THẾ PHONG


Kỳ 3


Mùng năm tết âm lịch đến Đà Lạt với hành lý quần áo, chẳng đồ sính lễ, áo cưới cô dâu chưa may mà mùng 10 là ngày cưới. Coi như chỉ còn bốn, năm ngày nữa làm sao sửa soạn cho kịp? Đà Lạt vẫn còn đắm trong sương của không khí mùa xuân, hoa anh đào năm nay nở hai lần đỏ hồng đẹp mắt. Và phố xá Đà Lạt đông người nhưng đa số cửa hiệu im lìm đóng. Cũng rất may cho Đỗ, trong số các khoá sinh ở Trung tâm huấn luyện Vũng Tầu thì có rất đông các co cậu là học trò Đỗ. Như Giăng ở 33 Hoàng Diệu (chắc gia đình này ngày xưa quốc tịch Pháp có tên Tây) nhận làm phù rể cho thầy. Giăng lại giới thiệu một cựu khoá sinh khác có người cậu ruột mở tiệm thợ may Túy ở đường Phan Đình Phùng, chuyên may áo dài các cô, các bà. Còn bác Bảo lại quen một gia đình làm bánh ngọt trên đường Hàm Nghi, thế là hai tiệm này có thể bị gõ mở cửa hiệu sớm đầu năm. Tiệc cưới đặt ở khách sạn Nam Đô, phong cưới rước dâu về khách sạn sang trọng nhất Đà Lạt là Palace , tại phòng A - một trong bốn phòng đắt tiền nhất - trông ra hồ Xuân Hương. Cô dâu theo đạo Báp tít Ân điển làm ở phòng đọc sách trên đường Minh Mạng. Đỗ von là con cầu tự chùa Quán Thánh ở Yên Bái chưa tin Chúa, nên được dặn dò trước ngày cử hành hôn lễ, chú rể tới tư thất giáo sĩ học giáo lễ. Đỗ biết đây là một đặc ân, bởi lẽ phải là tín hữu đã làm báp têm, thuộc viên hội thánh, là một Cơ đốc nhân mới được phép cử hành hôn lễ. Khi Đỗ và Khuê đến nhà ông bà giáo sĩ người Mỹ Roberston thì gặp một bà giáo sĩ Betty Merrel, và chính bà này là người đệm dương cầm ở nhà thờ cho đám cưới hai người. Bà Merell nói ngay:

- Một là Chúa có thêm một tín đồ; hai là Chúa mất thêm một tín đồ.

Đỗ không thể quên ngày 30 tháng 1 năm 1966 khi hôn lễ được cử hành xong, rước dâu về khách sạn Palace , một giáo sĩ khác nhìn thấy căn phòng rộng, có bốn giường, hai lò sưởi, hai phòng toa lét rộng thênh thang, sa lông tiếp khách thật đẹp, điện thoại đầu giường, đã quay lại hỏi nữ giáo sĩ Betty Merell :

- Này, ông ấy làm nghề gì?

- Toi không rõ lắm, nhưng mục sư Roberston cho biết ông này là một trí thức Việt nam làm việc ở Vũng Tàu. Đây là đám cưới mà chúng ta quay phim 16mm để đem về Mỹ làm quảng cáo.

Sau ngày cưới, vợ chồng Đỗ đã phải đem chiec nhẫn cưới bán cho tiệm vàng, để có tiền chi dụng hàng ngày. Ba ngày sau, hai vợ chồng Đỗ lên phi trường quân sự Cam Ly đợi chiếc Cessna bốn chỗ đưa về Vũng Tầu. Khuê nhắc đến chuyện bà cô bỏ về nửa chừng không làm chủ hôn, chỉ vì một lý do chẳng đáng gì? Tối hôm ngủ ở nhà ông bà giáo Bảo, bà nhìn thấy cuốn sách trên kệ đầu giường rồi vớ lấy đọc chờ giấc ngủ. Bà rướn đôi mắt nhìn cho kỹ, cuốn sách này viết về năm nhà văn, trong đó có chú rể là cháu ruột bà. Tác giả cuốn sách, Du Tử Lê viết về Thế Phong, cho rằng anh này từ Hà Nội vào Sài Gòn trước di cư 1954, như kẻ tứ cố vô thân. Bà cô ruột giận nhất khi đọc đoạn này:

“...Ông ngồi vừa nói chuyện với tôi vừa đánh máy “Nhà văn, tác phẩm, cuộc đời”. Nghĩ đến đâu ông đánh máy tới đó, không viết trước. Bên cạnh chiếc máy đánh chữ là một ly cà phê to (loại ly sành) cùng hai bao Bastos xanh, “gu” đặc biệt của ông. Ông uống cà phê như uống nước trà, và hút thuốc liên miên, ngay cả lúc đánh máy. Ngồi một lát, ông rủ tôi ra quán cà phê. Sau một thời gian giao tiếp, tôi cũng không biết ông lấy tiền đâu để sống! Ngoài việc viết sách, ông không hề làm việc gì khác, cũng không hề viết báo. Chỉ biết về sống tại đây nhờ một người anh họ. Điều lạ hơn nữa là không bao giờ thấy ông than phiền về các vấn đề tiền nong, hay kêu ca về những đau khổ mà cuộc đời đã dành cho ông. Không phải đời sống ông đầy đủ, không phải cuộc đời hậu đãi ông. Dĩ nhiên là thế! Hay ông là con người vô tư, đang sống trong hạnh phúc, trong tình yêu tràn đầy? Tôi biết chắc cũng không phải. Thơ văn và thái độ của ông chứng tỏ hùng hồn điều đó. Tất cả những chuyện ông nói với tôi, tuy có chua chát, đắng cay, nhưng ông kể lại với một giọng hài hước, dí dỏm, không một chút hậm hực, không một chut oán hờn , than trách. Bất cứ ở đâu chỗ nào, ông cũng chỉ có một vẻ mặt : tươi cười, vui vẻ, một giọng nói vang động, vỡ nát. Nhưng tôi không tin tiếng cười, giọng nói đó phản ảnh mặt thực của tâm hồn ông.

Ở quán về, đêm đã khuya lắm, ông còn cố giữ tôi lại. Chúng tôi ra ngồi một chiếc bàn gỗ ngoài sân dưới dàn hoa bông giấy. Chiếc “transistor” để bên cạnh, phát ra những âm thanh kích động của một bản nhạc ngoại quốc. Chúng tôi im lặng hút thuốc. Mỗi khi đốm lửa xoè lên, lại một lần soi sáng khuôn mặt nhăn nheo, dữ tợn, lì lợm của ông. Nhưng không như mọi lần, ở đây mỗi khi liếc nhìn, tôi thấy ẩn sau những nét nhăn, có vẻ hung hãn kia, có mot cái gì rất mỏng manh, rất khó nhận, nhưng cảm được. Một nỗi buồn, một vẻ ưu tư trầm kín, cái cảm gíac mơ hồ về một đớn đau, một khắc khoải quằn quại, một chán chường, một khốn nhục... Tôi không biết trong thâm tâm lúc đó ông nghĩ gì? Hay không nghĩ gì cả? Tôi bỗng thấy buồn. Bỗng thấy một niềm thương tiếc không đâu dâng lên rào rạt trong tâm hồn tôi.

Xa xa tiếng súng đại bác từ miệt Phú Lâm vọng tới. Ông thở dài như nói một mình:

... tôi không còn thân thích nào ở đây cả? Trong đời tôi, tôi chỉ quý mến và nghe lời một người đó là mẹ tôi. Nhưng mẹ tôi không còn nữa, bố tôi cũng vậy. Tôi không anh em ruột thịt, một thân một mình, chả có nhu cầu gì nhiều. Sống theo những gì mà mình muốn, làm những gì mà mình thích làm. Vợ con chưa có, lỡ có chết, có tai tiếng hay điều gì cũng chỉ một mình gánh chịu...”

Dừng một lát, ông tiếp, giọng thật nhẹ, xa xôi, khác hẳn bình thường; khiến tôi có cảm tưởng như tiếng nói đó không phải của ông mà của một ai xa lạ. Tôi nhớ mãi câu nói của ông: “...Tôi không muốn để ai biết tôi buồn, nỗi buồn của tôi chỉ có tôi biết mà thôi. Và tôi cũng không muốn nhận hay mang ơn ai cả...”

Sáng hôm sau, bà Thảo nói với ông bà giáo Bảo rằng không thể làm chủ hôn cho cháu ruột, trưa nay phải về Sài Gòn gấp. Ông bà giáo Bảo báo tin cho Đỗ biết giữ bà ở lại, dầu bà cô giận cháu ruột thế nào đi nữa cũng không thể có thái độ, hành động như đem con bỏ chợ vậy. Nhưng dầu ai nói sao, kể cả cháu đích tôn còn là trưởng tộc Đỗ; bà cũng xách va li ra bến xe trước ngày cưới. Anh Huyến thấy vậy, thưa với ông bà giáo:

- Xin ông bà thương chú em nghĩa tử của tôi mà không chấp thái độ cố chấp của bà Thảo, ngày mai đây ông bà nhạc vui lòng cho tôi được phép thay thế đứng chủ hôn.

Ông giáo Bảo là đồng nghiệp vơi bố Đỗ, có tình bạn thâm giao, mặc dầu ông giáo Đỗ Văn Đức hơn trên một giáp tuổi. Ông hỏi Đỗ:

- Con có thể cho hai bác biết lý do nào cô của con nhất định bỏ về?

Cầm cuốn Năm sắc diện năm định mệnh, Đỗ trả lời:

- Thưa hai bác, chỉ vì cuốn sách chết tiệt này có câu nhà văn nói rằng mình tứ cố vô thân. Chỉ cần hai bác đồng ý thì anh Huyến thay mặt nhà trai chủ hôn là được.

- Khuê là thứ nữ, còn chị lớn hơn bốn tuổi chưa ai hỏi han tới, cô em đã ra ở riêng trước; thì đây cũng là một tiến bộ vượt bực của gia đình Việt Nam.

Một ông chấp sự trong hội thánh trả lời giáo sĩ Betty Merrel vậy.

Nữ giáo sĩ chưa hết thắc mắc:

- Cô chị lớn không đẹp, lại không có duyên bằng cô Khuê, quả ông Đỗ có mắt tinh đời thật! Và còn cô em nữa cùng bốn đứa em trai, xem ra thì chỉ một cô Khuê và ông bố đã tin Chúa. À quên, cô chị lớn tin Chúa mới đây, khi tin nhận mặc cả thế này thế kia với Chúa. Không gì khốn nạn cho bằng tin Chúa chỉ mong kiếm “ma na” Chúa ban cho như không.

Ông chấp sự, người chuyên dạy tiếng Việt cho các giáo sĩ, như có đôi chút động lòng:

- Và từ khi đạo Thiên chúa được rao giang ở Việt Nam, thì có câu “...theo đạo lấy gạo mà ăn” mà bà giáo sĩ!

- Thế ông có biết nhiều về ông Đỗ không?

Ông ấy là tác giả tập thơ Asian Morning Western Music tôi đã đưa cho giáo sĩ Roberston đọc. Có những câu thơ, như lời ông Roberston đọc xong lại không mấy vui!

Nữ giáo sĩ Merell càng thắc mắc:

- Ông có thể cho tôi mượn đọc được không?

Đưa tay với lấy từ trên kệ, ông chấp sự giở sẵn trang có những câu:

“...This land of ours counts on you
Men who have convictions
Men who are not servants
Men who have dignity
Men who do not allow wives to work for Americans
Men who have hopes
Men who bring salvation
I know you will hate me
I tell you
             You must learn American
(If you want to know
              what the hell is going on...)

Merrell chau mày khó chịu, khi giở ngược lên mấy trang trên, mắt dán vào bài tựa viết cho cuốn thơ:

... “He is against those who would “use literature in the same way as bar hostesses do”. In “Truoc mat nhin thi si” (Under the Poet’s Eyes), he declares:

“The million lines of poetry which can become/ directives for this nation in the future/Should be preceded by the million lines of poetry/cataloguing the hardship of to-day...”

His poetry, like his prose, is deeply committed, passionate, and supremely just...”

Bà đọc tên người viết tựa: Llyod Fernando, Pr. of English, University of Malaya, rồi quay sang ông chấp sự, vừa cười vừa nói:

“Chắc ông không cần phải dịch sang tiếng Việt, phải không ông chấp sự?”

- Vâng đúng, thưa giáo sĩ. Và thật mà nói không phải ai cũng như tôi, rất thân thiện với người Mỹ đồng đạo. Ông Đỗ thì không thế bà giáo sĩ ạ!

- Nhưng ông này hiện đang làm ở Vũng Tầu cho người Mỹ mà.

- Đúng vậy, nhưng đây là một trung tâm huấn luyện do Toà đại sứ Mỹ đài thọ, các giảng viên này làm việc ở đây đa số được hoãn nhập ngũ.


 

... CÒN TIẾP ...


__________________________________________________________________

HỠI LINH HỔN TÔI - Truyện Vừa của Thế Phong do NXB Thanh Niên xuất bản Quí 2 năm 2007











© Tác giả giữ bản quyền.
.Cập nhật theo nguyên bản tác giả gởi ngày 21.08.2010.
. TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN THẾ PHONG CHỈ ĐĂNG TẢI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com