Điệu Múa Cổ











              Câu chuyện mà tôi sắp kể như cổ tích thời @.

       Những năm 1990. Một chàng họa sĩ Hà Nội “đội gạo lên chùa”. Ngôi chùa làng đã sập từ lâu. Chàng thắp hương khấn những tấm bia cổ đã bị đập nát, xin nguyện gom từng viên gạch nhỏ, xây lại ngôi chùa thiêng cho dân làng ở đây được sống với tâm linh.

        Có chùa, người nông dân Việt Nam một đời “Bán mặt cho đất/ Bán lưng cho giời” với âu lo đè nặng: “Trông trời trông đất trông mây/ Trông mưa trông gió, trông ngày trông đêm” sẽ có phút giây tĩnh lặng, thảnh thơi tìm về với lòng mình và hướng thượng, giải thoát nỗi buồn lo, theo con đường Đức Phật dạy.

      Cha mẹ tiếc hoa Mai nên đặt tên chàng là Bùi Hoài Mai. Chàng thường rời Hà Nội đi tìm “bồng lai tiên cảnh” chốn hang cùng xóm vắng để vẽ.

         Chàng đến làng Na, xã Tiên Vân, huyện Tiên Du- Bắc Ninh, cánh đồng lúa vàng, lúa xanh mượt mà gieo nhạc và thơ. Trên ngọn núi nhỏ nhìn xuống xóm thôn xanh cây thị, cây nhãn, có nền một ngôi chùa hoang phế, còn một am nhỏ, và bảo tháp có xá lị của sư tổ.

       Đất thiêng, người hiền và những thao thức tâm linh đã giữ Hoài Mai ở lại nơi này. Anh dựng Quan Âm động, ôm vách núi, tự mình tạc tượng Quan Âm ngự tòa sen, hai má bầu bầu, lành hiền như Mẹ Việt Nam.

        Hương khói quyện hương lúa toả từ động Quan Âm, gọi tình người. Dân đi làm đồng qua con đường nhỏ quanh núi, ghé động Quan Âm thắp hương khấn vái thì thầm. Cầu một ngày bình an, mưa thuận gió hòa, gạo thóc đầy bồ, mái ấm, nhà êm.

        Khói hương thơm linh thiêng Quan Âm động, ấm lòng người già trẻ. Dân làng sống lại với ngày xưa trong sạch, hiền hòa.

      Hoài Mai lặng lẽ dọn nền chùa, kiếm từng viên gạch, xây nền. Dân làng thấy vậy xúm lại góp sức, góp công, góp từng đồng tiền nhỏ nhoi. Mai vẽ tranh. Tiền bán hai tranh dâng một nửa dựng chùa, một nửa nuôi mình và các con.

     Chàng họa sĩ, biết cả kiến trúc và nghề gốm, tự mình thiết kế ngôi chùa cổ, lặng lẽ hòa ý tưởng nghệ thuật riêng mình vào hồn quê, trong thế đất tuyệt diệu Thiên- Địa- Nhân hợp nhất ở một góc trời quê.

      Mười năm qua, dân làng cùng Hoài Mai nhẫn nại xây chùa như kiến tha lâu đầy tổ. Không nhờ các đại gia. Họ nhiều tiền thật đấy. Nhưng họ muốn làm chùa choáng ngợp. Mất cõi hồn làng. Hỏng cõi tâm linh.

       Làng không cần ông Phật thật to. Chùa thật lớn. Chỉ cần nho nhỏ một cõi thiêng thanh tịnh, một chốn đi về, gột rửa bớt tham hận, si mê. Thả hồn vào tĩnh lặng. Trong sạch. Hiền hoà.

     Ngôi chùa làng Na, mang tên Am Linh tự đượm hồn quê, nặng tâm linh Trời- Đất- Tổ tiên, giờ đây hoàn chỉnh kiến trúc truyền thống: Tam bảo, Quan Âm động, Tam quan… ngày đêm đượm khói nhang, vang tiếng nguyện cầu Nam mô A- di- đà. Con thuyền Bát Nhã bừng Hoa Lúa.

    Đang mùa gặt cuối Thu- 2009, chúng tôi thăm Am Linh tự của Hoài Mai tại làng Na, cảm nhận ngôi chùa in dấu bàn tay chàng hoạ sĩ Hà Thành nổi giữa thảm lúa vàng.

          Ngôi chùa nhỏ an bình, thơm mùi gỗ, ngự trên ngọn đồi nhìn xuống làng Na. Kiến trúc tôn giáo hòa giữa một vùng như thể cây quỳnh cành dao, dâng ta tình yêu cuộc sống. Bóng Thị Mầu bồng bênh đâu đây…    

          Cõi thiêng của ngôi chùa làng Việt cổ là vậy. Không gian nhẹ nhàng, thanh tịnh hương Ngâu. Vẻ đẹp an hòa của ngôi chùa kiến trúc theo mái nhà rường đồng quê Bắc bộ, thanh tao và gợi hơi ấm gia đình.

         Phật tại tâm. Ngôi chùa làng Việt cổ luôn gần gũi với cuộc sống ngày thường của dân quê. Những người thợ Bắc Ninh tài hoa đã dựng xây ngôi chùa làng Na, giống ngôi nhà của mình, như ngày xưa tổ tiên từng làm.

         Ngôi chùa làng Na vương rơm rạ vàng óng. Cuộc sống sinh sôi nảy nở trong khoảng trời linh thiêng và thế giới trong sạch của Thần, Phật, Mẫu như có, như không. Không phải tu khổ hạnh. Không diệt dục, ép xác. Đời và đạo. Đạo và đời hòa sáng trong nhau. Đạo là con đường, dẫn con người đến hạnh phúc, an nhiên, tự tại. Không có Đạo không thành Con Người.

        Ca dao dạy người Việt có Đạo để sống làm người trong tình yêu đôi lứa:

              “Ngó lên Cẩm Tự chùa vàng

              Tu thời đặng đó, bỏ nàng ai nuôi”.

      Ngôi chùa làng trong tâm thức các nhà thơ xưa rung động ngọt ngào sự sống trần thế:

               Trời thu nắng rạng ngắm mênh mông

                Đài Phật nguy nga, đổ bóng lồng

                Chở rượu đầy thuyền trăng rọi chiếu

                Chuông chùa lay động, nước mây rung

                       (An dã tự- Ngô Đức Thọ- thời Mạc)

      Am Linh tự của làng Na, ấm áp tình người, tình yêu cuộc sống như nó vốn có.

        Hoạ sĩ Hoài Mai tự mình trông chùa. Sớm tối khói hương. Tiếng tụng “Nam mô A Di đà Phật” đều đều thơm rơm rạ, khói cơm chiều.

         Vậy mà, chàng vẫn lái ô- tô đi khắp núi sông, về Hà Nội cùng vợ con, hoặc chìm trong ngôi nhà vườn góc làng Na vẽ tranh và thiết kế mẫu gốm.

       Xưởng gốm Mai trong làng Na vừa đủ để người làng Na trổ tài vẽ, nung, nhào nặn đồ gốm mỹ thuật, mang hơi ấm hồn người làng Na. Mai đã nghiên cứu và sáng tạo thành công “gốm Mai”- một dòng gốm với kỹ thuật và đề tài truyền thống, và đất sét làng Na dẻo, độ kết dính cao rất tốt cho men gio tự nhiên, kết nối hài hoà ý tưởng sáng tạo mới lạ của người hoạ sĩ hiện đại.

           Mai dạy nghề gốm cho dân làng Na. Để họ tự sáng tạo từng nét vẽ theo tâm hồn mình. Những bức tượng Phật, phù điêu, gạch trang trí, tượng người Việt cổ, nghệ thuật cổ, điệu múa cổ… sống động nét bàn tay, hơi thở, nhịp sống người làng Na.

          Những bức tượng Phật, Tiên, miệng chúm chím cười duyên như thôn nữ làng Na. Hồn nhiên và phúc hậu, ấm nồng như lòng mẹ. Trắng trong tinh khiết như bông sen “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.

        Hoài Mai bảo tôi chọn bất kỳ sản phẩm nghệ thuật gốm Mai, mà tôi thích, anh sẽ tặng.

         Lạc vào vườn gốm Mai, tôi như nhìn thấy bàn tay người làng Na uyển chuyển cùng Đất Nước Lửa. Tôi miên man say đắm trước muôn sắc màu men tự nhiên và nét tạo hình đầy tính hội hoạ.

        Tôi chọn bức gốm nhỏ- “Điệu múa cổ”.

       Vũ nữ Việt cổ đắm say trong Điệu múa cổ.

        Tôi mê mải ngắm hình tượng nàng nâng hai tay hai ngọn đăng hình hoa sen màu vàng. Xiêm áo màu xanh ngọc của nàng quấn quýt vờn mây. Nàng nhảy múa uyển chuyển trong làn mây bồng bềnh màu vàng pha sắc xanh nhẹ, tôn màu áo xanh ngọc của nàng. Tung xiêm áo vào mây. Thả hồn vào mây. Nàng chuyển động trong không gian xanh pha chút nắng vàng nhè nhẹ. Gương mặt nàng sáng rực, tròn trịa, viên mãn. Đôi mắt nàng nhắm tít. Không cần biết trời đất là đâu! Nàng cứ thế mà nhảy múa theo nhịp điệu Con Người rung động cùng Trời Đất.

        Tôi nâng “Điệu múa cổ” bọc rơm vàng mang về nhà, đặt cạnh màn vi tính của mình. Mỗi lần tôi viết, nàng dạo nhạc thổi hồn Mẹ Việt vào chữ của tôi.

        Tôi muốn gửi “Điệu múa cổ” tặng người bạn tri âm, tri kỷ- một nghệ sĩ dương cầm đang sống trên quê hương Mozart. Chiều mỗi chiều, buồn nhớ Hồ Gươm với “Giọt mưa thu” thánh thót rơi, anh lại truyền cho tôi suối nhạc, hồn thơ, trong trẻo, dịu dàng, hồn hậu, rạo rực yêu thương.

Nhưng phương trời cách trở, chưa biết đến bao giờ tôi có thể gửi được Điệu múa cổ từ Đất Mẹ về anh?

         Hoài Mai ơi! Hãy tìm cách chở những Điệu múa cổ gốm Mai đi khắp bốn phương trời tặng những người con Việt xa quê. Tặng bạn bè năm châu bốn biển. Họ sẽ nhảy múa cùng bàn tay nghệ thuật thôn làng Việt Nam. Họ sẽ thả hồn mình bay lên trời xanh cao, mây trắng lạnh, tìm về Đất Mẹ Việt Rồng-Tiên, trao duyên thắm.

        Chàng họa sĩ Hà Thành xây chùa làng và thổi hồn vào gốm. Chàng đang chầm chậm về với chính mình. Trở về cội rễ Minh triết Việt để vui sống và tỏa sáng tới cộng đồng, làng xóm Việt Nam.

         Bùi Hoài Mai thường lang thang đi vẽ khắp thôn làng đồng quê Việt. Anh đi vẽ và đi tìm vẻ đẹp đồ gốm cổ Việt Nam. Anh mê vẻ dáng, hoa văn, màu men gốm cổ truyền thống Việt, cái nôi xuất hiện đồ gốm vào loại sớm nhất Đông Nam Á. Mai đã viết nhiều đề tài nghiên cứu về đồ gốm triều đại Lý- Trần- Lê, giải mã hoa văn trên gốm cổ…

         Càng mê đắm gốm, Mai càng nhận thấy đằng sau vẻ đẹp bề ngoài ấy, người xưa còn gửi gắm nhiều điều sâu xa hơn. Từ những hoa văn khắc vạch trên một nồi gốm cổ mua của người thuyền chài nhặt được bên bờ lở của sông, Hoài Mai đã bị hấp dẫn bằng linh cảm. Anh dành thời gian, chiêm nghiệm, suy tư, đọc sách Đông- Tây, kim cổ về gốm và phát hiện những hoa văn trên nồi gốm gần như một thứ văn tự. Một dãy xếp các biểu tượng có hệ thống nhằm bộc lộ một quan niệm, một thế giới quan nào đó của cư dân Việt cổ. Thế giới quan đó là sự vận động hài hòa cân đối, giữa Thiên nhiên- Con người- Trời Đất và tín ngưỡng sinh thực khí, làm nên cuộc sống bất tận trên mọi bình diện. 

          Với khả năng suy tư minh triết và tình yêu gốm cổ đắm say ấy, Hoài Mai cùng dân làng Na thổi hồn vào gốm.

Gốm Mai phục dựng lại điêu khắc đình làng Việt cổ. Những tượng phù điêu bằng gỗ được phục dựng lại chất liệu gốm với những mảng để mộc, ánh lên màu đỏ hồng của đất nung, men gio tự nhiên với các sắc độ của cô ban, xanh lục, vàng ngà, đỏ bã trầu, ẩn chìm những đường vân rạn tự nhiên dưới lơp men.

        “Điệu múa cổ” của Mai tặng tôi ngập tràn âm thanh, sắc màu, nhịp điệu của sự sống chảy trôi không ngừng, của sự sản sinh trần thế và những linh hồn tái sinh trên mảnh đất Việt với những cánh đồng lúa nước. Đó là dòng chảy luân hồi và sự sống bất diệt trong quan niệm sống của người Việt cổ, nâng bước chúng ta đi cùng những Mùa Xuân luân hồi, mà ta đi khắp thế gian cũng không thể nào tìm thấy.

Hồ Gươm Mùa Vu Lan- 2010
© Tác giả giữ bản quyền.
Đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 09.08.2010.
TÁC PHẨM CỦA MAI THỤC CHỈ ĐĂNG TẢI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM Ở HẢI NGOẠI

Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com