Thiên Diễm Tình Trên Quê Hương Vua Lý



MAI THỤC

 

Thơ Hoàng Cầm giàu hương vị dân tộc và màu xanh đồng quê, bài nào cũng ngân vang nhạc điệu của tâm hồn. Bên bức tranh Đông Hồ, thi sĩ tâm sự cùng ta đôi điều về thơ ca:

- Riêng với tôi, thơ là thăm thẳm tâm linh chợt bật ra bằng tiếng nói hàng ngày. Những gì cao đẹp, chân thực và tốt lành nhất của đời sống con người hun đúc trong tôi từ lúc còn lên ba, lên bốn, mà hình như hun đúc từ những kiếp trước, từ trong giọt máu li ti của mẹ tôi hay của bà nội, ông ngoại tôi kia. Khi tôi làm thơ, có một trạng thái tâm hồn lạ lắm. Nó ở bên ngoài tôi. Nhớ lại khi tôi viết bài "Bên kia sông Đuống", vào lúc nửa đêm, đầu năm 1948 ở chiến khu 12, sau khi đến Bộ chỉ huy nghe cán bộ vùng phía Nam sông Đuống lên báo cáo về tình hình quê hương mình đã bị giặc Pháp chiếm, tôi về chỗ đóng quân (một túp nhà ven rừng tỉnh Thái Nguyên). Toàn thân tôi thao thức, bồn chồn. Tôi như bị đẩy vào khoảng trống mênh môngngổn ngang kỷ niệm từ nhỏ dại. Những gì trong trẻo nhất, thân yêu nhất, đẹp đẽ nhất cứ như đang lùi xa mãi và tôicứ như cố sức đuổi để bắt lại, níu lại, muốn ôm lấy tất cả để nuốt chửng vào trong cõi lòng chống chếnh của mình. Thế là tôi châm ngọn nến nằm lên giương nứa, đêm lạnh, không một mảnh chăn. Tôi viết đúng như vâng theo những tiếng ai gọi réo rắt bên tai. Viết một mạch, không bố cục, không định tâm diễn tả gì, không nhằm sẵn một mục đích nào, có khi mắt nhắm nghiền lại mà tay cứ viết, đến khi gà gáy tàn canh năm thì tiếng gọi ấy im bặt, và người tôi bỗng nhẹ tênh đi. Đến đó tôi mới đánh thức anh Nguyên Hồng, anh Kim Lân, anh Hoàng Tích Linh (ba anh đã ngủ từ chập tối, sau một ngày làm việc căng thẳng ở toà soạn báo "Quân Việt Bắc") và đọc bài thơ cho các anh nghe. Mới đọc được bốn năm câu thì nghe tiếng anh. Nguyên Hồng khóc nức nở, trước còn khóc se sẽ, sau rồi anh khóc oà cho đến khi tôi đọc xong, mặt anh vẫn đầm đìa nước mắt. Đến sáng, anh Nguyên Hồng, Kim Lân bắt tôi chép ra hai bản để các anh kịp gửi ngay ban giao liên chuyển đến Toà soạn báo Cứu Quốc (trong rừng sâu hơn nữa) do các anh Như Phong, Nam Cao, Tô Hoài biên tập.

Hai tháng sau (4/1948) thì bài thơ ấy ra mắt độc giả trên hai trang báo Cứu Quốc.

 Đấy là tâm linh tôi gọi tôi và bắt buộc tôi phải ghi chép thật nhanh những dòng điện báo từ sâu thắm của hồn quê và hồn người yêu, xót thương và tiếc nhớ, căm giận kẻ thù và tin ở ngày mai.

Bài thơ đã may mắn sống trong lòng người đọc đến bồn chồn. Ngày sau khi ta tiếp quản Hà Nội (1954) giáo sư Phan Ngọc đã nhất quyết đạp xe trên con đê Hữu Ngạn (bờ Nam) sông Đuống, đến Phả Lại - gần năm mươi cây số, cất để xem: "Sông Đuống trôi đi một dòng lấp lánh" ấy nó nằm thế nào trong không gian mà lại “nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ". Tâm linh tôi buộc tôi đặt con sông quê hương nằm nghiêng nghiêng, sai lôgíc vật lý, nhưng bạn đọc lại thấy đúng trong cảm nhận thơ. Về sau này, nhất là ở một số bài trong tập thơ Kinh Bắc, tôi cũng đã phải viết dưới sự đốc thúc khẩn trương của tâm linh như giải mật mã do tâm linh truyền xuống ngòi bút.

Ví dụ bài Lá Diêu Bông, cả kiến trúc bài thơ, từ bố cục, phân cảnh, nhịp đều đến kết cấu, tôi không có chút nào chủ động. Như từ cõi vô thức, toàn bộ bối cảnh và nhân vật của bài thơ như đã sắp đặt sẵn, trong cơn mê ảo, tôi viết một mạch trong đêm khuya chỉ có một ngọn đèn ngủ sáu Watt, một trang giấy trắng, một ngòi bút chì nằm bên cạnh vợ đã ngủ say, tôi không dám cử động mạnh. Những dòng bút chì có lúc đè lên nhau, nguệch ngoạc... chỉ vì trong khoảng thời gian hai năm ấy (1959 -1960) tôi cứ chìm trong tơi bời, ngổn ngang, bão táp của kỷ niệm thờithơ trẻ, trong cái nôi Kinh Bắc mà trội nhất là kỷ niệm về những mối tình. Hình bóng cô gái Kinh Bắc xưa sống dậy, đôi mắt nhìn thăm thẳm như an ủi, sẻ chia, như nâng tôi bay vào cõi mênh mông với một tâm hồn cao sang, trung hậu, đĩnh đạc, bản lĩnh, với tình yêu trẻ trung, mãnh liệt:

Xưa mẹ dối bà
Con nay dối mẹ
Tình không dối được nhịp cầu...

Tôi ghi tốc ký những lời điện báo chớp nhoáng, trong tiếng gọi xa xưa ấy, bởi nếu không ghi nhanh, chỉ vài phút sau là không thể nào nhớ lại được một câu nào nữa.

Tháng 11/1988, tôi vào Thành phố Hồ Chí Minh, gặp lại người con gái Kinh Bắc có đôi mắt mê cung thuở tôi mười hai tuổi, nay đã bảy mươi lăm tuổi, hiện ở Thủ Đức. Đó là nàng Thơ của các bài Lá Diêu Bông, Cây tam cúc.

Cỗ bài tam cúc mép cong cong
Rút trộm rơm nhà đi trải ổ
Chị gọi đôi cây. . .
Trầu cay má đỏ
Kết xe hồng đưa Chị đến quê Em

Xa cách nhau một đời người, bây giờ gặp lại vẫn tủi mừng xao xuyến mối tình xưa. Những tình cảm dồn nén cả đời người bật ra trong ánh mắt nhoà lệ, trong dáng đi ngập ngừng, giọng nói run run mà thuở xưa chưa kịp thết thành lời Tình yêu thủa ngây thơ đã nâng đỡ con người qua bão táp cuộc đời Thơ tôi đã ghi lại những mối tình có thật ấy.

 Lời Hoàng Cầm gợi mở việc cảm nhận thơ ông. Thơ ông có một màu xanh Kinh Bắc, biếc tình sử Việt Nam, cứ đau đáu kiếp người trong thời gian vô tận, những yêu thương, xót xa, những bâng khuâng, nhớ tiếc một điều gì tưởng như quá xa mà lại rất gần, một điều tưởng như mất hút mà vẫn hiển linh ngay trước mặt mà lúc nào ta cũng đeo đuổi, nắm bắt, có khi hẫng vào không gian, nhưng hơi thở ấm nồng, điệu nhạc buồn chơi vơi của nó cứ xao xuyến, vấn vít tâm hồn ta mãi mãi.

Đêm phương Bắc khi sao Hôm nhẹ khóc
Hương tím em về đậu giữa trang thơ

Hồn thơ Hoàng Cầm phải chăng là hồn người con gái đất Việt bảng lảng khắp thế gian. Hồn thơ Hoàng Cầm là hồn quê hương Kinh Bắc, nơi phát tích của triều đại nhà Lý. Kinh Bắc là quê hương vua Lý Công Uẩn, người đã có công dời đô từ Hoa Lư về chốn "Rồng cuộn hổ ngồi" để xây kinh thành Thăng Long - văn hoá Thăng Long gần nghìn năm trước. Nhà thơ Hoàng Cầm của thế kỷ XX đã làm sống đậy thiên diễm tình trên quê hương vua Lý để ngàn đời con cháu hiểu được văn hoá - tâm hồn - trí tuệ - cốt cách - tâm linh của Thăng Long - Hà Nội.

Đọc Lá Diêu Bông trong tập "Mưa Thuận Thành" của Hoàng Cầm (NXB Văn hoá, Hà Nội, 1990) chúng ta không hy vọng tìm được một ý nghĩa nào cụ thể. Chỉ biết càng đọc, càng thấy âm vang tiếng vọng của ngàn xưa, thân thương, gần gũi mà xa xôi vời vợi. Một nỗi nhớ niềm thương không cụ thể mà sao da diết quá!

Lá Diêu Bông xôn xao một thế giới riêng hư ảo, như thực, ẩn hiện giữa một không gian mênh mông của đồng quê Việt Nam.

Đồng chiều
Cuống rạ

Ở đó có bóng hình những người phụ nữ Kinh Bắc, mà làn da, dáng điệu, ánh nhìn thăm thẳm... đều toát lên ánh sáng của một nền văn hoá xưa:

“Mắt mê ảo, miệng cười nhẹ rung tơ
Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng...”

Thế giới ấy ngày nay chỉ còn tìm thấy qua những bức tượng người thiếu nữ dâng hoa lên cửa Phật tại Chùa Dâu. Thế giới ấy ngân rung làm chao đảo hồn ta qua những tiếng gọi:

“Diêu Bông hời
Ới! Diêu Bông!...

Tiếng gọi lẫn trong thời gian và không gian ấy bỗng chốc làm bừng sáng cả một vùng làng quê Việt Nam thảng thốt tiếng chuông chùa, những vạt nắng xiên khoai, những giọt mưa ướt dầm nắng quái... Ở đó có những bà mẹ, người vợ người em gái mỉm cười "trông nắng vãn bên sông", dệt nên một tình yêu để suốt đời chúng ta đắm đuối. Đó là tình yêu giống nòi. Lá Diêu Bông với những âm vang của nó đã gợi trong chúng ta tình yêu từ trong ẩn ức. Bởi vì Lá Diêu Bông chính là ẩn ức của Hoàng Cầm về một tình yêu đã mất. Nhà thơ Hoàng Cầm kể lại:                  

"Tôi vốn bị thần si tình chắp cánh quá sớm. Lên tám tuổi tôi đã đi trọ học ở trên tỉnh. Còn bố mẹ tôi ngụ trong ngôi nhà ven đường số I, cách thị xã Bắc Giang sáu cây số. Mẹ có gánh hàng xén nhỏ đi các chợ trong huyện. Bố làm ông lang bốc thuốc Bắc, thuốc Nam chữa bệnh. Lên tám tuổi tôi đã ngẩn ngơ đắm đuối bước vào ngưỡng cửa của tình yêu. Một lần từ tỉnh về, tôi thấy một cô gái sang nhà tôi mua phẩm hồng phẩm xanh gì đó, từ tám tuổi cho đến ngày nay mỗi khi nhớ lại tôi vẫn còn ngẩn ngơ. Người con gái đẹp ấy đã thu hết cả hồn vía tôi. Đấy là cô Vinh. Ba mẹ con cô từ dưới huyện lên Tiên Du. Vì cảnh nhà sa sút sau nkhi mất chồng, mất bố nên mới phải đi lên đấy, mở quán bán hàng vặt bên đường. Nghèo, nhưng cô Vinh đẹp, quá đẹp, chỉ mới đôi mắt đen láy, sâu thẳm thôi đã đánh chết đứ đừ thằng bé tám tuổi sớm si ngây. Sau lần gặp gỡ đầu tiên ấy, tôi đã viết ngay một bài thơ lục bát bằng bút chì xanh đỏ, lại còn tô hoa vẽ bướm đầu trang giấy học sinh để ngay chiều thứ bảy, đáp chuyến xe lửa từ ga Bắc Giang về phố nhỏ, tôi run run trao bức thư - thơ tình đầu tiên ấy cho cô Vinh, người con gái năm ấy đã mười sáu tuổi mắt mê ảo, miệng cười ngây ngất, răng đen hạt na, nhức nhối và trái tim cậu bé đã phải lòng…

Tôi cứ lẽo đẽo say mê chị Vinh cho đến năm mười hai tuổi. Chị thừa biết thằng em trai này nó ngoan ngoãn mê theo mình. Thường chị hay trêu đùa để cậu em phải đứng khóc, nhưng cũng có khi chị cho cậu em ngồi cạnh chị xem chị đánh tam cúc.

“Chị gọi đôi cây!
Trầu cay má đỏ
Kết xe hồng đưa Chị đến quê Em ".

Và em dẫu có ghé cây bài thì cũng chỉ là để ngửi hơi tóc ấm và cứ mong rằng giờ phút ấy thành vĩnh cửu. Em đừng lớn nữa chị đừng đi". Có một chiều sau vụ gặt tháng Mười, cánh đồng bát ngát cuối phố ấy chỉ còn trơ cuống rạ. Chợt thấy chị mặc áo trắng, yếm cánh sen, váy lụa màu kiểu Đình Bảng, nghĩa là buông chùng uốn lượn xuống mắt cá chân, chị thoăn thoắt đi ra cánh đồng. Em đi theo, vì suốt bốn năm ròng chị đi đâu thì em đi đấy. Chị đã tròn hai mươi tuổi mà em thì cứ phải tìm theo chị qua "cầu bà Sấm, bến cô Mưa" bằng cái tuổi mười hai ngây dại. Chị đi ra cánh đồng chiều. Em chỉ cách chị vài ba bước chân. Chị cứ thẩn thơ vạch bụi cây này bới cụm cỏ khác ở các bờ ruộng như tìm kiếm cái gì. Lúc này, chị là thỏi nam châm, em là cái kim nhỏ xíu. Cứ thế, chiều mỗi lúc một sẫm. Trời xanh thăm thẳm tháng Mười. Bỗng chị quay phắt lại mắng em. Tôi nhớ rõ lắm, giọng chị mắng mà không gắt, nó như lời gọi ai hoặc như lời than thở, lời trách móc dịu dàng; "Sao mày cứ lẵng nhẵng theo tao mãi thế ?. Em thấy nhói trong lồng ngực như nghẹn thở. Em không đáp. Chị lại đi tìm. Vẫn có em theo ngập ngừng hỏi: "Chị ơi, chị tìm cái gì thế"". Một lúc lâu nữa, chị ngẩng mặt lên rồi lấy ngón tay trỏ đập nhẹ mấy cái vào trán cậu bé, miệng hơi nhếch một nụ cười giễu cợt:

- Ừ tao tìm cái lá ấy. . . đấy!

Chị nói là cái lá gì bây giờ tôi không còn nhớ, nhưng lúc chị nói tôi hiểu rằng đó là cái lá rất hiếm, rất khó tìm tuy nó có thực trên đồng quê. Ngừng một lát, đôi mắt chị càng sâu thẳm hơn, đen như hai cái vực không đáy. Chị lâng lâng đôi mắt ấy, nhìn vào khoảng không mà trêu cợt em bằng một lời thách đố. Chị bảo: "Đứa nào tìm được lá...từ nay ta gọi là chồng".

Ôi chao, lời thách đố như một luồng điện rạo rực chạy run toàn thân. Và hình bóng lá cứ lơ lửng, lất phất, nghiêng ngả, chao đảo hồn tôi cho đến hết đời... để rồi gần ba mươi năm sau thì nó biến thành bài thơ Lá Diêu Bông. Sau cái buổi chiều đông ấy, tôi phải sống trong bồi hồi nhớ tiếc đến phát ốm, đến mất hồn hàng mấy năm nữa. Trước Tết năm ấy chị Vinh đi lấy chồng. Tôi đang ở nhà trọ trên tỉnh. Chị từ cái phố nhỏ lèo tèo mà ra đi. Tôi nào được biết. Đã cưới được một tuần, tôi về thấy vắng chị Vinh ngoài phố.

Tôi thật sự buồn. Cậu bé mười hai tuổi ốm đứng, ốm ngồi như vậy cho đến hết Tết âm lịch, cắp sách đến nhà trọ mà ngao ngán mênh mông như thất thểu một mình trong sa mạc. Vài năm sau tôi thấm thía câu thơ của Lamartine trong tuyển tập Văn học Pháp thế kỷ XIX:"Vắng một mình em mà tất cả thành hoang vu tĩnh mịch".

Chị Vinh đi rồi. Tôi cứ hết ra lại vào nhìn sang phía chếch bên kia đường. Thấy tôi sầu não quá, mẹ tôi biết, hẳn là biết đến đáy ruột gan đứa con trai đầu lòng của mình, bèn kể chuyện mong tôi vui lên: "Trước hôm về nhà chồng, nó sang chào u, nó bảo lấy chồng xa thì nhớ em Việt lắm, khi về nó còn dặn u rằng bao giờ em lấy vợ, u cho nó biết tin, nó sẽ về mừng cưới em đấy". Nghe mẹ kể, tôi khóc nấc lên. Nỗi nhớ cồn cào như xé ruột. Nỗi nhớ ấy cứ dai dẳng, bám theo tôi suốt cả cuộc đời. Bỗng một đêm nó bùng cháy thành bài thơ Lá Diêu bông. Trên giường ngủ , ánh sáng đèn lờ mờ, tôi nghe như có giọng con gái đọc rất nhanh bên tai mình câu thơ thứ nhất và cứ văng vẳng  cho đến dòng cuối cùng. Vì vậy ba tiếng “Lá Diêu bông” thì cũng xuất hiện như các tiếng khác. Còn tại sao nó là cái lá Diêu bông thì chính bản thân tôi cũng không biết. Tôi không nghĩ tìm chữ, tìm ý, không hề phải bố cục cầu kỳ khu rắc rối gì cho bài thơ này, nó cứ văng vẳng bên tai như tiếng một con suốt thần nào vang động từ đáy thẩm sâu của kỷ niệm. Tôi chỉ có việc tuân lệnh  mà viết ngang, viết dọc, viết rất nhanh, có khi dòng nọ đè dòng kia, sang hôm sau cũng vất vả lắm mới tách được chữ nọ với chữ kia, câu này ra câu khác. Đó là tuân lệnh suối thơ thần trong bóng tối lờ mờ của một đêm sống lại hết mình với tình yêu và kỷ niệm thời thơ trẻ, thì làm sao có thể giải đáp đầy đủ cặn kẽ về cái Lá Diêu Bông.

Thời gian và hoàn cảnh, mọi kiếp sống ở đời đã tàn phá hủy hoại biết bao nhiêu chứng tích quý giá của tình yêu và cái đẹp. Nhưng thơ ca và nghệ thuật đã tái tạo lại thế giới xưa đã mất. Lá Diêu Bông chính là sự tái tạo tuyệt vời ấy.

Sau khi được biết mối tình Lá Diêu Bông,người đọc  thêm yêu mến thơ Hoàng Cầm, nhất là với tập “Mưa Thuận Thành”. Bởi vì mỗi bài thơ tình của ông đều là “sự vang động vô thức” về một tình yêu đã mất.

Chị gọi đôi cây
Trầu cay má đỏ
Kết xe hồng đưa Chị đến quê Em

(Cây tam cúc)

“ Đấy cũng là hình ảnh của chị Vinh đó thôi” Hoàng Cầm nói như vậy. Và với một giọng đầm ấm, giàu âm điệu, nhà thơ kể về đoạn kết của mối tình Lá Diêu Bông:

Ngày tháng qua đi. Ngày ngày tôi cắp sách đến trường tỉnh với cái bóng chị Vinh như ảo ảnh, như thiên thần trước mặt . Tôi vẫn mong một ngày nào đó, chị Vinh trở về, nắm tay tôi đi tìm chiếc Lá Diêu Bông trên cánh đồng chiều. Nhưng chị Vinh không lần nào trở về cái phố ga Như Thiết ấy nữa. Vì nửa năm sau khi chị đi lấy chồng , thì mẹ con bà Chư cũng từ biệt cái phố nghèo đi đâu tôi không biết. Chỉ nghe mẹ tôi kể rằng  bà Chư về ở với con gái, con rể, vì bà đau yếu luôn, lại nghèo. Con rể bà đâu như một  viên quan trại lính khố xanh mãi tận Phủ Lý. Đấy là hình ảnh:

“Quan đốc đồng áo đen nẹp đỏ
Thả tịnh vàng cưới chị võng mây trôi”.

trong bài thơ “Cây tam cúc” viết trước bài “Lá Diêu Bông “ một đêm.

      Năm năm sau, nghĩa là lúc tôi đã thành “người lớn” , đã bước vào nghề văn bằng một số truyện ngắn và thơ đăng trên “Tiểu thuyết thứ bảy”, tôi có gặp lại chị Vinh . Vào khoảng năm 1940, tôi mười tám tuổi, làm việc cho “Tiểu thuyết thứ bảy” tại Hà Nội. Một hôm, có việc tôi đáp tàu xuống ga Sen Hồ nằm trên trục đường số I. Ở đây phố đông hơn cái phố ga Như Thiết lèo tèo nơi tôi và chị Vinh từng sống ngày xưa. Nhưng cũng có những túp lều bán nước giống như túp lều của mẹ con chị Vinh năm ấy. Tôi đang thơ thẩn dạo phố, bỗng bồn chồn dừng lại căn nhà lá hai gian  nằm sát bên đường. Ai như chị Vinh  ngồi bán nước trên chõng tre…Tôi bàng hoàng giây lát;

- Có phải chị Vinh không?

Chị nhìn tôi, đôi mắt rơm rớm:

- Em đấy à. Vào đây.

Tôi bước vào nhà, lòng đầy ái ngại trước cái nghèo xơ xác thảm thương. Chị Vinh của tôi bây giờ tàn tạ hẳn đi, đôi mắt đen thăm thẳm buồn, váy lụa cũ, áo nâu bạc màu, làn da xanh xao, khuôn mặt hốc hác, không còn vẻ hồng hào tươi tắn ngày xưa. Bóng chị xiêu diêu bên người mẹ già trong túp lều tranh nghèo trông thương lắm. Chị Vinh kể chuyện, giọng lạc đi:

- Chị lấy chồng vất vả lắm em ạ. Thôi bây giờ mẹ con chị lại về đây kiếm ăn vậy.

Nghe chị nói tôi càng xót xa nhớ tiếc về đời người con gái kiêu sa đã mất. Tình yêu đam mê thuở thơ ấu của tôi với chị giờ đây cũng đã mất. Tôi chỉ thấy thương tiếc, xót xa mà không có cách gì cứu nổi. Tôi ngồi chơi trên chiếc ghế băng. Khoảng mười lăm phút thì có tiếng còi tàu.

- Thôi có lẽ tôi phải đi đây.

Chị Vinh thảng thốt:

- Không, không, cậu đừng đi, cậu ở lại đây chơi với chị đến mai.

Tôi đứng dậy. Chị Vinh cầm tay tôi níu lại như cố lấy lại cái quý giá đẹp đẽ ngày xưa, đang hiển hiện giữa giây phút này, chỉ trong phút chốc thôi, sẽ tan biến. . . Hôm ấy, tôi mặc bộ complet màu xanh lá cây, đi giày Tây, ra dáng một thanh niên đàng hoàng, hiện thân của tuổi trẻ, sắc xuân và tình yêu. Đối với người phụ nữ hai mươi sáu tuổi, bị ruồng bỏ này, đây là phút giây hạnh phúc nhưng đầy bất lực và tuyệt vọng" - "Không, không, cậu đừng đi... Ở lại đây với chị...". Tiếng chị Vinh cứ nhỏ dần, yếu đuối và buồn thảm làm tôi vô cùng ái ngại.

Như thấu hiểu nỗi lòng đứa con gái không được hưởng trọn một phút giây hạnh phúc, bà mẹ từ trong nhà ra lên tiếng:

- Thôi, hôm nay cậu ở lại đây chơi. Hai chị em nấu cơm ăn đi, mẹ có việc phải vào làng đây.

Bà cụ đi ra. Chỉ còn lại chị Vinh và tôi. Chị nói với tôi, giọng xúc động lắm:

- Vào nhà nằm nghỉ tạm đi, mình vo gạo thổi cơm nhé.

Tôi vào nhà trong, im lặng ngồi vào một góc giường. Chị Vinh lúng ta lúng túng, ra ra vào vào, loay hoay, ngập ngừng, bối rối. . . Rồi chị ngồi cạnh tôi, ôm ghì lấy tôi như là níu lấy sự sống sắp mất đi. Chị hôn tôi, chi chít, nước mắt ứa ra. Không lời.

Tôi lúng túng, ngượng ngùng, thương và xót, không biết xử sự thế nào. Im lặng.

Đêm tối (8h), không thấy bà mẹ về. Chúng tôi ăn cơm tối. Còn chuyến tàu 9h đêm, tôi kiên quyết đòi ra về. Không? Không thể ở lại đây đêm nay. Tâm trạng tôi rất rành rọt, trước một người phụ nữ, không còn những rung động của tình yêu, chỉ có sự tiếc nuối, xót thương thì không thể xảy ra những cử chỉ yêu đương nồng thắm. Không thể dối nàng. Không thể để nàng dấn thân vào đau khổ. (Mặc dù có thể đối với chị Vinh, đó là những phút giây hạnh phúc cuối cùng của cuộc đời). Nhưng ở chị, cũng không có cử chỉ khêu gợi, mà chỉ là tiếng nấc tuyệt vọng của một trái tim khao khát được yêu.

9h, bà mẹ vẫn chưa về, hình như đêm đó bà có ý dành cho chúng tôi. Thấy không giữ nổi tôi, chị Vinh gục vào tay khóc nức nở "Đừng về". Chị vừa khóc vừa ghì chặt lấy tôi "Ở lại đây. "

Tôi bất lực trước cảnh buồn thảm và tuyệt vọng này, muốn ra đi thật nhanh. Chúng tôi thảng thốt thầm thì trống không với nhau:

- Nếu ở lại, mình cứ thương mãi thế này thì khổ lắm.

- Nhất định về à? Thế bao giờ cưới vợ đấy?

- Chưa có chuyện gì cả.

- Ừ thôi, về đi vậy, hôm nào mình sẽ viết thư.

Tôi gỡ tay chị Vinh, nhào ra đường trong tiếng còi tàu hối hả giục giã... Tôi về Hà Nội, năm hôm sau thì nhận được bức thư tám trang chị Vinh viết bằng bút chì, chữ mờ, chữ tỏ "Vinh bây giờ nhỡ nhàng, cũng tàn tạ nhiều rồi mà Việt thì đang tuổi lớn khôn đẹp đẽ. Mình biết phận mình kém lắm. Nhưng nếu chúng ta cứ làm bạn với nhau như ngày xưa ở phố Như Thiết, những đêm trăng hát quan họ hay những lúc chơi bài tam cúc... Vui thế mà Vinh phải đi lấy chồng. Lúc đi lấy chồng, Vinh nhớ chuyện ngày xưa, nhớ Việt lắm, nhưng có người hỏi, mẹ già yếu, nhà người ta lại giàu . . . "

Tôi thương chị Vinh lắm, nhưng không yêu được nên đành im lặng. Nửa tháng sau, chị lại gửi cho tôi cái thư nữa, đến cái thứ ba thì thôi. Mãi đến cuối năm 1954 Hoà bình lập lại. Tôi đã là sĩ quan quân đội. Một hôm, tôi đạp xe qua phố Lò Đúc, bỗng thấy một người đàn bà có đôi mắt thăm thẳm đi bộ bên kia đường, lòng tôi bỗng thấy xốn xang, tôi dừng xe quay lại đuổi theo người đàn bà ấy.

- Có phải chị Vinh không?

Người đàn bà khoảng bốn mươi tuổi, quê mùa, tàn tạ ngước nhìn tôi. Như có một luồng điện sinh học chạy qua cả hai người, chúng tôi nhận ra nhau:

- Anh là anh Việt à. Nhà tôi ở gần đây thôi. Hôm nào anh lại chơi.

Chị Vinh nhìn tôi, rồi lại cúi xuống ngay, bối rối như muốn chạy trốn:

- Ô chết, tôi phải đi vội. Hôm nào anh đến chơi nhé. Chưa đầy một phút, chị Vinh biến đi. Bóng chị nhanh chóng lẫn vào đám những người đàn bà nông thôn trôi dạt ra thành phố kiếm ăn. Tôi đứng lặng vì xót thương. Hình ảnh người con gái Thuận Thành "long lanh mắt ướt" vụt về bóp nghẹt trái tim tôi. Nàng ở tuổi đương thì thơm hơi ấm ổ rơm. Nàng kiêu sa trong đám hội Lim với giọng hát quan họ 'Rung suốt dây si, nhịp quá mê". Nàng đi đến đâu bừng sáng đến đấy. Thế mà giờ đây, nàng tàn tạ nhanh như thế. Cái đẹp đã mất, tình yêu đã mất. Nàng không muốn nhớ lại cái bóng đẹp đẽ ngày xưa của mình. Nàng chạy trốn quá khứ - chạy trốn kỷ niệm... Còn tôi, tôi muốn giữ lại giây phút thần diệu ngày xưa bên người con gái Kinh Bắc quê tôi:

Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm
Em đừng lớn nữa, chị đừng đi"

(Cây tam cúc)

Vì vậy trong tập thơ Mưa Thuận Thành ta luôn luôn bắt gặp hình ảnh nhiều màu, nhiều vẻ của người phụ nữ miền Trung du Kinh Bắc duyên dáng và ý nhị, đằm thắm và sâu sắc như chuyện tình của Lá Diêu Bông.

Những bài thơ tình đặc sắc nhất của Hoàng Cầm ngoài hình ảnh "thiên thần" của chị Vinh, còn vang bóng chị Nghĩa, cũng thơ ngây, trong trắng, thánh thiện như mối tình Lá Diêu Bông.

Hoàng Cầm nói:

- Nếu các bạn tưởng tượng rằng tôi là một "hoàng tử" đã sinh ra đứa con đầu lòng giống tôi nhất - những bài thơ tình - Thì vậy tôi là bố, còn mẹ nó, vợ tôi, ngôi chính Phi là chị Vinh, ngôi thứ Phi là chị Nghĩa, cùng với nhiều ngôi khác nữa nhưng không sáng chói bằng. Trong bầu trời xứ quê Kinh Bắc hiển hiện qua tập thơ "Mưa Thuận Thành"và nhiều tập thơ khác nữa, tôi chịu vâng theo các vì sao của bản mệnh yêu thương. Cái yêu thương Kinh Bắc rất vương giả, mà dân dã, nồng nàn mà sâu lắng, thắm thiết mà lửng lơ từ hai mối tình thơ trẻ ấy. Nó ngưng đọng rồi tuôn trào đến mức "hoàng tử" cũng không biết mình "đi đâu về đâu chỉ còn là một cậu bé cầm chiếc Lá Diêu Bông đi vào vô định, nghe gió Kinh Bắc nghìn xưa đến mai sau cứ gọi mãi cái bóng long lanh, lúng liếng mà chới với của hai mối tình ngây thơ xanh dại . . .Và nhà thơ lại say đắm kể về mối tình với chị Nghĩa bằng phong điệu rất thơ của mình:

- Sau khi “chị Diêu Bông" ấy đi rồi, tôi vẫn đi học. Rồi mười ba tuổi tôi đỗ tiểu học, lại sang thị xã Bắc Ninh học bốn năm nữa. Lại vẫn là đi trọ học. Năm 1943, bố mẹ tôi cũng rời bỏ phố ga Như Thiết lên tỉnh lỵ Bắc Giang, lúc đó gọi là phủ Lạng Thương, vẫn mở hiệu thuốc Bắc. Mẹ tôi cũng vẫn bán hàng xén. Gia đình tôi lúc này có phần khá giả hơn ở phố làng, nhưng tôi đã mất chị Vinh rồi, lại mất luôn cả cánh đồng chiều, mất những đêm trăng quan họ, mất con vành khuyên, con chào mào... nên khi sang trọ học bên tỉnh lỵ Bắc Ninh, tôi như có tâm trạng một kẻ tha hương, lạc xứ. Sang năm thứ ba của bậc cao đẳng tiểu học thì tôi bèn về trọ ở một gia đình nguyên vẹn tính cách đồng quê, nhà bà Cửu làng Đại Tráng, cách trường học của tôi hơn hai cây số. Hôm tôi đem cái hòm đến nhà bà Cửu ở giữa làng, thì một tình cờ (hay sự bố trí của số mệnh, của duyên nợ?) đã khiến tôi run rẩy, tuy cái luồng rung cảm này không đến nỗi là sét đánh như khi gặp chị Vinh năm tôi lên tám . . . Hiện ra trước mắt tôi là một người đẹp lạ thường với mắt bồ câu, môi trầu thắm đỏ, lại cũng hàm răng hạt huyền đen nhánh, thêm đôi má lúm đồng tiền. Lại Chị. Tôi đã sang tuổi mười lăm và chị lại vẫn lớn hơn tôi tám tuổi, y như chị Vinh. Thoáng như tia chớp, trước mắt tôi, đấy là chị Vinh tái hiện. Tên chị gọi thân mật trong nhà là Bống. "Cái bống là cái bống bang, mẹ bống yêu bống, bống càng làm thơ". . . Câu hát ru thuở nào mà hiện thành người ở đây, ở đúng cái tên của chị Nghĩa, hai mươi ba tuổi, đã có nhiều quan tham, quan phán trên tỉnh đến thăm hỏi nhưng theo lời bà Cửu "Nó cứ nhìn ai cũng như muốn đuổi người ta đi! Ấy cứ kiêu kỳ thế rồi không khéo ế chồng đấy con ạ". Từ hôm đầu, hình như chị Bống coi tôi cũng như hai em của chị.

- Này cậu Việt, về ăn cơm rồi còn đi học chứ!

Và tôi, cái run rẩy ban đầu đã qua, cũng không thấy xao xuyến gì thêm. Một chiều mùa thu, tôi đang học, chợt nhớ ra là mình bỏ quên cuốn sách dưới nhà ngang, bèn chạy xuống tìm... Chưa đến cửa, chợt nghe một giọng hát rất nhỏ, nhưng vẫn rõ lời, một điệu quan họ:

Gió giục cái đêm đông trường
Nửa chăn, nửa chiếu, nửa giường để đó chờ ai.

Tôi sững lại - Tiếng hát của chị. Tôi nhẹ nép bên tường, ngó vào qua cái mành tre buông - Hình như chị mới gội đầu, đang soi gương, hong tóc. . . và se sẽ hát. Chị mặc cái áo lụa mỡ gà, dòng tóc chảy như suối xuống gần đến đất đen óng cái huyền diệu, bí ẩn phương Đông. Tôi bồi hồi, nhưng lát sau, tôi mạnh bạo, rất nhẹ tay vén cái mành, rón gót bước vào. Chị Nghĩa đang hát, bỗng dừng lại. Hình như chị đã thấy tôi qua chiếc gương. Chị có vẻ lúng túng, nhưng lại đứng né ra, vẫn soi gương chải tóc. Nhưng cái lược thì hững hờ mà đôi mắt thì sáng ngời trong gương, đôi mắt đăm đắm nhìn mặt em trong gương (vì chị đã né ra nên mặt tôi cũng có chỗ rộng rãi trong gương, một vẻ mặt chắc hẳn là si ngây, vì đã bị đôi mắt chị thôi miên qua lớp kính dày không mảng bụi).

Tôi đứng không nhúc nhích. Rất lâu, rồi chị từ từ quay lại đôi mắt nhìn tôi, không chớp. Rất lâu. Tay chị và cái lược như đứng sững giữa dòng tóc. Im lặng... cứ thế mà cả hai chị em cùng sững sờ đứng lặng.

Có một tiếng gà gáy chiều. Thời gian như ngưng lại.

Tôi lúng búng mấy lời:

- Chị... Em xuống... lấy... sách học?

Chị không nói. Chị đến gần tôi, cầm lược chải mớ tóc rối bù của tôi, miệng mủm mỉm cười, càng mủm mỉm thì hai lúm đồng tiền càng đẹp. Tôi nhút nhát, e thẹn định quay đi, thì chị níu lại:

- Không lấy sách à? Chị đã cất lên bàn học cho em từ trưa cơ mà. Giọng nói của chị cứ như nước suối ngọt, thấm đến ruột gan.

Cũng từ hôm đó, chị đã cuốn em vào cái thế giới tình yêu thứ hai này. Khác với mối tình Diêu Bông, chị là người chủ. Trong mối tình đầu tôi dẫu tám tuổi, tôi đã chủ động: gửi thư, thơ và chị đi đâu em theo đấy. Đến lần này tôi đã mười lăm, ranh giới của hai lứa tuổi. Tôi lại nhút nhát, nên không một lần nào dám nói một lời yêu, mặc dẫu, nhiều lúc trào lên những đợt sóng say mê rất náo nhiệt trong lòng, mà bên ngoài hình như tôi cố lảng tránh. Ở chị Vinh, tôi cứ phải đi tìm. Ở chị Nghĩa, Bống cứ tìm tôi. Tôi chạy thì Bống theo, túm lại bằng đôi mắt không chớp, bằng miệng cười má lúm đồng tiền. Và dĩ nhiên, cậu con trai nhiều đam mê này không thể thoát khỏi cái thế giới Bống bang đầy sức mạnh cuốn hút...

Và đây là một chuyện mà đến bây giờ tôi vẫn nhớ như vừa xem trong một đoạn phim thật xúc động. Cuối năm 1937, ông cụ thân sinh của chị Nghĩa, ông Cửu Đạt vừa mất. Nhà có tang. Nhiều nghi lễ, nhiều khách khứa kéo dài ba ngày liền. Tôi vẫn phải đi học, nhưng ở nhà không có chỗ ngồi làm bài, nên có những trưa, những chiều, tôi phải đem sách, bút giấy ra bờ tre sau nhà. Chị Nghĩa trong y phục đại tang: mũ mấn, vải xô trùm kín đầu, dây chuối thắt ngang lưng, quần xô, vẫn phải trông nom mọi việc: bếp nước, cỗ bàn và phải có mặt ở mọi việc tang lễ. Nhưng hình như chị cố tránh việc, mà tôi đi đâu thì Bống theo đấy. Tôi ra bờ tre ngồi học, Bống đến tận nơi, xem tôi làm bài một lúc, rồi mới kéo tay tôi - về nhà đi cậu, rồi còn ăn cơm chứ!

Tôi về nhà, chả biết đứng đâu, ngồi đâu trong cái đám tang tất bật. Nếu tôi cũng phải ngồi ở một chỗ nào đấy trong sân đã dựng rạp thì Bống cũng theo đến. Không nói chuyện gì được thì Bống chỉ đứng nhìn. Vẫn là cái nhìn không chớp qua màn vải xô thưa. Đến mức, một chiều tối, Bống đang đứng gần tôi, cứ đờ người ra mà nhìn cậu em, thì tôi bỗng giật mình nghe một tiếng thét the thé:

 - Chú ba đâu! Nọc cái con Bống ra mà đánh cho nó một trận chứ đời thuở nhà ai như nó không? Bố chết nằm sờ sờ ra đấy mà suốt ngày đờ mặt ra nhìn thằng con giai. Tôi hoảng hốt chạy mất. Đâu như chú Ba có gọi Bống gì đấy. Và người thét lên câu đó chính là bà Chánh, cô ruột của Bống. Nhưng khi hai người đã có sức quyện vào nhau đến thế, đâu dễ gì tách được ra. Quả nhiên đến tối, Bỗng vẫn quanh quẩn bên tôi và vẫn cứ nhìn tôi không chớp mắt.

Sau đám tang, Bống càng quyến luyến tôi hơn. Tháng giêng, rét căm căm, Bống thường biết giờ tôi về học buổi chiều. Vào giờ ấy, Bống ra đầu ngõ, giả vờ cầm cái đòn gánh hoặc cái liềm, đón Em.

- Em ướt hết áo ngoài rồi đây này. Nhanh lên. Vào với chị, vào bếp ấy, đang đun cám, ngồi mà sưởi đi em...

Chị dắt em vào bếp, cho thêm củi hoặc đùn thêm rơm.

- Em đã đói chưa? Này, ăn tạm mấy củ khoai, chị nướng sẵn, còn vùi dưới tro ấy. Cởi áo ra, chị hong cho khô đi nào. Hai má chị càng hồng hào, mắt chị càng sáng, tiếng nói càng ấm, càng thấm. Về khuya. Tôi và các bạn làm bài xong, thấy Bống cầm cỗ bài tam cúc lên - Nào các cậu ơi, chơi mấy ván đã. Chị đã giã xong hai cỗ gạo, bây giờ phải chơi tam cúc với các em. Mà thực ra là cuộc chơi với một Em. Chị thì thích kết xe hồng. Em thì mê xe hồng thành đôi. Lên bài có đôi xe hồng, em sung sướng hơn có đủ cả tướng sĩ. Nếu chỉ có một cây xe hồng lẻ loi thì em cứ gạ đi đêm. Đi đêm mãi, rút phắt cả tướng điều, sĩ đỏ mà đi đêm, chỉ mong sao bắt được cả một cây xe hồng để bài em có đôi.

Em đi đêm tướng điều sĩ đỏ
Đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em

Chúng tôi đánh bài không bằng tiền mà bằng đẹt má, đẹt tay. Em cứ thích thua để chị cầm một cây bài đẹt vào má. Có lần em kết bộ ba đen, chị chui, nhưng trước khi chui, chị hé cho em biết là của chị bộ ba điều, chị muốn thua em để em đẹt lại vào hai má lúm đồng tiền của chị..

Chao ôi! Sao trong mỗi đời người, những giờ phút như vậy lại quá ngắn ngủi và chóng tiêu tan vào gió mưa, cát bụi? Gần hai năm sống gần chị, Em không bao giờ vượt quá cái giới hạn, cái khoảng cách mà hình như duyên số đã định. Chị, dĩ nhiên là phận gái, không dám dấn thêm bước nào khác. Em nhút nhát, si ngây, cũng giữ phận Em, không dám bước vào vườn cấm. Nhưng hai năm liền, chị đã tích luỹ cho em tất cả những bâng khuâng, day dứt, những đường nét sắc màu đằm thắm, sâu sắc mà dai dẳng... Những nỗi buồn rất xa mà rất gần gũi, là những nhịp điệu hiện lên trong hầu hết những bài thơ và kịch thơ của tôi. Đặc biệt có bài Cây tam cúc, Theo đuổi, Cỏ Bồng Thi Mưa Thuận Thành được bắt nguồn sâu nhất ở cái men rất say và rất xanh từ miệng cười chị Nghĩa.

Sau hai năm sống êm đềm trong cảnh:

Tướng sĩ, đỏ đen chui sấp ngửa
Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì"

ở nhà chị Nghĩa thì tôi phải dọn lên tỉnh trọ, vì làng Đại Tráng cách trường hai cây số.

Trước đây, tôi vẫn đi nhờ xe với cậu Kỷ, em họ chị Nghĩa (tôi không có xe đạp) nhưng không hiểu sao tự nhiên hai đứa giận nhau, tôi bỏ làng ra đi, phần vì tự ái, phần vì phải lo bổn phận học hành. Hôm tôi đùng đùng bỏ đi, chị Nghĩa can không được, ôm vai tôi khóc nức nở:

- Chị đã bảo đừng đi, sao em cứ đi?

Im lặng. Lúc này tôi mới thấm cảm giác nỗi đau chia lìa, tôi như muốn quỵ xuống. Nhưng chí nam nhi giục bước chân tôi, gỡ tay chị Nghĩa, tôi nói trong nước mắt: - Rồi em sẽ về thăm chị luôn.

Nói là về thăm chị nhưng suốt một thời gian dài, không chủ nhật nào tôi về được vì còn phải ôn thi. Tôi kém toán lắm, nếu không học cố thì trượt mất. Sau khi tốt nghiệp, tôi lại phải ôn thi vào trường Bưởi... Mùa hè năm 1938, ông bố Kỷ viết thư mời tôi về dự đám cưới Kỷ. Tôi về dự đám cưới chưa trọn một ngày. Hôm ấy chị Nghĩa bận cỗ bàn tiếp đón khách khắp trong họ ngoài làng nên lúc tôi đi chị Nghĩa vẫn nấu cơm. Tôi vào bếp chào:

- Chị Nghĩa ơi, em về đây.

Chị Nghĩa tay cầm đũa cả, hai má đỏ hồng ra xao xuyến lắm:

- Tưởng em ở lại chơi vài hôm, bận gì nữa. Thi đỗ rồi mà.

Rồi chị oà khóc giữa sân.

Sau đó không lâu, được tin Kỷ tự tử, tôi về làng Đại Tráng dự đám tang. Đôi vợ chồng mười tám đôi mươi này lấy nhau không vì tình yêu. Kỷ đang đi học, ông bố lên gọi về cưới vợ. Không ngờ, sau khi cưới, họ yêu nhau đắm đuối đến mức chết rồi mà còn cuốn lấy nhau. Mọi người kể rằng đang tuần trăng mật thì bố Kỷ bắt cậu phải lên trường đi học (ông ta dữ lắm). Tối hôm ấy, hai vợ chồng nhảy dây trong sân và nói gở với người nhà:

- Chúng tôi sẽ sang thế giới khác yêu nhau thôi. Ở đây người ta không cho chúng tôi yêu nhau.

Rồi hai đứa bình tĩnh dắt nhau ra cái giếng đầu làng như một cuộc dạo chơi dưới trăng. Trước cái giếng làng đường kính hai mét, sâu thẳm, trong vắt, hai đứa xếp dép guốc ngay ngắn đặt bên thành và ôm nhau bước xuống đáy nước. Sáng hôm sau, cả làng đi tìm. Trẻ con phát hiện được guốc dép, mọi người mò lên, hai vợ chồng vẫn đang ôm nhau rất chặt. Tóc của Thuỳ xanh muốt quấn quýt vào tai, vào cổ chồng như dây tơ hồng, không thể nào gỡ ra được. Trong túi áo Kỷ có mẩu giấy, chữ nhoè "Xin cho chúng tôi một mồ".

Thiên diễm tình này gây cho tôi một chấn động kinh hoàng về suy tư và cảm xúc: "Sống là gì? Chết là gì? Tình yêu là gì?"

Ở đám tang, tôi không gặp chị Nghĩa. Lúc tôi chuẩn bị lên tàu, chị Nghĩa bỗng từ đâu tới, nắm tay tôi, vẻ mặt xanh xao, buồn rười rượi, nước mắt rơm rớm:

- Nhiều lần chị giữ em mà không được. Lần này, chị chẳng biết giữ em bằng cách gì. Em đừng để chị sau này cũng giống như em Thuỳ nhé.

Cảm giác yêu thương, đau khổ vì ly biệt như đốt cháy cậu con trai mười sáu tuổi trước lời yêu nồng cháy của thiếu nữ hai mươi bốn tuổi "Tua khăn buông còn buộc búphoa lan”  Tôi chỉ còn nghe “ù ù gió thổi", dám đâu một lời ước hẹn:lo

Chị đưa em đến bên này
Cheo leo mỏm đá. . .
Trước vực
Sau khe
Thòng lọng tơ gì quấn gót"

(Cỏ Bồng Thi)

Nỗi đau sinh ly ở lần chia tay cuối cùng này làm tôi hoá đá:

“Không trôi mà không đi. . .
Em vọng ai đâu mà hoá đá"

Sau đó, chị ra Hà Nội với mẹ, buôn bán hàng tấm ở chợ Hàng Da, lấy chồng rồi theo mẹ, theo chồng vào Nam. Năm 1988 tôi gặp lại chị Nghĩa ở Thủ Đức. Thế là đúng nửa thế kỷ (1938 - 1988), sau khi đã đi "đầu non, cuối bể" tìm lá Diêu Bông... Sau năm mươi năm qua cầu bà Sấm, bến cô Mưa ". . . "Ngó rừng xanh Em hỏi ngọn nguồn"... giờ đây, Em lại "nghe hoa tím hát".

Năm 1987, có một bà tên là An Thái ở Thủ Đức ra tìm đến nhà tôi hỏi:

- Ông có phải là Hoàng Cầm không?

- Vâng đúng, thưa bà.

- Ông có nhớ cuộc đời ông có một người phụ nữ tên là Nghĩa không?

- Tôi làm sao quên được.

- Tôi là bạn thân của bà Nghĩa, ở cùng phố, cách nhau ba, bốn nhà. Bà Nghĩa tâm sự với tôi về ông, nhiều chuyện lắm, tôi không cần phải nói chắc ông cũng hiểu. Trước khi ra Hà Nội, bà Nghĩa dặn: "Sau năm 1975, tôi có nghe tin Hoàng Cầm mất rồi. Bà hỏi hộ xem ông ấy mất thế nào? mất ở đâu? Nếu nhờ giời ông ấy còn sống thì tìm gặp bằng được và nói với ông ấy rằng tôi là Nghĩa, suốt nhiều năm qua, tôi không bao giờ quên ông ấy. Nếu còn sống, chắc Hoàng Cầm sẽ vào thăm tôi..."
Bà Nghĩa hay đọc cho tôi bài Lá Diêu Bông từ những năm 1962 kia, và bảo bài này ông làm là vì bà ấy, có đúng không?

Bỗng tôi bàng hoàng nghe tiếng "gió quê vi vút gọi",tiếng vọng của tình yêu đã mất ấy, có ngờ đâu, lại giúp tôi tìm lại được tình yêu. Giây phút này, tất cả bỗng bừng sáng một vùng quê Kinh Bắc:

Lung liêng hồn liệng quỳ khe núi
Van suối trần tâm khép nép về .

Năm 1960, tôi sáng tác Lá Diêu Bông Cây Tam cúc trong hai đêm liền chả in ở đâu cả, có một vài anh em chép rồi chuyền tay nhau, nhiều người thuộc.

Chẳng hiểu duyên nợ thế nào mà hồn thơ tôi tìm về với bà Nghĩa. Và trong tay bà Nghĩa Lá Diêu Bông được chắp thêm cung bậc, có cánh thần kỳ của tình yêu, bay suốt thời gian, bay suốt không gian.

Sáu tháng sau, bà Thái ra Hà Nội lần thứ hai, báo rằng bà Nghĩa mừng rơi nước mắt và đưa cho tôi bức thư của bà Nghĩa. Thư ngắn thôi, nhưng có nhiều câu hay "...

Sau khi Việt đi rồi, đời tôi coi như hết. Đành sống như mọi người vậy thôi. Nhưng tôi không sao quên được những ngày xưa ở làng Đại Tráng. . . lúc ấy sao mà nhát thế. . . sao mà đẹp thế. . . "

Năm 1988, tôi vào thăm chị Nghĩa. Phút gặp lại, tuy hai chúng tôi đã già, nhưng vẫn tủi mừng, xao xuyến một tình yêu. Chúng tôi gọi nhau bằng "ông" và "bà" nhưng sẽ sàng, âu yếm lắm. Đôi má lúm đồng tiền xưa, nay đã dăn deo, nhưng đôi mắt, miệng cười vẫn rạng rỡ nét xưa.

Nhưng điều gây lạ lùng trong tôi là khi gặp con gái bà Nghĩa. Cô có hai con mắt lung linh gấp mười lần đôi mắt chị Nghĩa xưa, mà tôi gọi là "mắt mê cung". Cứ ai nhìn vào đôi mắt ấy là lạc, không biết mình đang ở đâu. Đôi mắt loang loáng như nước lúc trong suốt, lúc đục ngầu như phát ra những đợt sóng nhẹ nhàng hay dữ dội. Người xa lạ nhìn vào choáng ngợp đâm sợ. Tôi đã từng được nhìn nhiều đôi mắt đẹp, nhưng không thể tưởng tượng được cô Tế (tên chồng hay tên thật của con gái bà Nghĩa, tôi vô tình không hỏi rõ) bốn mươi lăm tuổi, có năm con rồi mà vẫn đẹp mê hồn đến vậy. Một điều kỳ lạ là Tế bằng tuổi Hải Yến, con gái tôi. Tôi thầm thốt lên: "Ôi! Tiền kiếp".

Cô Tế mặc áo dài, quần trắng, dáng điệu quý tộc, đến chào tôi:

- Thưa bác, con là con gái mẹ con. Con biết bác lâu lắm rồi, do mẹ con nói. Nhất là những bài thơ tình của bác, con đã thuộc từ lâu. Riêng bài Lá Diêu Bông con và mẹ con thích lắm, nhưng chắc là không thuộc được đầy đủ. Lần này, con xin bác chép lại cho con. Giọng cô lúc đầu hơi cảm động, sau càng nói, nước mắt càng giàn giụa. Tôi xúc động, lúng túng không biết nói gì. Tôi có cảm giác hình như Tế với Yến là hai chị em sinh đôi. Mối nhân duyên tiền kiếp giữa hai cái hồn Kinh Bắc (hồn tôi và hồn chị Nghĩa) đã sinh ra cô gái Kinh Bắc đẹp tuyệt trần này. Nàng là hiện thân của đời sống tâm linh giữa chúng tôi.Cuộc hôn phối tâm hồn có sự chuyển giao tinh tế, thiêng liêng đến không ngờ ? Cô Tế quyến luyến, chăm sóc tôi như một người bố đi xa về. Từ động tác xới cơm, gắp thức ăn, đến những lời nói ngọt ngào, những giọt nước mắt. . . Cả đến cái ý định hệ trọng của đời cô:

- Bác ạ, con muốn đi Canađa, không muốn ở đây nữa.

- Sao con lại đi, ở đây đang làm ăn tốt, con đi làm gì cho khổ, mà mẹ con có đi không?

- Không, con đi một mình.

- Thế thì con không nên đi. Con đi để mẹ con một mình à?

Tế khóc, không trả lời.

Ở Thủ Đức từ sáng đến chiều tối thì tôi về Sài Gòn.

Tôi nói với mẹ con bà Nghĩa:

- Tôi đã vào đây, thế nào tôi cũng còn đến nữa. Tế chạy vội vào buồng: - Bác chờ con một tý.

Một lúc sau, Tế chạy ra, đưa cho tôi một phong bì, ngập ngừng, lúng túng:

- Con biếu bác để bác chi tiêu thời gian ở Sài Gòn.

Tôi lúng túng. Bà Nghĩa nắm tay tôi, giọng cảm động nhưng rành rọt:

- Thôi, ông cứ cầm lấy cho con nó mừng.

Tôi nghẹn lời. Tế nước mắt lã chã hai hàng. Tế là con gái tôi, đang thay mẹ chăm sóc tôi. Và cô khóc cho mối tình của mẹ hay là khóc cho cả chính mình. Tôi rưng rưng nhớ lại vòng quay của kiếp người. Vòng luân hồi.

Lần thứ hai tôi trở lại Thủ Đức, tôi chép lại ba bài thơ:

"Lá Diêu Bông', "Cây Tam cúc , "Quả vườn ổi", và lời đề tặng cô Tề:

"Con là con gái của bố từ kiếp trước. Bố chép những bài thơ này tặng con.

Đó là hình tượng tình yêu - một tình yêu vĩnh hằng của bố và mẹ con từ những ngày mẹ con hai mươi tuổi ở vùng quê Kinh Bắc..."

      Thiên diễm tình trên quê hương Kinh Bắc hay quê hương vua Lý ngàn năm sau, ngàn năm trước vẫn là tình yêu. Yêu chao đảo cả đất trời. Tình yêu đã nâng con người Việt Nam vượt lên bão tố, xích xiềng để lại sống lại yêu. Yêu nhau để vượt lên cái chết.



Trong tập TINH HOA HÀ NỘI của MAI THỤC - nxb Văn Hoá Thông Tin
 
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa gởi từ Hà Nội ngày 27.06.2010.

Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com