nó như thức ăn thiếu gia vị. Tới giờ đi ngủ, không nghe tiếng hò hét tắt tivi, uống sữa, đi đánh răng nhanh lên… mày còn lượn tới lượn lui… má đánh bây giờ! Những ồn ào khó tránh trong một căn nhà làm cho người ta tức bực tới lúc đi tìm, ngồi nghe tường vắng kể chuyện đã qua.

    Hôm đi, nó mang theo con bọ (guinea-pig) tên Russell, là quà Giáng sinh yêu thích của cu cậu mê thú nuôi. Con bọ bằng nắm tay, lớn nhanh như thổi. Ngày nào đi học về cũng chăm lo cho con bọ như em gái thân yêu, ẵm bồng cả tiếng, cưng nựng mọi điều. Từ hôm có Russell làm bạn mới biết hỏi thăm, "Chừng nào ông bà đến? Weekend này ông bà có đến nhà mình không?..." Cô chú Thiệp thương nó và con Russell nên ông bà đến chơi nhà, ngoài những món ăn chơi, chai rược đỏ, túi cà phê Starbucks, phong chocolate cho nó như trước kia, nay thêm mớ túi baby carrot cho Russell. Chao ôi, tiếng "ông", tiếng "bà" ngọt như đường cát mát như đường phèn…  làm tôi nhớ tiếng "ngoại" của tôi nơi nhà cũ, bà ngoại mượn bên hành xóm mà tình như ruột thịt. Ông bà Nguyễn rồi cũng sẽ đi vào ký ức tuổi thơ của một đứa trẻ không có ông bà. Baby carrot sẽ gợi nhớ nó về căn nhà tuổi nhỏ và ông bà nhà thơ hiền lành, thân mật…

    Không biết lời nguyền nào đã linh ứng, ông bà nội ngoại của tôi đều chết vì đấu tố ngoài bắc. Tôi chỉ biết ông bà qua di ảnh. Đến đời con cũng không có ông bà từ ngày lọt lòng mẹ, một người Việt sinh ra tại Mỹ, còn xa hơn tôi sinh ra trong một gia đình di cư từ bắc vô nam. Nó nhắc tới ông bà rất bỗng dưng… "bà mà gặp lại con Russell là bà hết hồn đó mẹ! Nè, mẹ coi đi, mẹ ẵm nó thử đi, hôm nay nó nặng bằng con rồi đó!"  Những ồn ào thường nhật bỗng bặt tăm từ hôm nó nghỉ hè, ẵm con Russell đi vacation. Cả nếp sống gia đình, bỗng thay đổi như  hôm anh Hai nó đi đại học, bốn năm qua không còn phải vô tận giường đánh thức mỗi sáng, chiều tối không phải nghe la hét om xòn, "phòng mày như ổ chó…" nhiều khi cái ổ chó quen mắt, chợt lúc nào đó, vô phòng nó lấy quyển sách, nhìn căn phòng ngăn nắp-thiếu hơi người, mền gối tươm tất như khách sạn. Bỗng thèm thấy cái ổ chó còn hơn thằng con phải từng ngày lo ăn, lo giặt một mình nơi không phải là nhà. Đâu cũng bốn bức tường dưới mái che và lo toan trước mắt. Đến một lúc nào đó, người ta sẽ phân biệt được chỗ tạm dung là nơi dừng chân khi mệt mỏi trên hành trình dài. Nhà là một nơi để về, không sợ hiểm nguy rình rập xung quanh, bình an ngồi khâu vá tâm tư trong tình thân ruột thịt… đứa lớn còn rong ruổi trên hành trình của nó. Những lời động viên, chia sẻ kinh nghiệm hữu ích hơn rầy la long-distance. Tương lai thằng em cũng sẽ đi như thế, là một thực tại phải chuẩn bị tinh thần để giảm thiểu hụt hẫng. Căn nhà sẽ có thêm một phòng trống. Và khi nó trở về, không còn là chú nhóc liếng thoắng. Không đòi ăn món này món nọ, mà chỉ hỏi món đó nấu làm sao? Mới hôm nào ồn ào đi tìm cái máy game để đâu, bây giờ lặng lẽ tìm cái bóp với xâu chìa khóa… Con trai hướng ngoại không có gì lạ, chỉ có người mẹ sau cánh cửa gia đình đã chờ chồng con trở về hết đời này qua đời khác, giữ kỹ món đồ chơi, bức tranh vẽ nguệch ngoạc của con mình để thấy nó còn bé bỏng muôn đời…

    Chó con vẫn nằm im, một con chó ngoan mau chiếm được cảm tình, con chó biết nhận ra người gia chủ trong gia đình đông người cỡ nào nó cũng nhận ra, và nó biết nghe lời người đó lắm, nhưng tình cảm của nó thường giành cho người ưa chơi với nó chứ không phải chủ nhà. Như con vàng của thằng Khánh ngày xưa, tối ngày lẽo đẽo theo thằng Út, chọc phá nhau không ngừng. Nhưng khi khó xử việc gì thì nó lại nhìn tôi, tôi búng tay cái chóc là nó làm tới, nhíu mày là nó rút lui. Cuối cùng, chạy theo thằng Khánh… con chó máu nóng nên tâm lý phức tạp như con người. Nhớ hôm qua, thằng con về lại nhà sau chuyến rong chơi dài ngày, nó cao lên thấy rõ, có vẻ trầm tĩnh hơn và tự lo lấy hơn là kêu mẹ… Hôm đi, mang theo con Russell, hôm về, mang con chó, một hôm nào nó đi vacation, dẫn về con… nhỏ, màu sáng cũng đỡ, đen thủi đen thùi, chưa vô nhà đã sực nức cà ri, hay một nàng ombomseries chứ không thèm ôm bom lẻ, trùm khăn kín mít, khó đoán âm mưu… Ngồi vuốt ve con chó, nghe lòng mình chơi vơi…  Thằng con đã lù lù xuất hiện, "Hi Dad, goodmorning! Lili có ngoan không vậy bố?"

   "Ngoan lắm."

   "Bằng con không?"

   "Bố nghĩ là hơn con chút xíu, nó nằm im nãy giờ, không kêu bother như con!"

   "Hì hì… nó đang bệnh đó. Nó hết bệnh… cũng không có hiền đâu!"

   "Sao hôm trước, bố mẹ cho mua con chó. Anh Hai gởi hình con chó định mua về nhà, đâu phải con này?"

   "Dạ đúng, con cũng thích con đó, Hai cũng thích. Nó đẹp lắm, nhưng tốn nhiều tiền của mẹ lắm đó! Nó tới mấy hundred lận bố!"

   "Bố có nghe mẹ nói, nhưng đã cho mua, sao con không mua con chó con thích?"

   "Bạn của Hai, bốn hớ Bryan không?"

   "Nhớ,"

    "Bryan cũng thích con chó đó lắm. Bryan nuôi chó từ hồi nhỏ bằng con tới bây giờ nó cũ lắm rồi, vợ nó bỏ nó đi luôn. Con với Hai mới phải đi dọn nhà cho Bryan…"

    "Ok, chuyện Bryan divorce nói sau. Nó bao nhiêu tuổi mà con nói nó cũ?"

    "Bryan ba chục years old rồi đó. Nó hay chó lắm, nó nói với con là con chó đó đẹp thiệt, nhưng nuôi nó khó lắm, training cũng khó. Bryan sợ con take care không nổi!"

   "Cũng đúng. Rồi tụi con mua con chó này ở đâu?"

   "Hai search internet, tìm được cái Animal Center dưới Houston. Chỗ này người ta bán những con chó của người nuôi không nổi thì đem tới đó bỏ, hay những con chó người ta tìm được ngoài đường…"

   "Rồi sao con tìm được lili, sao con mua nó? Con có biết là nó đang bệnh, và tai bên phải bị tật - không đều với tai bên trái?"

   "Con biết!..."

   "Anh Hai có biết không?"

   "Hai cũng biết, Hai không thích nó bằng con Hai đã sent picture về cho bố. Nhưng con thích nên Hai mua cho con."

   "Sao con biết anh Hai không thích mà con còn mua? Không nên thấy anh Hai thương con rồi bắt Hai làm chuyện mà Hai không thích!"

   "Con biết,… Hai không thích chút thôi. Nhưng con thích là Hai ok mà!"

   "Còn nói, từ nay, anh Hai say no thì thôi! Biết chưa?"

   "Dạ."

   "Sao con lại thích con chó này, sao gọi nó là lili?"

   "Con đâu có thích!"

   "Trời đất, không thích sao mua?"

   "Con muốn cứu nó thôi!"

    Tôi nhìn mặt thằng con, nhìn con chó của nó. Đúng là chủ nào chó nấy, người sao vật vậy! Cái mặt hiền hiền nhưng hai con mắt lém lỉnh, suy nghĩ ngộ nghĩnh, nói năng không cú pháp, văn phạm gì cho mệt… nhưng câu trả lời, "Con muốn cứu nó thôi!" đã chuộc hết lỗi lầm, cứu một con chó không thích hay mua con chó ưng ý trong khả năng cho phép? Câu trả lời là tính trời sanh. Tôi nói, "Con nói rõ cho bố nghe về con chó này."

   "Dạ. Nó bị nhốt trong cái chuồng chút xíu hà, tất cả là 7 con, nó nhỏ nhất, đang bị bệnh nữa, sao dành lại được! Những con kia leo lên người nó để xin người ta ẵm ra ngoài, đạp lên đầu nó, đái trên mình nó… Con đến coi, con biết là không cứu nó thì nó sẽ chết, người ta đâu có take care gì đâu!..."

   "Vậy là con chọn nó?"

   "Đúng, Hai không muốn nhưng con nói Hai…"

   "Biết rồi. Ở Animal Center, người ta có nói với con là nó đang bị bệnh?"

   "Có, nhưng con muốn mua nó. Hai có nói với con, nếu mua nó là phải đi bác sĩ, nhiều tiền lắm đó! Nhưng con…  không muốn nó chết. Sorry dad!"

   "Cũng tốt. Con đúng đó!"

   Nó mới nhún vai sorry, mặt buồn thê thiết, làm như ăn năn dữ lắm! Nghe nói, "con đúng đó" là tươi tỉnh, tía lia cái miệng, "Con với Hai phải đem nó đi tắm, cắt móng chân, nó thúi lắm. Người ta thấy con tội nghiệp quá, nên tính mười hai đồng thôi! Con tính nó là lucky dog đó dad."

   "Lucky gì đâu, anh Hai nói với dad là đi bác sĩ hết mấy trăm?"

   "Cũng còn lucky chứ! Nó không chết là lucky rồi! Bà bác sĩ dog còn nói nó dễ thương, con dễ thương. Bà cho free mấy lần chích ngừa sắp tới. Xí, được free mấy hundred tiền chích ngừa, là cũng bằng tiền đi bác sĩ cho nó, mà mình cứu được nó…"

    Thua thằng nhỏ 2-0, nhưng hiểu ra lòng mình, lòng người, lòng dạ hẹp hòi, ích kỷ bẩm sinh, ưa lộng giả thành thật riết rồi u mê. - Suy nghĩ đạo đức làm gì khi chỉ làm gì có lợi. Điều (chuyện) bất lợi, ai làm? Kẻ cắp bạc chẵn, đi cúng chùa bạc lẻ là cảm thấy hết tội! Người ra tiền mua bao crawfish, nhưng không sát sanh nên nhờ người khác luộc rồi đớp chung… ông luật sư cãi đen thành trắng, chuyện áy náy trong lòng chỉ nói với ông cha. - Người xưng tội thanh thản ra về!... Ai cũng đạo đức trong thế giới chiến tranh miệt mài…

   Thằng con lại ẵm bồng lili như con Russell hôm trước, tôi hỏi: "Con Russell của con đâu rồi?"

   "Hai không cho nuôi 2 con, mà con không muốn bỏ nó ngoài Petco cho người ta lấy…"

   "Vậy nó đâu? Ông bà hỏi thăm con với nó hoài đó!"

   "Sorry, con cho nó cho ông Mỹ-bạn bố đó!"

   "À, ông Mỹ dưới lầu - anh Hai."

   "Dạ đúng."

   "OK, ông đó tốt lắm, bố thích nói chuyện với ông Thomas. Con có biết ông ấy đã từng sang Việt Nam thời chiến tranh…"

   "Con biết, ông Thomas biết nói tiếng Việt chút chút đó dad! Ông ấy cũng cưng Russell lắm, sáng nào ông ấy cũng chơi với nó ngoài sân…"

   "Thôi được, khi nào con trở xuống anh Hai, nhắc mẹ mua foods cho Russell và nói bố mẹ gởi lời thăm ông Thomas với Russell."

   "Đúng đó. Russell ở nhà ông Thomas, nhưng nó còn nhớ con. Con qua chơi là nó mừng liền!"

   "Hey, sao con gọi con chó này là lili?"

   "Thì nó lì lì như mẹ ưa la con, 'Cái mặt mày lì ra đó đi! có tin mẹ đánh…' Con thấy nó trong Animal Center, cái mặt lì ra đó nên gọi nó là lili."

   "Con có biết nó là con chó girl không?"

   "Con biết!"

   "Sao không mua con chó boy, con thích con chó boy mà?"

   "Nhưng không lẽ con chó girl thì không cứu nó! Con nói là không cứu nó là nó chết! Dad quên rồi sao?"

   "Phải ha,…

   dad không bao giờ quên được lòng dạ hẹp hòi, ích kỷ… khi tuổi thơ đã vĩnh viễn ra đi."

    Thằng con chơi với lili ngoài sân sau, hình ảnh tuổi thơ của thằng con đã đọng lại trong tôi, sẽ ở đó vĩnh viễn cho dù mai này nó thế nào, khi đời sống đánh cắp tuổi thơ của từng người không dấu vết để lại.  






© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 07.09.2010 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hoa Kỳ.