Ba Con Chó
PHAN
1. Con Mực
Nhà tôi có
con chó mực đen
tuyền, đen đến cái lưỡi đỏ của nó cũng có đốm đen
giữa lưỡi. Tôi nhớ, nó có bốn cái móng treo ở bốn
chân vì
cách mặt đất
cỡ lóng tay, nhưng ai cũng gọi là
móng đề,
chó có móng đề không hiếm nhưng đủ bốn chân bốn móng
thì đặc biệt và dân gian cho sự
vẹn toàn đó
là đặc tính khôn
ngoan và
tận trung của một con chó. Tôi nghe được
những lời khen ngợi con mực từ bạn cha tôi đến chơi
nhà, lời
bình phẩm của những người hàng xóm, rồi quên đi khi
có bạn trang lứa rủ đi chơi. Chỉ nhớ ra con mực đáng
tin cậy khi đi chơi một mình, có cảm giác sợ ma hay sợ
chó hàng xóm ưa rượt đuổi con nít thì kêu con mực đi theo, và nó rất vui vẻ
theo tôi rong chơi suốt mùa hè vô tận khi tôi chưa đi học.
Nó ngày càng thân thiết với tôi, hiểu ý nhau nên đi chơi mỗi
ngày xa
hơn một chút…
Đôi lần cha cho tôi đứng trong lòng chiếc xe vespa của
ông, cha lái xe chậm rì trên con đường
chiều lộng gió, thỉnh thoảng mới thấy cái xe ngựa ngược
chiều, máng, treo lỉnh kỉnh quang gánh và
tiếng trò chuyện của người quen trên xe ngựa, tôi hãnh
diện lắm khi những người ngồi trên xe ngựa thấy tôi
đang được đi xe vespa, có tiếng máy nổ pong pong khoái
tai. Thỉnh thoảng gặp người đi bộ hay xe đạp, xe gắn
máy hiếm hoi, họ chào hỏi cha tôi, tôi chào lại rất lễ
phép để hy vọng được cha cho đi theo những lần sau. Những
buổi chiều không ngày tháng nên còn hoài trong ký ức, bên
trái là những xóm nhà ẩn hiện trong màu xanh của lá, lưa
thưa những thân cau, thân dừa vươn lên trời xanh, bên phải
con đường là ruộng lúa mênh mông, thỉnh thoảng nổi lên
giữa bao la xanh rì của lúa là những cái gò mả, có gò
chỉ vài cái mả, có gò hơn chục cái, những cái gò ám
ảnh tuổi thơ vì từ đó
người lớn thêu
dệt, chế tác ra bao nhiêu chuyện kinh sợ để
hù doạ
trẻ con đừng
đi chơi xa… Và
không ai biết những toan tính, ước mơ gì đã hình thành trong
tâm tưởng tôi từ dạo đó! Tôi cũng quên luôn với mỗi
lần cha tôi dừng xe rất chậm rãi, tắt máy, dựng xe lên,
gác cây súng săn
lên chiếc
yên dài của xe vespa. Ông ngắm rất kỹ, kỹ đến
mười lần thì
hơn năm lần con cò đã bay mất; Ba, bốn
lần kịp bóp cò thì chừng hai lần phải phiền đến con mực,
nó lẽo đẽo chạy theo xe cha con tôi, không sủa một tiếng,
biết căng mắt chờ đợi trong im lặng, khi nghe súng đã nổ, con cò ngã
gục là nó lao đi
lượm xác, tha về.
Những năm tháng êm đềm của tuổi
thơ trên
một vùng quê thanh bình trong đất
nước chiến tranh lan rộng là
sau này mới biết. Những toan tính, ước mơ như gió thoảng
qua tuổi dại khờ thì còn lại ký ức mông lung. Nhớ một
hôm, ông Quận trưởng và nhiều lính đến nhà, hai, ba bàn
tiệc được bày ra trong nhà, ngoài sân. Bàn cha tôi với
ông Quận trưởng, thêm mấy ông bệ vệ nữa trong nhà.
Bàn mấy anh lính cũng tưng bừng ngoài sân, bàn các bà,
các cô hàng xóm sang phụ việc tiếp khách cũng vui nhộn
dưới bếp. Một ngày rôm rả tiếng nói cười trong căn
nhà cuối xóm ngó ra sông, - những ngày dài, chỉ có tôi
với con mực ngồi dưới giàn mướp, nhìn ong, hay chơi trò
chơi duy nhất là móc đất sét ờ bờ ao, ngồi nặn nhiều
hình khối để
xây lên
thành quách. Tôi có ba ông lính bằng chì: một nằm, một
ngồi, một đứng.
Họ là
lính Pháp nhưng quần áo bằng sơn đã tả tơi, lộ chì
nơi đầu gối, đỉnh đầu, bả vai… Nhưng tôi nghĩ do
họ đánh giặc hoài nên quần áo rách hết… Tiếc là tôi
không có nhiều lính để thay thế cho họ nghỉ ngơi, họ
cứ phải trấn giữ thành trì, di chuyển liên miên để chống đỡ
Đức quốc xã
tấn công, những tưởng tượng từ phim Đệ nhị thế chiến
trong tivi mà tôi coi được. Con mực chăm chú theo dõi tôi
xây thành, hò hét chiến đấu…
tới mệt quá thì
ngủ luôn tại trận, trời mưa hay bà vú gọi vô ăn cơm
mới giãn tuồng. Cả cái thành trì bỏ xuống ao, tắm rửa
cho ba ông lính để
ngày mai
lại xây thành đắp
lũy… Ngày
tháng ở nhà quê cứ thế êm trôi, những hôm mưa bong bóng
mới thật là buồn, hai đứa ngủ gục trong căn nhà lạnh
lẽo, oai nghiêm những đồ thờ đến hoang tưởng trong mơ.
Trời mưa nên không gian trong nhà tối tối, sợ quá thì
tuột xuống hầm, căn
hầm chống pháo kích là
bộ ván gõ thật dầy, dầy đến
nửa thước ván, xung quanh chất bao cát, đào
âm xuống đất
thêm cả
thước tây, cha làm cái dốc thoải xuống để khi nghe pháo
kích chỉ việc tuột xuống là hết sợ. Trẻ con nào cũng
thích tuột dốc xuống hầm nên chúng tôi nhuần nhuyễn,
chỉ nghe tiếng máy bay bay thấp thôi là đã có đứa dưới hầm.
Tôi với con mực thường rút xuống đó chờ mòn mỏi trong thinh
lặng, chờ mẹ, có hôm thì bà vú đi
chợ về để có được chút quà
vui miệng. Đâu
ngờ hôm nhà
vui tiếng người là ngày đại nạn của con mực. Tôi đang
chén thù chén tạc nước xá xị hiệu con nai với mấy dế
sĩ ngoài vườn, ỉ cậy vào những biệt đãi của cha mà
làm càn, tội lớn hoá nhỏ, tội nhỏ hoá không nên ngang
ngược vào nhà bếp bưng luôn dĩa chả lụa xắt khoanh,
bưng cả dĩa gà luộc đi đãi bạn bè, mặc tiếng bà vú
la ơi ới, "ông trời con ơi là ông trời con…"
Có khi cỡi chổi ngựa, cho mình là cao bồi cướp xe lửa,
cỡi ngang nhà bếp, cướp chả giò hay dĩa xôi, chạy tuốt
ra góc vườn xa là rừng, chia của cướp được với đồng
bọn đang chờ ngoài đó…
Con mực gặp đại nạn khi cuộc dế luận hôm đó đang
gay cấn vì thằng con ông trưởng ty cảnh sát cũng là một
dế sĩ uyên bác, nó biết cách làm cho dế than đá ăn dế
lửa mới kỳ ngộ! Nuôi dế than bằng lá ớt chứ không
cho ăn cỏ, tối, đem dế than ra hè phơi sương chứ không
cho ngủ dưới gầm giường, (ba ngủ không được là liệng
hết dế ra sân), nhưng cái hộp dế phải buộc sợi dây
vô gốc cây, để phòng kẻ trộm! Thằng nói dóc dẻo đeo, nghe nó,
dế than cho ăn lá ớt, chưa kịp phơi sương đã ngủm cù đèo.
Nhưng lần nào nó tới nhà, nghe nó nói chuyện cũng dễ
tin như thật. Nó đang rôm rả ngoài vườn với những dế
sĩ thò lò mũi xanh ở nhà quê thì con nha đầu
hàng xóm,
không được
cho ăn chả lụa, uống xá xị, vì
cái tội chơi bán đồ hàng nhưng không bán chịu cho những
kỵ sĩ ngựa chổi, có bị phá quán thì chỉ biết ngồi
khóc. Nó hớt hải chạy tới mỉa mai: "Tham ăn chả lụa,
no bụng rồi thì
bụng đâu
mà ăn thịt chó!"
Tôi không hiểu hết lời mỉa mai đó đâu, nhưng linh tính
không lành,
chạy đi
tìm, miệng
kêu con mực ơi ới… đến khi cứng họng vì hai, ba ông
lính đang
đè con
mực của tôi ra, họ khứa ngang cổ nó một đường
dao, ông lính ngồi xổm trên đôi giày saut đang dùng cây đũa tre chuốt
nhọn, cho vào
vết khứa lục tìm gân máu. Tôi biết vì đã từng thấy, họ
lấy tiết đỏ
để làm
tiết canh đó
mà. Bây
giờ la lên, khóc lớn, cũng không cứu được
con mực. Tôi de ra xa để lấy trớn, chạy hết ga, tông
vô ông lính ngồi xổm, ông bất ngờ nên
bật ngửa. Hai ông đè, sợ tôi trúng
lưỡi dao nên buông con mực ra để bảo vệ tôi. Con mực
thoát chạy. Mọi người đuổi theo, tôi đuổi theo ra sông.
Gặp chiều nước cạn, nó cùng đường trên cây cầu giặt
làm bằng mấy miếng vỉ sắt đáp trực thăng, nó lao luôn
xuống sình. Ngồi quay đầu
lại nhìn
những người truy sát. Mọi người tránh đường cho cha
tôi ra cầu giặt, hai cha con đứng trên cầu giặt, cha rút
súng ngắn, ngắm vào con mực. Mắt nó mở to, hai dòng lệ
thả xuống, hoà vào dòng máu từ cổ tứa ra theo hơi thở…
tôi thấy con mực gục xuống, tôi lao đi lượm xác nó như
nó lao đi lượm xác những con cò. Chỉ không nghe tiếng
súng nổ, cha đã cho súng vào bao
da. Lặng lẽ quay về.
Một mình tôi với con mực dưới sông cạn. Chấm hết mùa
hè bất tận ở nhà quê, tôi đi học. Vào lớp dự thính
nên phải ngồi cuối lớp, con mực đục lỗi vách lá trường
làng, chui vào lớp học, nằm im dưới chân tôi tới hết
buổi học thì cùng về. Có nó đi
cùng thì
không sợ chó nào tấn công mình vì nó không sợ con chó
nào hết…
Đã
hơn bốn mươi năm thời gian, người đi kẻ ở, sống chết
âm dương… Sáng nay ngồi đọc báo một mình ngoài patio
với ly trà buổi sáng. Con chó con được
kể là
món quà sinh nhật trong mơ của thằng con nhỏ trong nhà,
nó ước mơ có con chó từ khi đi lớp 1, nhưng lần lửa
hẹn hoài, hết hè này đã đi
lớp 7, nó còn
ở nhà với gia đình có 5 năm nữa, không
cho nó bây giờ thì
bao giờ? Tuổi nhỏ không có con chó của mình như người
già không nơi nương tựa. Đó là sự xuất hiện của con
chó mới hai tháng tuổi, một thành viên mới của gia đình,
chó con chưa leo nổi lên cái ghế bành, hứ hứ dưới chân.
Thử sức thông minh của nó bằng cách tiện chân, lăn trái
banh đá của thằng con đến sát cái ghế, giữ đó cho nó
chứ không nói gì. Con chó con không tệ, biết dùng trái
banh làm thang leo lên ghế bành, nằm gọn trong lòng tôi,
lim dim như trẻ thơ no sữa. Người ta đánh chó chạy đi,
ai đánh chó chạy lại. Thả nó xuống đất, nó lại leo
lên, những tình cảm đối
với loài
chó đã ngủ yên trong
lòng từ lâu, con chó con khơi lại, nó như đứa trẻ
non nớt đã phải xa gia đình, không có người
thân, đi tìm một nơi nương tựa… Hình dung ra bao điều, nó vẫn
nằm im trong lòng
tôi để
nghe kể tiếp chuyện con mực.
Hôm đó, tôi đưa con mực về nhà
bà ngoại. Tôi không có bà ngoại nên gọi bà ngoại của
thằng bạn bên hàng xóm là bà ngoại, để
được chia quà
ngang bằng với nhau. Bà ngoại không biết chữ, nhưng biết
chia quà công bằng, chẳng kể cháu ruột hay trẻ con nhà
hàng xóm. Bà ngoại của tuổi nhỏ kêu là bà ngoại chỉ
để được chia quà, nhưng khi không còn nhỏ, mua chút quà
gởi cho ngoại thì nghĩ là bà ngoại ruột của mình.
(Tiếc là khi nói dối ngoại để
được quà
thì ngoại biết, nhưng khi gởi quà thật lòng về ngoại
thì ngoại đã lòa.) Hôm đó, ngoại đắp
thuốc xỉa, rịt thương cho con mực. Nó không về nhà cả tuần, nhưng
tới hai đứa ăn cơm hàng xóm, tối, ngồi ngoan nghe ngoại
đọc kinh, rồi đi ngủ. Ăn ngủ bên nhà ngoại như nhà
mình, làng quê Việt nam ngày đó,
hàng xóm
không có bờ rào như sau hoà bình, lòng người không then
chốt, thênh thang…
Nhà ngoại có con chó trắng, giận lẩy bỏ đi đâu không
biết. Thằng bạn trở mặt vì con chó của nó hết được ngoại
thương, nó đi giã
hột bã đậu
cho con mực uống, cho Tào
Tháo đuổi
con mực chết luôn đi! Trưa thanh vắng mà
nghe văng
vẳng, tiếng cốt xe tăng nện vô nón sắt của lính, tưởng
ngoại giã đậu phộng để
làm muối đậu-ăn xôi
buổi sáng, cứ tới lăng xăng, thể nào
ngoại cũng cho vài hột đậu
rang, ai dè
tới nơi mới thò lõ con mắt thấy được
âm mưu sát cẩu. Nó giã
xong hột bã đậu,
bỏ hết vô cái chén, đổ nước trà
tươi còn ấm, đem
giấu chén trà độc vào kẹt lu nước,
ngâm đó, rồi đi chơi. Nó đâu biết chén trà bã đậu được
chắt hết nước, bỏ thêm đường phèn ngọt ngay, nó
uống trà mời tấm tắc khen ngon, rồi ngồi luôn trong nhà
xí vì cái quần đã không thể đi ra và không muốn ai
biết! Bí mật chỉ được
khui ra khi hai thằng đã
râu ria, ngồi nhậu với nhau sau những bể dâu của hoà
bình, thèm ly trà đường
ngọt liệm tuổi thơ đã
xa lìa… Tôi kể bạn tôi nghe: Sau tháng 4, 1975. Nhà mày
hồi hương về Rạch giá để khỏi đi kinh tế mới, căn
nhà bán lại cho anh Thành, con bác Tư thợ mộc. Anh Thành
hồi đi lính thì độc
thân, nhưng sau hoà
bình dắt vợ con về. Bác Tư mua lại căn nhà cho anh Thành
ra riêng. Nhà tao cũng không còn ai ở, cả chục căn nhà bị tịch thu đã
rồi, cha anh tứ tán, kẻ không tin tức từ khi ra khơi, người
không biết đã đưa
đến trại nào,
còn sống hay đã chết, mẹ tao
với xấp nhỏ anh em tao chui rúc trong căn
phố chợ để người ta không chướng mắt làm
khó. Nhưng mỗi lần mẹ tao về lại căn nhà hương hoả
là mỗi lần bán đi những thứ có trước tao như bàn ghế,
divan, bộ ván chống pháo kích… từ từ bán tới đồ sơn
mài, tủ thờ, đồ thờ để có tiền tiếp tế cho thân
nhân khi đã biết được
nơi giam cầm. Căn nhà
chỉ còn bốn cái vách, vài chỗ bị trộm đục
khoét nhưng còn
gì để
lấy được đâu. Một hôm, tao về ngủ coi nhà,
và bắt được
trộm. Ai dè
là thằng bạn tụi mình hồi nhỏ. Cuối cùng, tao với nó đi câu cá trộm
ngoài
ao cá bác Hồi, định
nấu cháo ăn đêm,
nói chuyện hồi nhỏ nghe chơi đỡ buồn, câu được cá
nhưng không trộm được gạo nên hai thằng ăn cá nướng,
đốt đống lửa ngồi hong dĩ vãng đã xa... Sáng ra, đốn cây vú
sữa ở khoảng sân giữa nhà
tao, cây vú sữa mà tụi mình thường phải lên lầu mới
hái được quả, đã chết buồn, những nhánh khô còn trái
non khô choắt như cau khô. Tao đốn cây vú sữa cho nó bán
củi, nó đang cần cái khó giúp là tiền.
Thằng Được gánh củi đi rồi, xung quanh tao chỉ còn chuồng
heo, chuồng gà váng nhện với mèo hoang, nhà bếp tro lạnh
phủ bụi mờ… buồn lắm. Không tưởng nổi căn nhà đã
từng đầy
ắp tiếng cười nay quạnh quẽ thê
lương. Tao thôi không về ngủ coi nhà nữa vì còn gì để coi chừng.
Nhưng không lâu thì
anh Thành lên chợ, tìm mẹ tao báo tin: "Bác Hai ơi! Con
nghe được người ta đã biết là bác Hai còn căn nhà bên cạnh nhà
con. Mấy hôm nay có cán bộ đến
coi, chắc con không giữ nổi giùm
bác Hai nữa rồi!" Mẹ tao thở dài, thì ra quyết định bán cho
người mua nhà
cũ. Họ đến
giỡ hết, chỉ còn
cái nền xi măng
trơ trọi những vết nứt bởi thời gian, nắng mưa. Hôm
tao về một mình,
ngồi trên nền nhà cũ, cỏ hoang, rêu phủ mấy bậc thềm…
con mực lù lù đến
bên chân
tao, thân run rẩy già nua, đói
khổ làm
cho nó hết lanh lợi như xưa. Chị Thành nói với tao, nó
đi đâu không biết, nhưng hàng đêm vẫn về coi nhà, (dù
còn có cái nền). Tao nhờ chị Thành nuôi nó, là nói thế
thôi vì thời buổi người còn không có gì ăn.
Tao nghĩ ra cách: "Chị đập hết cái nền xi măng này đi,
lấy đất trồng trọt, làm
như là đất vườn nhà chị. Đừng nói với ai là
nền nhà của gia đình em, như vậy mới mong giữ được
miếng đất cho nhà em mà chị cũng có đất trồng khoai
mì, khoai lang cho heo ăn,
cho con chó của em ăn với!"
Sau đó, tao đi ta bà
thiên địa,
ở đâu cũng có buổi chiều, ngồi nhớ nhà
và con mực, không biết sống chết ra sao! Một hôm tao về,
nghe mẹ tao nói, "Chị Thành nhắn mày về nhà thì về
gặp chị ấy." Tao về nền nhà cũ, con mực nằm dưới
gầm bàn bếp bằng xi măng nên mưa nắng chưa hư. Chiều
muộn rải nắng tàn lên cỏ ngựa cao ngòng, trong cái tĩnh
mịch, âm u của buổi chiều tàn. Tao với con mực nhắc
lại bao nhiêu là chuyện, có nhắc tới mày với con chó
trắng, không biết bây giờ ra sao, còn ở Rạch Giá hay đã
vượt biên… Chị Thành đem qua cho nó miếng cháo heo. Nó
không ăn, nhìn chị Thành như cảm ơn, nhìn tao như trách
móc, nhưng nó dúi đầu vào chân tao, duỗi thẳng mình trên
nền xi măng
cũ, nước mắt nó trùng
trùng như hôm ngoài cầu giặt đã xa, rùng mình một cái,
rồi đi
luôn. Chị Thành
nói, "nó muốn chết cả tháng nay rồi, nó ráng sống
là chờ em về đó!"
Tao chết điếng, tưởng một người thân vừa qua đời.
Tao lo việc an táng cho nó rất nhiêu
khê, tao muốn chôn nó trên nền nhà cũ, chỗ căn hầm chống
pháo kích là
nơi tao với nó đã chia sẻ với nhau nhiều, sau những lần
tao bị phạt, chứ nó có lỗi gì đâu
trong suốt cuộc đời tận trung. Nay chết, cũng không được
chôn cất cho tử tế trên đất nhà, vì những người
miền bắc đã vào xóm này chiếm đất
cất nhà.
Họ xin không được
thì bả
con mực, nhờ nó khôn nên giữ được
mạng tới chết già.
Nếu chôn nó xuống thì người ta sẽ đào nó lên, đã loáng
thoáng thấy mấy đứa
trẻ gầy như kênh
kênh, ngửi được
mùi chó
chết, chúng lảng vảng theo dõi. Chị Thành nói với tao
tìm cách mà chôn con mực! Tao nghĩ hết cách, bỏ con mực
vô bao bố xin được
của chị Thành,
buộc chung với một tảng xi măng
của nền nhà
cũ. Tao qua nhà chị ấy ăn
cơm chiều với anh Thành.
Chờ trời tối, sẽ đạp
xe ra cầu sắt, tao định thả con mực xuống sông cầu sắt,
dù gì
tao với nó đã từng tập bơi
ở đó, tảng xi măng cũng là nền nhà cũ, sẽ cùng nó dìm
sâu tới tan rã chứ không cho ai ăn
thịt nó.
Nhưng vừa ra khỏi nhà
anh Thành không xa, tao đã bị công an bắt,
tội trộm chó, tống giam, chờ mai xử lý! Tao ngồi trong
phòng giam của công an xã, nghe tiếng ồn chè chén bên ngoài,
tiếng "trẻ con không được
ăn thịt chó" khóc la tới nửa đêm.
Tao cạy cửa sổ trốn đi
khi người nhậu đã
say, đàn bà, trẻ em đã
thôi ồn ào, đành mất cái xe đạp vì đã bị khoá vào
gốc cây bằng sợi xích to hơn cần thiết…
Không biết con chó Mỹ mới hai tháng tuổi, có hiểu chữ
Việt không mà nằm im trong lòng tôi. Bóng nó trên màn hình
laptop, làm như nó hiểu chuyện kể về một con chó Việt
nam, - con mực, không may mắn như nó. Con mực chết không
toàn thây sau hoà bình ở quê tôi.
2.Con Vàng
Sau cái chết
của con mực, tôi man mác buồn khó tả khi thoáng thấy một
con chó đen.
Sự áy náy trong lòng
còn hoài về con chó biết khóc, chắc là nó đã khóc một mình
như con người khi trở lại nhà chỉ còn mấy bậc thềm
rêu phủ, nắng rũ tịch liêu, người thân tứ tán, bạn
bè nơi mô… người về tìm lại mình, không thấy lại đi, nhưng nó
đã ở
lại một mình trong cô tịch với tháng năm
buồn bã...
Gió rung dây nhãn lồng rụng rơi, không còn ai tranh trái
chín, bụi u du tươi tốt đến không ngờ, còn ai đâu để tranh
nhau cắt về chơi bắn bì…
những hình ảnh còn hoài trong trí tưởng về sau. Tôi đi
hết con đường xóm cũ, không còn ai chào hỏi như xưa,
những người quen đã đi
kinh tế mới, hồi hương, vượt biên…
những người ngoài bắc mới vào lơ láo, chán đến chẳng
muốn nhìn, tôi đi
qua giàn
bông giấy nhà bác ba Sáng không còn đỏ
rực là
hình ảnh cuối cùng của khung trời bỏ lại sau lưng…
Tôi đi, cùng trời cuối đất cũng không tìm ra một việc
làm, nơi ở. Cả nước đang truy bắt thanh niên đi chiến
trường tây bắc chống Trung cộng, tây nam đánh Campuchia.
Thời kỳ thanh niên chẳng biết đâu là nhà, ăn bờ ngủ
bụi. Tối ngủ nhà này sáng dậy nhà kia, nửa đêm cuốn
gói là chuyện thường tình. May gặp được
thằng bạn cũ, ngay thời trung học nó đã
lộ số ở tù, chữ ký của ai nó ký nhái cũng y chang…
Ba nó là trưởng ty cảnh sát ngày trước nên mẹ nó đã đốt hết những
gì ông
giữ trong nhà, nó may mắn tìm được
cái máy đánh chữ của ba dưới gầm giường, nó chỉ cần
một mẩu cà
rốt với mảnh dao lam là mộc gì nó khắc cũng ra, chậm
thuốc đỏ
ịn lên
công lý cho bạn bè. Cái thằng bẻn lẻn như con gái, ít
nói, ưa thẹn thùng, tính nết mềm dịu hơn thuở nhỏ luyên
thuyên và thích tranh luận. Vài đứa bạn cũ gặp lại còn
nói bóng nói gió về nó, nhưng chuyện nghe rồi bỏ, chỉ
biết nó bây giờ là cứu tinh của bạn bè, thằng nào cũng
phải tìm gặp nó để
nhờ vả. Nó đi phụ việc cho người bà
con bán đồ
cũ, đồ cổ ngoài
Lê Công Kiều, đêm về đánh máy chữ,
khắc mộc cứu nhân độ thế, phổ độ chúng sanh. Cứu
khổ cứn nạn cho bạn bè
cũng nó, nó có đồng
ra đồng vô nhờ buôn bán giấy tờ giả nên
rất hào phóng với tình nghĩa cũ. Nhưng nó đã vượt biên
âm thầm, bỏ lại bạn bè bơ vơ không người cấp "Lệnh
điều động" cho nhởn nhơ ở Sài Gòn, đôi
khi còn
bán được
cho những thằng bá vơ ngoài
bắc vào, bên Miên trốn về một mảnh giấy tùy thân để vất vưởng
nơi này.
Tôi đến
Phân viện khoa học Việt Nam - Chi nhánh tại thành phố HCM. Cầm
tờ giấy giới thiệu của Mặt trận tổ quốc do tên bạn để lại. Thời
buổi, vài
hôm không thấy mặt bạn bè là đã bị bắt hay đi vượt biên. Tôi không tin
mình vô được
Phân viện nhờ tờ giấy giới thiệu giả này.
Không ngờ nhớ hoài cuộc phỏng vấn của cô nhân viên
phòng nhân sự, mặt hiền như nước mưa, giọng nói Ba Tri
béo ngọt như kẹo dừa, khổ đời nói thật thì cô không
tin, nói láo thì cô xúc động,
cảm thông, coi trọng con nhà
liệt sĩ, gia đình vắng vẻ. Buổi
trí trá thành công tốt đẹp,
được cấp giấy chứng nhận cho một thằng mù tịt với hàng
chữ, "Chuyên viên kỹ thuật" của Phân viện khoa
học Việt Nam… Tôi tưởng mình sắp đi
dự Hội nghị khoa học quốc tế với tờ giấy quá hách
này, có
dán hình 4x6, đóng
mộc Phân viện giáp lai lên
ảnh kỹ càng. Cấp luôn cho "Lệnh công tác" đỏ lè củ triện. Đêm
về chong đèn đọc
tới đọc lui hai tấm bù
hộ mệnh, thấp thỏm người ta truy ra giấy giới thiệu
dỏm thì ứng phó sao đây,
đi làm
công tác khoa học chứ đâu
phải đi cà
nhỏng mà chỉ là mảnh giấy "xác nhận công tác"
tầm thường chỉ để qua mặt mấy anh du kích đánh vần
không trôi.
Lâu lắm rồi mới nghĩ tới quần áo, tóc tai, giày dép...
nhớ ra hai thứ cần thì không có, thứ có không cần là
tóc tới vai. Còn nham nhở tương tư lời chúc "mai mắng"
của cô gái xứ dừa. Và đúng sáng "mai" lên đường
đi nhận nhiệm sở thì bị người ta "mắng" vào
mặt, bắt nhốt ở Ngã 5 chuồng chó vì du kích nói là giấy
giả, tất cả giấy tờ tùy thân của thanh niên thời đó, du kích đều
có thể quy ra giấy thông hành đi Miên như nhà nước
đổi tiền không cần lý lẽ. Muốn xác minh cứ đi gặp Pôn pốt
mà xác
minh. Chỉ còn chờ người bị bắt đông đông, canh giờ
lùa lên xe thùng bưng bít là thời điểm ăn thua mình gan!
Tôi với vài bạn hữu mới tinh, rù rì bàn quốc sự trong
phòng giam như phòng hơi ngạt của Đức quốc xã, được cái đâu
phải bị bắt lần đầu mà
ngồi khóc ông khóc cha, một hai ba… lăng
ba vi bộ là
huề. Thời đó
khổ nhưng vui nghĩa khí, chẳng ai biết ai nhưng đã bị bắt, nhốt
chung một phòng thì điếu
thuốc chia chung, ổ bánh mì
nên tình huynh đệ,
"nè,
làm miếng đi.
Đợi đông đông rồi chạy tập thể, tụi nó không đủ
người rượt mình đâu!" Nhóm
quyết định vọt bàn
kế hoạch chạy nhiều hướng để thử thời vận. Chẳng
ai mong gặp lại anh em…
Chúng tôi chờ người thủ lĩnh té vào du kích áp tải là
gây hỗn loạn, rồi tự ai nấy cao chạy xa bay, tôi đường
tôi, tới ngã tư An nhơn mới tin chắc là mình lại bỏ
chiếc xe đạp
thứ hai, chạy lấy người rồi tính sau. Chuyện mua lại
chiếc xe đạp không dễ lúc này,
từ từ tính… chân thả bộ theo con đường
xanh rì
hoa lá lên hướng Lái thiêu, suy tính cách nói làm sao cho
người ta tin khi đến nơi công tác: Tôi là "Nhân viên
kỹ thuật", tôi có "Lệnh điều động" nhưng
đã bị trấn lột giấy tờ và xe đạp...
tạm ổn. Còn
lại, tùy cơ ứng biến.
Người ta tạm tin, chờ xác minh cũng hết mấy ngày cù bơ
cù bất, cho ngủ tạm qua đêm trong trại đã là một nơi
đáng nhớ về sau… đến hôm xác minh được, nhận công
tác mới biết là ta đã bị lừa! Cứ tưởng được làm
khoa học với những ống nghiệm thủy tinh trong phòng thí
nghiệm. Ai dè, người ta đưa cho tôi cây phảng với cây
cù nèo và chỉ ra cánh đồng bất tận, cỏ năng cao hơn
lưng quần… Hôm nay phát một công, mai cuốc công ruộng
đã phát cỏ năng
hôm nay, cuốc lật để giết cỏ dại… tôi thật bối
rối, không biết xài
cây cù nèo làm sao để
lưỡi phảng đừng phang vô ống chân? Đành
thuyết phục mấy thằng địa
phương, chúng phát cỏ năng dễ như ăn cơm, những thằng
thành
phố không biết xài phảng với cù nèo thì ôm năng chất lên bờ ruộng, chờ
khô rồi đốt
đi, đem tro rải lại xuống ruộng làm
phân. Công việc ổn thoả, không ngờ mình có khả năng thương lượng
mau chóng đến không ngờ. Nhưng ngày
ôm cỏ năng
lội đồng cố nín thì
qua ngày cuốc ruộng tứa ra nước mắt người dân thị
thành, xoè đôi tay phồng rộp, cầm củ khoai mân mê… rồi
chai lì đi
khi đã đặt được
bàn chân
không xuống ruộng, khi đôi
giày bố đã
tả tơi, chợt nhớ lâu rồi không tắm xà bông.
Đêm về, ngả lưng tưởng ngủ say, những cơn mơ thành
phố đã thay bằng cơm gạo, sáu trăm đồng một lít mà
tiền công làm ruộng một ngày chỉ có năm trăm. Nhìn đứa em người
bạn làm
chung ở địa
phương xách bữa trưa cho anh nó, nghĩ về gia đình trong mơ hồ
cũng có thằng em xách cho mên cơm… bỏ toàn những món
trước đây không ăn, sao bây giờ ngon lạ! Giấc mơ lập
lại từng đêm, từng đêm, đi vào mộng trùng dương. Sáng
ra học cuốc lật, cuốc lừa, thay vì hai nhát cuốc thì
còn có một, nhát lấy đất
lật lên,
che lại chỗ nhát trốn cuốc. Sau này, cỏ dại cao hơn lúa
thì mình chắc cũng đã đi
khỏi nơi đây. Xin lỗi. Đêm
về lại âu lo, sao dân thành phố cuốc ruộng nhanh hơn dân
địa phương mà cán bộ không cho là chuyện lạ! Thì ra,
cán cuốc có thể gãy vì người nông dân cầy sâu cuốc
bẫm, cán bộ có thể văng bất cứ lúc nào nên còn tại
chức thì lo cắn cho sâu để
thủ thân, cắn lúa giống, cắn phân từ khi ruộng còn chưa cày ải.
Vậy thời gian còn lại với những người bạn mới, cứ
kéo nhau ra chợ gài sòng, cờ gian bạc lận sống qua ngày.
Gặp thời chó ngáp nên cũng chỉ đủ
tiền cà
phê thuốc lá, hai mươi tám quân cờ domino đã gài triệt
buộc 7 con người.
Đêm về cái phòng 7 thằng tứ xứ sống với nhau,
mấy thằng người địa phương thì tối về nhà ngủ, hôm
nào có tin đêm nay ruồng Nghĩa
vụ quân sự thì tụi nó mới ngủ trại để
giữ thân. Căn phòng
dài như chuồng bò, ngăn
ra một phần ba làm
kho lúa giống, phân bón, thuốc trừ sâu… còn lại
kê giường như trại lính, góc phòng có ba cục gạch-gọi
là bếp ăn
tập thể. Cái bếp thanh đạm quanh năm không nghe mùi dầu mỡ. Ngày
nào cũng hùn tiền mua gạo nấu cơm, thức ăn cho 7 người
là một trái cà chua nấu với nửa xị nước tương, pha
thêm nước lạnh và muối hột để đủ chấm rau đồng
hái được. Chẳng bữa ăn nào no bụng, thế mà còn phải
nuôi thêm một con chó! Nó là con vàng, theo người chủ đến
đây xin việc-cũng như những người đã đến
trước-sau, ai cũng vì
hoàn cảnh mà chấp nhận một chỗ tạm dung tương đối
ổn, một việc làm không công bằng vì ngoài dân đang mướn cuốc
một công ruộng với tiền công là
ba ngàn đồng,
gấp sáu lần tiền công trong Phân viện, vậy năm phần
còn lại đi đâu? Hỏi
người trưởng trại là
bộ đội
phục viên,
người ngoài nớ ấm ớ trả lời-tôi làm trheo lệnh cấp
trên!... Anh không trả thù con em miền nam vì anh đâu có thù ai đâu,
anh chỉ thu tiền cho thuê
chỗ tạm dung. Anh cũng bị bắt đi
bộ đội, có ai che chở cho anh như anh đang che chở cho chúng
tôi, không cảm ơn còn
trách nỗi gì! Mẹ anh đã từng khóc hết
nước mắt hôm tiễn biệt thằng con đi nam, anh mấy lần
thoát chết với đạn bom, chuyện Trường sơn của anh, thỉnh
thoảng có dịp ngồi chung với bình trà quốc doanh, nghe
ra cay đắng
hơn ngọt ngào.
Anh không màu mè cán bộ, không lớn lối chức quyền, một
người thật thà đến khó ưa. Anh nói toạc móng heo ra tham
vọng cơ ngơi trong miền nam để đón gia đình vào, anh có
quyền đó
và xứng đáng được
hưởng sau khi chiến tranh kết thúc. Anh không chối cãi cuộc nam tiến
là thế cách duy nhất có thể giải phóng cho cái bao tử
người miền bắc. Nhưng cứ sống phè phỡn như người
miền nam thì trước sau cũng mất gia tài. Chuyện đấu khẩu
với một người nông cạn về kiến thức, lý luận một
chiều, trong tư thế thắng, vai trò thủ trưởng, thật không
đơn giản. Nhưng dù sao cũng cảm ơn anh là một người
nhỏ mọn thật thà, -không chối cãi nghĩa là công nhận
có chuyện ăn
chận tiền công của nhân viên, ăn cắp lúa giống,
phân bón, thuốc trừ sâu… đem bán bỏ túi riêng. Người
thủ trưởng có ăn năn sau mỗi lần ăn cắp là hành vi
ăn hiếp thuộc cấp, "Tớ đi chợ, thấy rẻ, mua mớ
cà pháo đưa về muối. Đưa lên đây cho anh em ăn…"
Chân dung anh bộ đội chỉ lộ nguyên hình khi anh phát lương
cho anh em, thằng nào cũng bị trừ tiền cà pháo muối với
giá cắt cổ. Hũ cải chua kế tiếp, không ai (dám) động
đến thì anh nguyền rủa, ra lệnh lung tung để
đầy đoạ nhân viên.
Anh tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc từ chiếc xe đạp có buộc
chùm hoa
ny-lon trước đầu xe hôm lãnh chức thủ trưởng trại Thạnh
Lộc, vị thủ trưởng có cái "đài" bóng lưỡng
vì lau chùi thường xuyên. Chưa đầy năm đã lên được chiếc
mobylette xanh của Đức. Anh dùng
toàn thời gian từ khi thức dậy tới đi
ngủ để nghe đài
và lau chùi cái xe. Anh mãn nguyện với cái xe có tới hai
cái xích, khi không muốn phí xăng
thì vẫn đạp như xe đạp
được. Anh làm
cho mọi người bị cuốn hút vào tham vọng có cái tivi nữa
là anh thanh thản chết.
Chuyện thủ trưởng kể hoài không hết, anh chỉ phạm mỗi
một sai lầm bất ngờ-có tính toán là dùng quyền thủ
trưởng ra lệnh thịt con vàng. Khẩu lệnh oai nghiên nhất
của thủ trưởng từ trước tới nay, không ngờ bị lưỡi
phảng đưa vào cổ, với lời chắc chắn như đinh đóng
hòm, "tôi thách anh đó!"
Tưởng anh rút súng, bóp cò.
Ít nhất cũng nổ lên nóc nhà để
thị uy, nhưng không, anh đã
có đài, xe mobylette,
sắp mua tivi nên hào khí Trường sơn đã tịt ngòi, anh xuống
nước cầu hoà, không trả thù mà còn ra mặt ăn năn. Thật
khó hiểu, nhất là
con vàng vẫn không ưa anh qua tiếng sủa, nhưng thi hành mệnh
lệnh mỗi khi anh sai khiến nó.
Con vàng do Khánh đưa đến, chuyện của Khánh với nó như
truyện ngàn lẻ một đêm. Khánh đi vượt biên với gia
đình, do trục trặc bến bãi nên người thoát kẻ không.
Khánh cù bơ cù bất ở đất Mũi mấy ngày, không làm sao
có tiền để về lại Sài Gòn rồi tính sau. Tuyệt lộ
thênh thang lại vấp nhằm con chó ốm, bị vứt ra đường mà chết không cam
tâm, nằm rên ử ử… Khánh không cứu nó vì cứu mình
còn chưa xong, nhưng nghĩ cho cùng, là duyên là nợ. Khánh
ủ nó trong người qua đêm mưa nơi đầu đường xó chợ.
Nó hồi sinh thay vì chết lạnh, chửi trời chửi đất bằng tiếng
sủa bình
minh sau bao ngày sủa không ra hơi, chạy lăng quăng như không
biết đói… một người một chó kết bạn tâm giao suốt
những ngày đói khổ ở tận cùng đất nước cả nghĩa
đen lẫn nghĩa bóng. "Khánh âm lịch" là cái tên
bạn bè đặt cho, Khánh tin đủ thứ không thấy trên đời,
cái gì thấy được
thì không
tin mà nhiều nhất là người ta. Khánh đem hết lòng tin
còn lại sau chuyến vượt biên không thành gởi vào con chó,
nó dẫn đi đâu thì đi
đó, nó dẫn được Khánh về Sài
Gòn nhờ tiếng sủa, nó sủa chào là người nên giao tiếp,
nó sủa ghét là người nên tránh xa. Từ hôm Khánh tiết
lộ bí mật, mọi người mới để ý và phân biệt được con vàng có hai tiếng
sủa khác nhau, tiếng sủa ngắn, mạnh, uy hiếp đối phương,
với bộ dạng, ánh mắt dữ là
sủa thủ trưởng. Còn lại 7 anh em là nó sủa mềm tiếng,
có âm "ứ…" kéo dài trong tiếng sủa là mừng
bạn trở về! Nhờ vậy, không ai nghĩ đến
việc ăn thịt bạn bè
như thủ trưởng.
Hôm bên nhà thờ có tiệc, cha xứ không mời nhưng cho người
đem qua biếu anh em Phân viện dĩa thịt chó luộc ăn lấy
thảo, vì mời thì không đủ
sức nhưng khi có việc, nhà
thờ vẫn phải nhờ anh em bên Phân viện qua giúp một tay.
Hơn nữa, 7 thằng không tiền hớt tóc, nhưng chăm đi lễ,
kính Chúa nể cha, không phá phách nhà thờ, đứa có đạo-cầu
Chúa; đứa không đạo-cầu gái. Cha thông cảm sâu xa. Cha
cho dĩa chó luộc thơm phức, con vàng cũng có phần, nhưng
nó không ăn. Làm 7 thằng người dành nhau phần chó chê,
rồi tự viết kiểm điểm trong lòng vì tranh ăn
trước mặt con chó không ăn thịt đồng loại. Nhưng con
người kề phảng vào
cổ nhau, không khứa thì cũng khinh nhau ra mặt… Tới hôm
trà suông với khoai luộc, thủ trưởng đãi anh em nhân ngày
mừng thọ của mẹ tôi ngoài bắc. Cụ nay đã lục tuần, giá
tôi về được
thì hay
biết mấy! Học giả (chưa bao giờ học thật) của Phân
viện ngồi nghĩ: anh ấy xấu đều mọi mặt, riêng hiếu
thảo thì hơn cả bọn mình. Nhớ tới đôi
đũa bằng ngà
voi giả, tức là làm bằng nhựa, có khắc mấy chữ Tàu
trên thân đũa.
Anh đã
mua bằng tiền thật để
làm quà
thượng thọ gởi về quê cho mẹ. "Đũa này thì gắp
rau luộc cũng ngon, cả làng tớ lại đến
xếp hàng
xin xem đây…"
Anh nói hôm đem lên
trại khoe anh em, tiếng rít gió qua kẽ răng
của anh thô thiển lắm nhưng nói lên được hết tâm
đắc, lòng
thành, hiếu thảo với mẹ. Không biết có bao nhiêu người
con mất cơ hội đền đáp cho mẹ vì chiến tranh đã đi qua đây, một
xứ sở triền miên
hết ngoại xâm tới nội chiến… những người
trở về được sau chiến tranh như anh, bao người đang chết
trong hưởng thụ, mấy ai còn nhớ ân tình khi dép râu nón
vải… Tối trà tình là đêm hoà nhã nhất,
không ai tranh luận mà chỉ toàn tâm sự dạt dào, nhưng
nắng lên-ngày mới không có dư âm, sương tan ngoài nội
cỏ, hố phân cách lộ thiên, bẽ bàng hơn trong lòng người
nam kẻ bắc. Anh chửi cả đám là quân súc sanh, nhận về
cho mình cụm từ không hiểu, "thằng chó má". Trời
âm u có ngày, nhưng từ đó không có ngày nào trong Phân
viện quang đãng từ ánh mắt, lời nói kình nhau, chờ ngày
nào đó,
dịp nào đó, cuộc phân
tranh ngã
ngũ mà đôi
bên cùng
ân hận.
Con vàng đã ra dáng hảo cẩu,
bụng thon ngực nở, lông vàng sậm mơn mởn như nhung, chân
cẳng cứng cáp, lại thêm cái bờm như bờm ngựa từ đỉnh
đầu chạy suốt sống lưng. Nó đứng, như con berger trong
phim Đức quốc xã, nhỏ con hơn thôi chứ tướng mạo uy
phong. Nó chạy băng băng trên bờ ruộng, bờm dựng đứng,
tung bay như ngựa ngoài thiên lý, đẹp
ơi là đẹp… Ngày nào nó cũng
ra đồng
với mấy tên
nô lệ bao tử, nó không biết cuốc ruộng, hái rau chai về ăn, nhưng săn
bắt rắn nước, rắn bông súng khỏi chê,
không ăn
lén mà
chờ mọi người đốt rơm rạ nướng rắn, rồi ngồi nhai
cao su có mùi thịt trên cánh đồng bất tận, 7 người một
chó mặc sức thả ước mơ theo lửa rơm nên ngày nào cũng
có tro tàn. Sau cơn gió, cơn mưa là mất dấu.
Con vàng trở thành một thành viên tận tụy nhất, chịu
khó đi săn, con gì nó bắt được
cũng tha về bếp ăn tập thể, như người mẹ tảo tần
một nắng hai sương để có cái ăn cho con cái, nhưng đàn con no ngon sinh
chuyện, đào mả bố nhau
lên mới biết cha chung. Người mẹ âm thầm ngồi vét nồi
dưới bếp, ăn miếng cơm cháy với đầu tôm xương cá.
Con vàng hóc xương rắn tưởng chết, người ta ngắm nghía
bụi riềng. "Kể ra loài nào sống chung với con người
cũng không có kết quả tốt." Học giả bố láo bị
chửi đầy tai, "mày nói có người nha mảy, nói thẳng
vô mặt luôn đi, tụi tao ủng hộ! Cùng lắm bỏ chỗ này,
tụi mình tới chỗ này được
thì bỏ đi chỗ khác
được! Có ai nghĩ là
mình ở đây
hết đời đâu mà
sợ!" Tình hình Phân viện căng
thẳng hơn Cu ba, học giả bỏ đi theo thằng Khánh cầu thầy
chữa trị, thủ trưởng đi cầu riềng bên
nhà thờ về, gặp nhau giữa đường
nam-bắc phân tranh! Hú vía một phen, học giả không mau miệng
phân giải thì
máu đã nhuộn mấy củ
riềng. Học giả trở về để
bảo vệ con vàng,
Khánh đi
cầu may trong xóm xem có ai biết cách trị hóc xương cho
chó. Cuối cùng
nó đem
về mấy hoàn
cơm nếp bóp với cám. Mấy đứa giúp tay ôm con vàng, cáng
họng nó ra mà tống cẩu hoàn đơn, đổ nước… con vàng
sặc muốn chết, nhưng nuốt xong mấy hoàn, miếng xương
rắn cũng theo cám trộn nếp trôi xuống bao tử. Nó hết
dữ, nằm dưỡng thương với đôi mắt biết ơn. Thằng
Út ứ lên một tiếng chọc quê: cho uống thuốc mà tưởng
bị làm thịt, dữ với mọi người rồi bây giờ giả lả
biết ơn cứu mạng… Con vàng ứ lại một tiếng, như tao
tin mọi người nhưng không tin mày đâu!...
Khánh đã biết cười, đi thăm em hai chân, nó quen được
một tiểu thơ trong giáo xứ vì tướng mạo nó nho nhã,
nói năng
lịch thiệp, phong độ con nhà…
(lúc nó kê phảng vô cổ ông thủ trưởng để bảo vệ
con vàng thì ai cũng tin là nó dám khứa, nhưng có mấy thằng
bạn bất đắc dĩ của nó trông thấy, cả giáo xứ Ba thôn
không ai thấy, đặc biệt là tiểu thơ-cũng dân con nhà
về quê lánh nạn, không thể nào tin "Khánh âm lịch"
cũng có lúc như chó điên!) Nó được mời ăn cơm trắng
với canh rau đay, cà pháo, bên nhà tiểu thơ. No bụng nhưng
động lòng trắc ẩn là đi
ăn một mình,
lòng thương anh em cùng khổ, con vàng tai qua nhưng nạn chưa
khỏi, nó nhặt bông mướp đực bên nhà thờ, ra bờ rào
hái đọt râm bụt về nấu với muối hột. Nó tuyên bố
bông mướp là gạch cua đồng, đọt râm bụt là rau đay,
nếu nghĩ như thế thì ăn
như thật. Ai cũng ăn như thật vì
nghĩ như thế mới nuốt nổi, chỉ có con vàng-ăn xong ói
ra, đổ bệnh thêm mấy ngày vì không biết nghĩ đó là canh rau đay nấu với
cua đồng. Mấy thằng ngu hơn chó được hả hê cười chó ngu
hơn quý ông, không biết nghĩ đọt
râm bụt nấu với bông mướp đực là
canh rau đay
nấu với cua đồng, ngu như chó! Thằng Út-Cu ba nằm nghĩ
hết buổi chiều tuyệt thực vì
phần cơm nấu một lần nhưng ăn hai buổi, nó ăn luôn một
lần cũng chưa no nên chiều nằm ăn gió uống mây, đói
tử vùng dậy, chỉ thẳng mặt con vàng mà nói, "mày
đừng tưởng mày khôn hơn tụi tao!" Nó đâu có ác
ý gì đâu,
tự ông thủ trưởng nhột nên
ghim nó chỉ mặt chó mà nói, "mày đừng
tưởng mày
khôn hơn tụi tao!" Thủ trưởng dạy là anh em trong trại
phải đoàn kết nhất trí, sao lại có chuyện mày với tụi
tao! Rõ ràng là mất đoàn kết, mà không đoàn
kết thì làm sao nhất trí? Thủ trưởng lên lớp thằng
Út một hồi. Tội nghiệp đời nó từ lọt lòng mẹ đã
không biết mặt cha là ông lính Mỹ đen
nào, từ
hôm chửi chó thì đời
nó còn
tệ hơn đời cô Lựu. Đêm mưa dầm đói lạnh thê lương,
thủ trưởng không sai học sĩ thủy lợi mà cứ dè thằng
Út, "mày đi thăm bọng, thăm bờ một vòng coi Út…"
Nó đội
mưa mà đi, không biết
nghĩ gì!
Tội nghiệp con vàng bỏ ăn
hết mấy ngày,
nó ốm rộc đi
như người bệnh nặng, lần đầu tiên
nó tiểu tiện trong phòng, rồi hứ hứ yếu ớt như xin
lỗi. Anh em chắt nước cơm cho nó uống, nó uống cầm hơi
chờ chết. bỏ chỗ nằm thường ngày, chui dưới giường
Khánh, nằm rên hừ hự… Gian phòng đầy
tiếng người với những buồn-vui vô cớ, bỗng trĩu nặng
không khí tang tóc như nhà
sắp có đám
ma. Khánh cứ ngồi trên
thành cửa sổ, nhìn ra cánh đồng
bất tận, thỉnh thoảng nhìn
lại con vàng, mặt nó buồn còn hơn tiểu thơ đã ra đi, bặt tin.
Sang nhà
hỏi thăm
chỉ nói là
về quê dăm
bữa, quê đâu nữa mà về khi đã
lánh nạn đến
đây, đâu phải người địa phương này
từ sợi tóc tới móng chân. Tiểu thơ bình an nơi đầu
sóng ngọn gió, ai cũng cầu nguyện cho nàng được tới
nơi, nếu chỉ vì tình bạn với thằng Khánh thì tháng ngày
qua tại nơi này cũng còn chút gì để
nhớ để quên…
Thằng Quân cũng ngồi thành cửa sổ thường xuyên như mọi
khi, nhưng tiếng đàn của nó mấy hôm nay buồn da diết…
Tưởng nó xách đàn qua chơi bên doanh trại Thanh niên xung
phong hay bên trường Kỹ thuật điện. Ai mà biết nó đem
bán cây đàn, mua miếng thịt trâu về nấu cháo cho con vàng
ăn, mua mấy viên trụ sinh cho con vàng uống. Nó đoán con
vàng bị nhiễm trùng đường ruột vì món canh quái đản của thằng
Khánh, con vàng
còn đang
bị lải vì
trước hôm bị hóc xương rắn, nó thấy con vàng nuốt cỏ
mực. Học giả cho biết mỗi con chó là một thầy
thuốc dân tộc, chó biết tự khám và trị bệnh cho mình,
chó nuốt cỏ mực, cỏ gai để
tự tháo lải trong bụng. Chắc vậy mà
Quân mua luôn thuốc sổ cho con vàng, nó đưa
cho thằng Khánh, dặn dò
cẩn thận là khi con vàng thật khoẻ lại mới cho uống.
"Con vàng gặp thời thành tư bản đỏ: uống thuốc
tây, ăn cháo thịt, chỉ thiếu chiếc mobylettes với cái
thẻ đảng viên là lên thủ trưởng tụi mình!" Thằng
Út giỏi tài nói lén cứ đi
rỉ tai hết đứa này
tới đứa
kia, rồi cười khoái chí, thủ trưởng địt trời, địt
đất chứ có nghe được gì đâu mà địt
mẹ thằng Mỹ lai.
Con vàng
hết rên đau
đớn nhờ hồng ân cu Quân. Qua đêm
tư bản đỏ, nó cất tiếng sủa đĩnh đạc về phía giường
thằng Quân. Tiếng sủa không mềm, kéo theo âm ứ trong cổ
họng, tưởng cổ họng nó đã bị thương tật vì xương
rắn. Nhưng không phải, nó sủa gấp hơn… mọi người
nhìn về phía giường thằng Quân… trống trơn, bộ đồ
đi ruộng của nó còn máng trên cán cuốc của nó. Người
nghệ sĩ nhất y độc quởn, chỉ có cây đàn đã bán hôm
qua, cây bàn chải đánh
răng dắt ở túi quần sau, không mùng
màn chiếu gối, không tâm sự lải nhải… Quân đã đi thật xa, bỏ
nhiệm sở, đi vượt biên
hay đi
đâu không quan trọng bằng lời ngầm để lại, -ở trại
này, ngoài
con vàng, nó không phải đền
ơn đáp nghĩa ai hết, không lưu luyến ai đến phải từ
giã một
cách bằng hữu như thế! Không ngờ tính chất nghệ sĩ
ở con người đó, ngoài những cung bậc âm thanh, là cả
lối sống và luôn lối suy nghĩ… Không khí hết vui dù
đói vẫn ngự trị căn phòng từ khi thành lập, nồi cháo
trâu của con vàng cứ nhả vào hơi đêm mùi thịt trâu thoang
thoảng… Khánh dằn nắp nồi bằng cục gạch lóc nặng
hơn cả con vàng, sáng ra vẫn có dấu ăn vụng. Hết nghe
ai trách móc thằng Quân khi dễ anh em, bỏ đi không nói tiếng
nào. Con vàng tử tế không nghe, không nhìn con người khi
nghi kỵ lẫn nhau. Nó xử sự như một nhà hiền triết,
sáng sớm đã ra đi,
lặng lẽ săn bắt ngoài đồng rồi tha
về…, nó bắt được cả con rái cá nhanh nhẹn cỡ nào. Con vàng đã
khoẻ và mọi người được yên tâm về chất đạm trong
mỗi bữa ăn.
Con vàng hết bệnh, mấy củ riềng mọc mầm trong góc phòng,
trời đất
mất ăn một bữa cúng bằng chính thịt xương của nó.
Thủ trưởng đem dúi mấy củ riềng ngoài
bờ ao, anh em mừng như cha mẹ sống lại, tai qua nạn khỏi,
chuyện thằng Quân bỏ đi dần nhạt, đâu ai no bụng bằng
âm nhạc của nó chứ! Mọi người quên đi kẻ cứu con
chó nhưng là cứu anh em, những người mau quên bởi mong
chờ hứng khởi hơn nhớ lại… họ đang mong ngày quốc
khánh lại về trong hân hoan được ăn thịt, tối được
uống trà quốc doanh, cắn đường móng trâu Hợp tác xã,
hút thuốc Vàm cỏ, nói chuyện vượt biên…
Văn thư trên Phân viện đưa xuống, lập danh sách nhân viên
để phát thưởng, chia thịt heo với nhu yếu phẩm… tin
hấp dẫn đến mất ngủ. Ngày quốc khánh đến thật gần.
Từ sáng đã thấy rợp cờ ngoài phố chợ theo lệnh ông
bí thư xã, ông thủ trưởng của chúng tôi đích thân về
Phân viện trên thành phố từ chiều hôm qua, về để lãnh
phần thịt heo ăn
mừng độc lập của trại ta, "không có mặt sớm để
chia thịt thì
có mà ăn
xương." Câu nói đầy trách nhiệm của người thủ
trưởng như hiền phụ trong mơ, thức dậy dượng ghẻ đưa
về cho anh em mớ xương dính mỡ để khi có thanh tra xuống
hỏi thì đừng nói là không được quà của Phân viện
cho ăn
mừng quốc khánh. Mấy thằng con ghẻ của Phân viện đã như lính tiền
đồn muôn năm thua thiệt, thương người thủ trưởng khôn
nhà dại chợ, còn an ủi hắn. Nhưng hỏi đến quà đâu?
"Ờ, Phân viện có gởi cho anh em Thạnh lộc ít đường,
mấy bao thuốc lá, nhưng tớ phải tạt về nhà có việc,
bỏ quên mất rồi, hôm nào tớ đưa lên!" Học giả
ngồi nghĩ mãi không ra: lão làm gì có nhà để
tạt ngang, không nghe nói đến người dì,
người cô nào hết… một mình lão sống sót sau chiến
tranh đã là ông trời
quá đáng!
Chỉ có cách ghé chợ nào
bán tháo mọi thứ, rồi mua túi xương cho chó ăn mừng
độc lập. Học giả âm mưu với thằng Út, cố lén coi
xét lão có tiền trong túi là mình suy tính đúng!
Nhưng lão
hôm nay không tuột cái quần dài ngay khi về trại, máng
lên vách tường, chỗ đầu nằm giường lão như mọi hôm.
Mặc suốt đến đi ngủ, thêm một nghi ngờ cũng không thay
đổi được gì quan hệ "mày với tụi tao"… Mãi
sau này, thằng Út không cam tâm bị áp bức-nhất là về
vấn đề
lương thực. Ép gì
nó cũng nhịn chứ ăn
chận lương thực thì
nó đấu
tranh đến cùng.
Nhưng làm được gì nhau sau khi Út về thành phố mấy hôm
bận việc gia đình, ghé ngang Phân
viện đưa
thơ giùm
người bạn, và để hỏi cho ra lẽ Thạnh lộc ăn xương!
Thì ra thủ trưởng Thạnh lộc đã bán sang tay trọn gói
cho bà phụ trách đời
sống ở Phân viện - cũng là
người thu mua thịt thà, nhu yếu phẩm của những người
độc thân trong cơ quan. Đơn giản ông nói với bà là Ủy
ban nhân dân xã Thạnh lộc đã tặng quà cho
ông và anh em Thạnh lộc, các tập đoàn sản xuất nông
nghiệp trên ấy rất qúy anh em Phân viện vì hỗ trợ họ
về mặt khoa học kỹ thuật, (hỗ trợ cả lúa giống, phân
bón, thuốc trừ sâu… theo luật cung cầu của thời bao
cấp.) Thủ trưởng không nói mà chỉ nói, họ quý anh em
mình lắm nên đãi tiệc liên hoan, ăn không hết,
còn đem ba cái thứ
này về
Thạnh lộc như chở củi về rừng…
Trên Phân viện đâu biết mấy lon gạo thơm của tiểu thơ
gởi Khánh đem về bồi dưỡng cho con vàng hôm nó bệnh
còn đây,
thằng Út định xử nhiều lần rồi nhưng ớn cái lưỡi
phảng của thằng chó điên đó không có
mắt! Nó khứa cổ Út là
hết mong ngày đi
diện con lai. Út đã ăn không no còn lo tiền lo lót
cà phê thuốc lá cho người có radio bắt được đài BBC
để đeo đuổi hy vọng một ngày được làm ruộng trên
nước Mỹ. Út bị chửi là liếm giày đế quốc, bị đế
quốc bỏ rơi còn chưa biết thân, cặn bã của xã hội,
làm nhục nhân dân… Nhưng Út đã tuyên bố, "mày đừng tưởng
mày khôn
hơn tụi tao" nghĩa là đối với Út, chó sủa chó cứ
sủa, đường Út Út sẽ đi nhanh như gió khi người ta cho
đi diện con lai. Nay kẹt ngày độc lập mùng hai tháng chín,
Út tế sống con vàng ba lạy để xin túi gạo thơm, đọc
tuyên ngôn dõng dạc: "Con gì sinh ra cũng có cẳng, càng
nhiều cẳng đi
càng sát đất, không có
cẳng, là
thương binh cái cẳng. Nay hai cẳng nghiêng mình trước bốn
cẳng, khẩn xin cứu tế ăn mừng độc lập!..." Con
vàng khoái quá sủa gâu gâu, Út rành ngôn ngữ chó nên dịch
luôn ra cho mọi người, "không có gì quý hơn độc lập
tự do…" Thủ trưởng giận tím mặt, gọi Út vô kho
sinh hoạt tư tưởng, ngoài này, Kháng trút mấy lon gạo
thơm vô nồi xương mà Út hầm hoài cũng chưa có gạo.
Nồi cháo lỏng bỏng, lèo tèo mấy miếng mỡ như cứt trôi
sông, ai cũng tin học thuyết nhục trầm tỷ thượng của
học giả ít khi nào nói trúng. Cả đám thi nhau vớt như
đãi vàng cũng chỉ có xương cục đụng mấy cục xương.
Con vàng khi người bỏ đi hóng gió, gọi mãi không về.
Mấy thằng súc sanh ăn
xương rửng mỡ, tức người chọc chó, chọc tức con vàng cho nó tru lên
bài quốc ca nhân ngày độc
lập. Thằng Khánh điên
tiết, tả xung hữu đột
cán cuốc vô đám ngu hơn chó để cứu con vàng.
Con vàng từ đó,
thấy thằng Út là
lừ mắt nhe răng
rồi bỏ đi chứ không chào
hỏi gì nữa, hết bạn bè… thằng Út tức tối, gọi con
vàng là thủ trưởng vì gặp nó ông cũng lừ mắt, răng ông nhe sẵn
nên không
cần nhe thêm, lừ lừ ra lệnh rồi bỏ đi,
"liệu hồn mày đấy!"
Hai bên
nghinh nhau nhưng không đuổi thằng Út được vì thỉnh thoảng
chị nó lên thăm,
quà cáp đem theo vô cùng quan trọng với đàn
em của chị Sáu, chị cho hũ mắm ruốc xào xả ớt, không
thấy miếng thịt ba chỉ nào nhưng nhiêu đó đã hết
tấm lòng bồ tát của bà chị công nhân hãng dệt. Chị
cho hũ muối mè để
dành ăn hôm mưa, chai
nước mắm để kho cá kho thịt, nhưng đàn
em toàn kho quẹt. Chị Sáu mặn mà duyên quê, da sáng trưng
vì má Út đi
làm sở
Mỹ, bị sóc dằm Mỹ đen,
nhổ hoài
không ra mà ra thằng Út. Số phận hẩm hiu của nó được trời
đền cho bà
chị Quan Âm, chị thương chúng sanh dù không sanh ra chúng,
đàn em thương mến chị lòng lành, nhân hậu từ ánh mắt,
nụ cười nên vô cùng cảnh giác chị, "coi chừng chó
cắn" vì nó cứ nhìn chị chảy nước miếng. Nhưng
chị thật thà, cứ bênh vực cho con vàng hiền ngoan, sao
tụi em cứ nói nó muốn cắn chị! Chị đâu biết con vàng
tiếng lóng là ai, mỗi lần chị Sáu lên thăm thằng Út
và bạn bè nó, sắp về là con vàng đi công tác khẩn, trịnh
trọng dắt xe mobylette ra khỏi trại, nhưng chỉ chạy đến
bên kia cầu Ba thôn, lấp ló đợi chị đạp xe ngang là
nổ máy lạch phạch chiếc mobylette, ngẫu nhiên chung đường…
Con vàng đã đủ
lông đủ đuôi, không phải coi chừng nó nữa, nó đi
về tự tin, không sợ ai bắt nó vì
muốn bắt nó cũng không dễ. Nó đi
chơi, đi làm,
tham gia sinh hoạt địa
phương như mọi con chó đều thích nổi tiếng. Không nhớ
ngày tháng
nào trong năm,
một năm chỉ có một đêm
rằm cuối tháng là nước ròng sát đáy
những con kinh hẹp bề ngang nhưng rất sâu ở Thạnh lộc,
trời không trăng sao, đen kịt. Là đêm đi mò tôm. Từng tốp
người hay từng gia đình, đàn ông con trai lội
trước, cứ quậy cho sình lỏng ùng ục lên, cho tôm càng
bị ngộp thì nổi lên mặt sình lỏng để
thở. Đàn
bà, con gái lội theo sau, họ đặt
những cái đèn
bão vào thau, chậu, đẩy
trên mặt
sình loãng. Ánh sáng đèn sẽ phản chiếu
hai chấm đỏ
là đôi mắt tôm
càng,
tùy thế đôi
mắt mà
suy ra mình con tôm đang
hướng nào,
họ chộp rất nghề, con tôm bự sự nằm gọn trong tay,
bỏ rọ đem
về. Cứ đúng sáng hôm sau đêm
mò tôm là có lái buôn từ Sài Gòn lên, họ thua mua om xòm
ngoài chợ Thạnh lộc để
đưa về Sài
Gòn. Người dân địa phương không mấy ai biết mùi vị
tôm càng ra sao, vì mỗi năm
chỉ có một dịp kiếm tiền dễ như đi mò
tôm để
mua áo mới cho con, lợp lại mái lá căn nhà đã
dột nát… Không phải một thời mà muôn năm
người dân quê
truyền đời
cơ cực.
Đám thanh niên
Phân viện cũng hợp tác với tập đoàn Tư Thép, mấy
cô cấy lúa thuê điệu đàng đi mò tôm với mấy anh Phân
viện như đi hội làng. Đám thanh niên bên Kỹ thuật điện
không được lòng con gái địa
phương, họ gọi tụi đó là
"Kỹ thuật điên". Tụi nó
thấy họ đi
với trai Phân viện nên
nói móc, tụi anh điên cũng còn thơm
hơn mấy thằng "Phân vịt", thiệt là vui trong đêm
mò tôm. Giỏi nhất là con vàng, nó khoẻ lại nhờ uống
hết cây đàn của thằng Quân.
Bảo ở nhà coi nhà, mày bệnh đó,
biết không? Nó ử ử, rồi cũng ham vui, tự động xuống
kinh, bắt tôm, bắt cá, làm
mấy cô gái mê nó còn hơn mê trai.
Con vàng ngày càng bận rộn, lúa đã thời con gái, anh em
chỉ phải đi
nhổ cỏ dại sơ sơ, bón phân, xịt thuốc trừ sâu, thăm
bọng để canh nước cho lúa… chả đứa nào
siêng ra đồng,
cứ ngồi nhà
chặt hẻo, đánh
tiến lên
với nhau. Sai con vàng đi
thăm bọng, nó đi biền biệt không về là
không có gì xảy ra, nó đi
vô xóm, tán gái. Ẻm của nó xếp hàng
bên lũy tre tình tứ, õng ẹo, em nào cũng mơn mởn xuân
thì, thấy anh vàng là chổng mông chờ tình khi không mà
có. Nó oai phong lẫm liệt, mấy con chó đực
trong xóm, thấy nó là
cụp đuôi,
chuồn mất. Nó mà
nổi giận, vật con nào là con đó
chỉ còn
có vô nồi. Nhưng nó nhận lệnh đi thăm bọng mà quay về
liền, nhảy luôn chân cẳng sình đất
lên bàn
bài đang
gay cấn, miệng ứ ứ không ngừng là
y như rằng có bọng bị bể, ruộng ngập nước hay vỡ
bờ…
Mùa lúa đổ đòng đòng, vịt nhà ai
léng phéng xuống ruộng là nó vặn cổ, mấy đứa
nhỏ trong xóm, phải chăn vịt nhà,
không sợ trộm mà sợ con vàng, sợ vịt lội bậy xuống
ruộng Phân viện là chết với con vàng. Không ai dạy mà
nó biết, con gì nó bắt được
thì tha
về bếp ăn
tập thể, nhưng vặn cổ vịt ăn lúa thì
bỏ đó
chứ không tha về. Ông bí thư xã
nghe danh, dùng quyền chính ủy mượn con vàng về coi ruộng
nhà ông, nó vặn cổ bầy vịt cảnh cáo, bỏ đi, sống
ngoài vòng pháp luật từ khi ông tuyên án bắn bỏ nó. Nó đánh hơi súng
đạn rất tài,
có công an, du kích xuất hiện là nó ẩn mình mất tiêu,
ngoài ruộng hay phố chợ nó cũng mất dạng trong tích tắc.
Từ hôm va chạm với bí thư, nó ngày đi giang hồ từ cầu
Ba thôn tới cầu Trùm bích là đất địa của nó, đêm
về ngủ Phân viện, coi nhà. Nó khác hết những con chó
từ cầu Ba thôn, qua chợ Thạnh lộc, đến cầu Trùm bích,
tướng tá nó uy vũ, cái bờm trên cổ làm cho nó uy nghi
như đại tướng quân. Những tranh chấp địa bàn, gái gú
trong quản hạt của nó đang ăng ẳng, ư ử, gâu gâu…
nó đến là im hết. Có những con chó đực to lớn hơn nó,
dám nghinh nó, nhưng tới lúc so nanh là con kia tự động
quay đầu, bỏ đi. Nó làm nở mày nở mặt thằng Khánh
ở địa phương. Người ta nói đánh chó nể mặt chủ,
nhưng thằng Khánh không nhờ người ta nể mặt nó thì ốm đòn
vì phạm thượng, dám phun nước miếng trước mặt ông
bí thư chứ không thèm nói lạm dụng quyền lực cưỡng
mượn chó, còn tuyên án tử hình con vàng mới quá đáng.
Con vàng
từ hôm sống ngoài vòng pháp luật, nó như suy tư hơn. Có
khi thấy nó đứng im rất lâu ngoài bờ kinh, không phải
đang canh con rắn, con chuột nào… nó có tâm sự trong đôi
mắt vời vợi, hay nó nhớ cố hương khi đã thành gia thất.
Quê quán của nó ở đảo
Phú Quốc, nó là
giống chó săn
vùng biển.
Không biết lưu lạc làm sao đến đất Mũi, kết nghĩa anh
em với thằng Khánh sau lần thập tử nhất sinh. Đời trôi
dạt thời ấy đâu riêng gì con chó, con người còn trôi
xa xôi hơn… Những buổi chiều tàn trên cánh đồng bất
tận, nó đứng yên như chó đá, trông cô đơn, lạc loài
như người ta đánh mất quê hương… Và sau buổi chiều
con vàng thinh lặng ngoài ruộng, nó chễnh mảng việc đồng
áng, nó lờ từ hôm đưa ẻm bạch mao bên nhà thờ về
kho lúa Phân viện làm ổ. Thì ra nó se duyên cũng chọn xuất
xứ đàng hoàng, mấy
ông thầy bên nhà thờ nghe tin, qua đón
bầy chó con hoan hỉ…
Con vàng
vô mùa gặt lừng danh Thạnh lộc, nó không tha tới con chuột
nhắt, bao nhiêu chuột lớn nhỏ trên đồng
nó thâu tóm hết. Ai thấy nó trên đồng cũng phải
mê, một
dũng sĩ tả xông hữu đột,
không có cái gì
qua mắt nó, một cái bao đựng
lúa bay xuống kinh, nó cũng lội đi nhặt về…
Mùa gặt
xong xuôi, nông nhàn, con vàng lúc này đi
nhà thờ
chăm
chỉ vì
con chó trắng về bên ấy rồi. Nó chơi với chó con trong
sân nhà thờ như một người cha tốt, mấy ông thầy cưng
bầy chó nhỏ hết nói, vì đã lai nên đàn
con của nó không cao giò, chỉ dợn sóng chứ không có hẳn
cái bờn ngựa như nó. Các thầy lại nói thấy hiền hơn
con vàng nên các thầy thương lắm.
Mùa Giáng sinh năm ấy do cánh én đưa về, khí trời hanh
hao, không gian hết xanh tươi màu lá, ruộng đồng trơ gốc
rạ sang xuân… Những buổi chiều phủ xuống tí sương
mù xa xa, chúng tôi nhớ Sài Gòn ghê gớm lắm khi sang nhà
thờ phụ làm hang đá
bằng giấy bao xi măng, phun mấy màu
quét vôi tường nhà, người đi lễ nhiều hơn, đông hơn,
những kẻ nhớ Sài Gòn nhưng không dám về, không tiền
đi quán nên kéo nhau ra cầu Ba thôn ngồi nhìn chiều rơi
trên những cánh đồng sau mùa gặt… Chiều tiễn biệt
thằng Khánh lên đường vượt biên lần nữa nằm ngoài
dự liệu, nó đã được
tin gia đình
tới đảo,
bác nó lo cho nó đi chuyến nữa, bữa tiệc tiễn đưa-không
hẹn ngày
gặp lại chỉ có 3 xị rượu đế, cóc ổi, khô cá đuối,
ngoài chợ Thạnh lộc, nhiêu đó đã hết khả năng tài chánh của anh
em, bữa tiệc không làm sao tiêu thụ hết thời gian từ
chiều tới tối, lại kéo nhau ra cầu Ba thôn ngồi ngó ai
về… Con vàng im lặng nhất, sự im lặng buồn bã như nó
hiểu thằng Khánh dù thương nó tới đâu cũng phải bỏ
lại vì ai cho đem
chó lên
tàu vượt biên. Nó thường theo thằng Út, là người ưa
chọc phá nó nhưng cũng ưa chơi với nó, hôm nay nó quẫn
chân thằng Khánh, không nói năng gì nhưng hai đứa nhìn
nhau thương cảm. Nó cứ dúi đầu vô thằng Khánh, hít hơi…
mắt nó long lanh như bị bụi, nước mắt thằng Khánh chực
rơi trước nó, thằng Út chòm chèm nhai trái cóc tới trơ
hột còn chưa chịu bỏ, Út đưa hột cóc vô mũi con vàng,
"mày đi nhặt cái hột cóc này về được thì tao cho
mày đi
vượt biên."
Út nói xong, ném cái hột cóc vô rẫy mía đường.
Mía đường thì
người ta không tuốt lá như mía ăn cây, rẫy mía rậm như
rừng. Con vàng lao vô rẫy mía trong tiếng nguyền rủa của
anh em, "mày điên rồi hả Út, kêu con vàng vô rẫy mía,
lá mía cắt nó nát mình mảy chứ bộ chơi sao," nói
thì nói vậy, ai cũng hiểu thằng Út giải toả cho thằng
Khánh với con vàng đừng
quá bi thương…
Nhưng trời đã
tối nhiều, huýt sáo bao nhiêu con vàng cũng không chịu ra
khỏi rẫy mía, thằng Út nháy mắt anh em là đừng
kêu con
vàng về, để
đêm nay
thằng Khánh dễ đi!
Chúng tôi trở về trại, đốt đèn
dầu hom hem, thay vì đánh
bài tiến
lên như mọi khi thì anh em chỉ ngồi nhìn nhau. Tôi qua nhà
thờ xin dúm trà, về bắc nồi trà, chia mỗi đứa
một chén nhâm nhi… ghé xin ông Mười bắt rắn nắm thuốc
rê về
cuốn giấy báo, bữa tiệc này cũng là bữa tiệc tiễn
tôi đi,
tôi hết chịu nổi cảnh sống này,
nhưng không nói ra. Chúng tôi ngồi tới trăng muộn đã leo
thềm cửa sổ, con vàng trở về, mình mảy nó trầy xước,
nhìn nó mệt mỏi tới hết sức, thằng Khánh ôm nó vào
lòng, nước mắt dàn dụa… nó vùng ra, lao đi trong đêm
trăng nhờ nhợ sắp Giáng sinh. Gần sáng, chuông nhà thờ
đã đổ
lễ nhất, chúng tôi nói Khánh đi đi, đi chuyến xe sớm
dễ thoát, về gần tới An nhơn thì
xuống xe, chịu khó đi
bộ len lỏi qua xóm nhà
dân là thoát trạm, lại tiếp tục đón
xe về ngã
5 Chuồng chó, cũng xuống xe trước trạm nha Khánh, chịu
khó đi bộ len lỏi qua xóm nhà dân, từ từ vô Sài Gòn,
mùa này bắt dữ nên phải cẩn thận… Giờ chia tay rồi
cũng đến,
không đứa nào đưa Khánh ra
chợ Thạnh lộc đón xe để khỏi ai nghi ngờ vì chúng tôi phải đi qua con đường
độc đạo mà
một bên là nhà thờ, một bên là trụ sở công an, ủy
ban nhân dân xã Thạnh lộc, đâu
biết đôi mắt nào
từ trong khuôn viên quyền lực luôn để
mắt tới chúng tôi, theo dõi.
Khánh từ biệt anh em, gởi lại con vàng cho người cuối
cùng trong bọn mình rời khỏi trại này… nó đi tay không vì khi đến đây chỉ
có một con chó thì đã
không đem
đi được, Khánh lầm lũi ra khỏi cổng trại, bóng nó mờ
mờ trên
con đường
một mình,
không ai thấy nhưng biết là nó khóc, thằng này bề ngoài
cứng cỏi nhưng tình cảm chôn sâu cất kỹ trong lòng. Khánh đã đi qua khỏi cổng
nhà thờ,
khỏi tầm mắt bạn bè tiễn đưa,
những đôi mắt bèo
mây còn bàng hoàng ước nguyện cho Khánh được toại nguyện,
chuyến đi thành công, được gặp lại gia đình… nhất
là tiểu thơ rau đay của Khánh!
Con vàng xông vào trại dáo dác, mình mảy nó trầy xước
tứ tung, mắt đỏ hoe, mệt lử… nó nhả cái hột cóc
xuống chân thằng Út, nhìn quanh không thấy Khánh, nó lao đi lần vĩnh
biệt. Chúng tôi chỉ biết nhìn
theo bóng cái xe lam qua cầu Ba thôn trong ánh trăng
nhạt nhẽo, có bóng con vàng
chạy theo sau chiếc xe ì ạch qua cầu. Nó và cả Khánh,
không ai còn gặp nữa dưới vòm trời Thạnh lộc, mọi
người chỉ còn mong cho hai đứa
nó bình
yên. Nhiều năm
đã đi qua nhiều
địa danh trong đời, từ một góc trời bỗng nhớ tới
con vàng
và một người bạn đã gắn bó trong một khoảng đời đen tối
ở quê
xa.
3.Con vện
Chó con nằm im nghe gõ keyboar lạch cạch, thân nhiệt nó
hơi sốt, thở khò khè, chắc nhiễm trùng cuống họng. Nó
là con chó hiền lành có đôi
mắt lém lỉnh, lông vàng
da bò pha mấy mảng đen,
thuộc giống chó dachshund chân ngắn lưng dài, được lai tạo
từ berger to lớn. Người Đức cố tạo ra giống chó có
tính chất của loài
berger nhưng thân hình thích hợp cho việc săn
thú nhỏ, phải đào
bới hang sâu như chồn, thỏ… ưu điểm của giống chó
này là đánh hơi giỏi, mõm dài hàm mạnh, có cái đuôi khoẻ để
vạch cỏ tìm
kiếm con mồi lúc đi
săn, tuổi thọ khá cao trong các loài
chó, khoảng 20 năm.
Và yếu điểm là đôi
mắt dễ bị lòa
khi có tuổi, xương sống dài trở nên bất lợi lúc sơ
sinh vì còn yếu và khi về già… Được
sống trong thời đại Google thật là
mau lẹ, chỉ cần click chuột vài cái đã biết tới tổ
tông của giống chó dachshund rất phổ biến ở Đức từ đầu
thế kỷ 18 và
du nhập sang Hoa Kỳ vào những năm
cuối thế kỷ đó. Dòng
giống nó lừng lẫy tới được
chọn làm
biểu tượng của Thế vận hội mùa hè 1972 tại Munich với
tên Waldi…
Với tôi đơn giản, nó là con vện vì màu lông pha, con chó
con bắt đầu
hành trình
mới của đời
mình chỉ
sau hai tháng chào đời.
Nó sinh ra tại đâu, vì
sao người chủ lại bỏ hay bán nó đi, cha mẹ nó có biết
không?... Tiện tay vuốt ve vài cái, chó con lim dim như gãi đúng chỗ ngứa.
Ngưng tay, nó liếc trợn tròng
như cô nàng tiếp thị. Gương mặt nó buồn như câu trả
lời về xuất xứ, nhưng đôi mắt biết cười như nó đã
quên. Nó sẽ là con chó biết làm cho người ta cảm động.
Tạm thời nằm yên khi không khoẻ, không biết thằng con
có biết tình trạng sức khoẻ con chó của nó? Tôi nhìn
vô trong nhà vẫn chưa ai thức, xứ này nắng lên vàng rực
cũng chưa ai dậy trong những ngày cuối tuần, những ngày
trong tuần thì người ta lại đi học đi làm trước nắng
lên. Nắng bơ vơ như người lạc xứ, sớm mai vàng chiều
nhạt với hư không… Một mùa hè sắp sửa đi qua, thằng
con đi chơi hơn tháng nay mới về lại nhà. Không gian câm
đầy ắp căn phòng của nó những ngày qua nay lại vang vang
tiếng nói cười, cái võng giăng
ngang phòng
vì không còn tủ kệ nào chứa nổi mớ thú nhồi bông đã
ngủ yên từ hôn người chủ nhỏ vắng nhà, những con heo,
con bò, gà, gấu… con nào mua về cũng được
đặt tên
theo những nhân vật, thú vật trong phim hoạt hình mà nó
ưa thích. Mỗi đêm, trước khi lên giường, nó đều giành
ra dăm phút trò chuyện với bạn bè rồi mới chịu ngủ.
Chuyện dài về đứa
con nhỏ nhất trong nhà
bao giờ cũng dài như phim bộ vì nó lớn lên từng ngày
trong tình thương yêu của cha mẹ, còn thêm anh Hai nó nữa, đó mới là nhân vật quan
trọng trong đời
nó vì
anh Hai không quá già để
khó khăn như cha mẹ, không quá trẻ để nó thiếu lòng tin, một người
bạn khi vui chơi, người thầy khi học tập, người chia
sẻ vui buồn với nó từ khi chào đời tới lúc không còn
cha mẹ mới thấy trên đời
chỉ có hai anh em… Nghĩ xa không qua ngày
tháng, cái bàn ăn
thiếu chuyện kể đủ thứ trong trường của nó như thức
ăn thiếu gia vị. Tới giờ đi ngủ, không nghe tiếng hò hét tắt tivi,
uống sữa, đi
đánh răng nhanh lên…
mày còn lượn tới lượn lui… má đánh bây giờ! Những
ồn ào khó tránh trong một căn nhà làm cho người ta tức
bực tới lúc đi tìm, ngồi nghe tường vắng kể chuyện
đã qua.
Hôm đi,
nó mang theo con bọ (guinea-pig) tên
Russell, là quà Giáng sinh yêu thích của cu cậu mê thú nuôi.
Con bọ bằng nắm tay, lớn nhanh như thổi. Ngày nào đi học
về cũng chăm lo cho con bọ như em gái thân yêu, ẵm bồng
cả tiếng, cưng nựng mọi điều. Từ hôm có Russell làm
bạn mới biết hỏi thăm, "Chừng nào ông bà đến?
Weekend này ông bà có đến nhà mình không?..." Cô chú
Thiệp thương nó và con Russell nên ông bà đến chơi nhà,
ngoài những món ăn chơi, chai rược đỏ, túi cà phê Starbucks,
phong chocolate cho nó như trước kia, nay thêm mớ túi baby
carrot cho Russell. Chao ôi, tiếng "ông", tiếng "bà"
ngọt như đường cát mát như đường phèn… làm tôi
nhớ tiếng "ngoại" của tôi nơi nhà cũ, bà ngoại
mượn bên hành xóm mà tình như ruột thịt. Ông bà Nguyễn
rồi cũng sẽ đi vào ký ức tuổi thơ của một đứa trẻ
không có ông bà. Baby carrot sẽ gợi nhớ nó về căn nhà
tuổi nhỏ và ông bà nhà thơ hiền lành, thân mật…
Không biết lời nguyền nào đã linh ứng, ông bà nội ngoại
của tôi đều
chết vì đấu tố ngoài bắc. Tôi chỉ
biết ông bà qua di ảnh. Đến
đời con cũng không có ông bà
từ ngày lọt lòng mẹ, một người Việt sinh ra tại Mỹ,
còn xa hơn tôi sinh ra trong một gia đình di cư từ bắc vô
nam. Nó nhắc tới ông bà rất bỗng dưng… "bà mà gặp
lại con Russell là bà hết hồn đó mẹ! Nè, mẹ coi đi,
mẹ ẵm nó thử đi, hôm nay nó nặng bằng con rồi đó!"
Những ồn ào thường nhật bỗng bặt tăm từ hôm nó nghỉ
hè, ẵm con Russell đi vacation. Cả nếp sống gia đình, bỗng
thay đổi
như hôm anh Hai nó đi đại học, bốn năm qua không
còn phải
vô tận giường đánh thức mỗi sáng, chiều tối không
phải nghe la hét om xòn, "phòng mày như ổ chó…"
nhiều khi cái ổ chó quen mắt, chợt lúc nào đó, vô phòng
nó lấy quyển sách, nhìn căn
phòng
ngăn
nắp-thiếu hơi người, mền gối tươm tất như khách sạn.
Bỗng thèm
thấy cái ổ chó còn hơn thằng con phải từng ngày lo ăn,
lo giặt một mình nơi không phải là nhà. Đâu cũng bốn
bức tường dưới mái che và lo toan trước mắt. Đến một
lúc nào đó, người ta sẽ phân biệt được chỗ tạm dung
là nơi dừng chân khi mệt mỏi trên hành trình dài. Nhà
là một nơi để về, không sợ hiểm nguy rình rập xung
quanh, bình an ngồi khâu vá tâm tư trong tình thân ruột thịt… đứa lớn còn rong ruổi trên
hành trình của nó. Những lời động
viên,
chia sẻ kinh nghiệm hữu ích hơn rầy la long-distance. Tương
lai thằng em cũng sẽ đi như thế, là một thực tại phải
chuẩn bị tinh thần để giảm thiểu hụt hẫng. Căn nhà
sẽ có thêm một phòng trống. Và khi nó trở về, không
còn là chú nhóc liếng thoắng. Không đòi ăn
món này
món nọ, mà chỉ hỏi món đó
nấu làm
sao? Mới hôm nào ồn ào đi
tìm cái
máy game để
đâu, bây giờ lặng lẽ tìm
cái bóp với xâu chìa khóa… Con trai hướng ngoại không
có gì lạ, chỉ có người mẹ sau cánh cửa gia đình đã
chờ chồng con trở về hết đời
này qua đời khác, giữ
kỹ món đồ chơi, bức tranh vẽ nguệch ngoạc của con mình để
thấy nó còn
bé bỏng muôn đời…
Chó con vẫn nằm im, một con chó ngoan mau chiếm được cảm
tình,
con chó biết nhận ra người gia chủ trong gia đình đông người
cỡ nào
nó cũng nhận ra, và nó biết nghe lời người đó lắm,
nhưng tình cảm của nó thường giành cho người ưa chơi
với nó chứ không phải chủ nhà. Như con vàng của thằng
Khánh ngày xưa, tối ngày lẽo đẽo theo thằng Út, chọc
phá nhau không ngừng. Nhưng khi khó xử việc gì thì nó lại
nhìn tôi, tôi búng tay cái chóc là nó làm tới, nhíu mày
là nó rút lui. Cuối cùng, chạy theo thằng Khánh… con chó
máu nóng nên tâm lý phức tạp như con người. Nhớ hôm
qua, thằng con về lại nhà sau chuyến rong chơi dài ngày,
nó cao lên thấy rõ, có vẻ trầm tĩnh hơn và tự lo lấy
hơn là kêu mẹ… Hôm đi, mang theo con Russell, hôm về, mang
con chó, một hôm nào nó đi vacation, dẫn về con… nhỏ,
màu sáng cũng đỡ, đen thủi đen thùi, chưa vô nhà đã
sực nức cà ri, hay một nàng ombomseries chứ không thèm ôm
bom lẻ, trùm khăn
kín mít, khó đoán âm mưu… Ngồi vuốt ve con chó, nghe lòng mình chơi vơi…
Thằng con đã lù lù xuất hiện, "Hi Dad, goodmorning! Lili
có ngoan không vậy bố?"
"Ngoan lắm."
"Bằng con không?"
"Bố nghĩ là hơn con chút xíu, nó nằm im nãy giờ, không
kêu bother như con!"
"Hì hì… nó đang
bệnh đó. Nó hết bệnh… cũng không có hiền đâu!"
"Sao hôm trước, bố mẹ cho mua con chó. Anh Hai gởi hình con chó định mua về
nhà, đâu phải con
này?"
"Dạ đúng,
con cũng thích con đó, Hai cũng thích. Nó đẹp lắm, nhưng
tốn nhiều tiền của mẹ lắm đó! Nó tới mấy hundred
lận bố!"
"Bố có nghe mẹ nói, nhưng đã
cho mua, sao con không mua con chó con thích?"
"Bạn của Hai, bốn hớ Bryan không?"
"Nhớ,"
"Bryan cũng thích con chó đó
lắm. Bryan nuôi chó từ hồi nhỏ bằng con tới bây giờ
nó cũ lắm rồi, vợ nó bỏ nó đi luôn. Con với Hai mới
phải đi dọn nhà
cho Bryan…"
"Ok, chuyện Bryan divorce nói sau. Nó bao nhiêu tuổi mà
con nói nó cũ?"
"Bryan ba chục years old rồi đó.
Nó hay chó lắm, nó nói với con là
con chó đó
đẹp thiệt, nhưng nuôi nó khó lắm, training cũng khó. Bryan
sợ con take care không nổi!"
"Cũng đúng. Rồi tụi con mua con chó này
ở đâu?"
"Hai search internet, tìm được cái Animal
Center dưới Houston. Chỗ này
người ta bán những con chó của người nuôi không nổi
thì đem
tới đó bỏ, hay những con chó người ta tìm được ngoài đường…"
"Rồi sao con tìm được lili, sao
con mua nó? Con có biết là
nó đang
bệnh, và
tai bên phải bị tật - không đều
với tai bên
trái?"
"Con biết!..."
"Anh Hai có biết không?"
"Hai cũng biết, Hai không thích nó bằng con Hai đã
sent picture về cho bố. Nhưng con thích nên Hai mua cho con."
"Sao con biết anh Hai không thích mà con còn mua? Không
nên thấy anh Hai thương con rồi bắt Hai làm chuyện mà Hai
không thích!"
"Con biết,… Hai không thích chút thôi. Nhưng con thích
là Hai ok mà!"
"Còn nói, từ nay, anh Hai say no thì thôi! Biết chưa?"
"Dạ."
"Sao con lại thích con chó này, sao gọi nó là lili?"
"Con đâu có thích!"
"Trời đất, không thích sao mua?"
"Con muốn cứu nó thôi!"
Tôi nhìn mặt thằng con, nhìn con chó của nó. Đúng là chủ nào chó
nấy, người sao vật vậy! Cái mặt hiền hiền nhưng hai
con mắt lém lỉnh, suy nghĩ ngộ nghĩnh, nói năng không cú
pháp, văn phạm gì cho mệt… nhưng câu trả lời, "Con
muốn cứu nó thôi!" đã chuộc hết lỗi lầm, cứu
một con chó không thích hay mua con chó ưng ý trong khả năng cho phép?
Câu trả lời là
tính trời sanh. Tôi nói, "Con nói rõ cho bố nghe về
con chó này."
"Dạ. Nó bị nhốt trong cái chuồng chút xíu hà, tất
cả là 7 con, nó nhỏ nhất, đang
bị bệnh nữa, sao dành
lại được!
Những con kia leo lên
người nó để xin người ta ẵm ra ngoài, đạp lên đầu
nó, đái trên mình nó… Con đến
coi, con biết là
không cứu nó thì nó sẽ chết, người ta đâu có take care
gì đâu!..."
"Vậy là
con chọn nó?"
"Đúng,
Hai không muốn nhưng con nói Hai…"
"Biết rồi. Ở Animal Center, người ta có nói với con
là nó đang bị bệnh?"
"Có, nhưng con muốn mua nó. Hai có nói với con, nếu
mua nó là
phải đi
bác sĩ, nhiều tiền lắm đó! Nhưng con… không muốn
nó chết. Sorry dad!"
"Cũng tốt. Con đúng đó!"
Nó mới nhún vai sorry, mặt buồn thê
thiết, làm như ăn năn dữ lắm! Nghe nói, "con đúng
đó" là tươi tỉnh, tía lia cái miệng, "Con với
Hai phải đem nó đi tắm, cắt móng chân, nó thúi lắm. Người
ta thấy con tội nghiệp quá, nên tính mười hai đồng thôi!
Con tính nó là lucky dog đó dad."
"Lucky gì đâu,
anh Hai nói với dad là đi bác sĩ hết
mấy trăm?"
"Cũng còn
lucky chứ! Nó không chết là lucky rồi! Bà bác sĩ dog còn
nói nó dễ thương, con dễ thương. Bà cho free mấy lần
chích ngừa sắp tới. Xí, được free mấy hundred tiền chích
ngừa, là cũng bằng tiền đi bác sĩ cho nó, mà mình cứu được nó…"
Thua thằng nhỏ 2-0, nhưng hiểu ra lòng
mình, lòng người, lòng dạ hẹp hòi, ích kỷ bẩm sinh,
ưa lộng giả thành thật riết rồi u mê. - Suy nghĩ đạo
đức làm gì khi chỉ làm gì có lợi. Điều
(chuyện) bất lợi, ai làm?
Kẻ cắp bạc chẵn, đi
cúng chùa
bạc lẻ là cảm thấy hết tội! Người ra tiền mua bao
crawfish, nhưng không sát sanh nên nhờ người khác luộc rồi
đớp chung… ông luật sư cãi đen
thành
trắng, chuyện áy náy trong lòng chỉ nói với ông cha. -
Người xưng tội thanh thản ra về!... Ai cũng đạo đức
trong thế giới chiến tranh miệt mài…
Thằng con lại ẵm bồng lili như con Russell hôm trước, tôi
hỏi: "Con Russell của con đâu rồi?"
"Hai không cho nuôi 2 con, mà con không muốn bỏ nó ngoài
Petco cho người ta lấy…"
"Vậy nó đâu? Ông bà hỏi thăm con với nó hoài đó!"
"Sorry, con cho nó cho ông Mỹ-bạn bố đó!"
"À, ông Mỹ dưới lầu - anh Hai."
"Dạ đúng."
"OK, ông đó tốt lắm, bố thích nói chuyện với ông
Thomas. Con có biết ông ấy đã từng sang Việt Nam thời
chiến tranh…"
"Con biết, ông Thomas biết nói tiếng Việt chút chút đó dad! Ông ấy
cũng cưng Russell lắm, sáng nào
ông ấy cũng chơi với nó ngoài sân…"
"Thôi được, khi nào con trở xuống anh Hai, nhắc mẹ
mua foods cho Russell và nói bố mẹ gởi lời thăm ông Thomas
với Russell."
"Đúng đó. Russell ở nhà ông Thomas, nhưng nó còn nhớ
con. Con qua chơi là nó mừng liền!"
"Hey, sao con gọi con chó này là lili?"
"Thì nó lì lì như mẹ ưa la con, 'Cái mặt mày lì ra đó đi! có tin
mẹ đánh…' Con thấy nó trong Animal Center, cái mặt lì ra đó
nên gọi
nó là lili."
"Con có biết nó là con chó girl không?"
"Con biết!"
"Sao không mua con chó boy, con thích con chó boy mà?"
"Nhưng không lẽ con chó girl thì không cứu nó! Con nói
là không cứu nó là nó chết! Dad quên rồi sao?"
"Phải ha,…
dad không bao giờ quên được
lòng dạ
hẹp hòi, ích kỷ… khi tuổi thơ đã vĩnh viễn ra đi."
Thằng con chơi với lili ngoài
sân sau, hình ảnh tuổi thơ của thằng con đã đọng lại trong
tôi, sẽ ở đó vĩnh viễn cho dù
mai này nó thế nào, khi đời
sống đánh cắp tuổi thơ của từng người không dấu vết
để lại.
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 07.09.2010 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hoa Kỳ.
|