Ảnh của tayho.gov



























MỘT NGÀN NĂM HÀ NỘI



VŨ HỮU TRÁC



KẾT

Hà Nội đã mấy lần thay tên vì nhớ, vì tình. Không ai một lời đáp cho ta, chẳng ai cho ta biết được từ đâu? Có ở nơi đâu, có chỗ để quên, để ta không còn đau đáu. Hãy chỉ cho ta. Ngôi sao kia lấp lánh ánh sáng mà chẳng thể sẻ chia, cho dù, sao là một tính cầu lạnh giá. Uớc gì ta như hổ dữ, chỉ mãi say đứng uống ánh trăng tan, bên dòng suối reo lóng lánh ngàn vàng. Uớc gì ta như nai tơ mơ, ngơ ngẩn trong rừng thu, lá vàng đầy, để quên, để cố không nhớ cái không thể nào quên - Hà Nội.

Đường phố dài bớt rộn bước chân, ai còn đang chờ bên bữa cơm chiều. Mùi xôi nếp mới, chiều thả bay từ đôi bàn tay nhỏ. Một bóng thoáng cười, xoa xuýt nóng bừng đôi môi, đôi má đã hồng như quả anh đào mà vẫn còn đọng mùi thơm hương sữa ngọt. Nước hồ vẫn xanh màu lá, bồng bềnh say lên con sóng, cứ lăn tăn mỗi khi cơn gió thổi, thỉnh thoảng lại phẳng lì cho cây soi bóng nước. Vẫn thướt tha bóng người con gái mịn trắng, bước chân chiều tà, vương vít cây lộc vừng chín gốc quây quần thả những chùm hoa lấm tấm xuống hồ. Nét hoa sẫm cùng màu môi thiếu nữ hé nở, đến hồng đỏ cả trong gương nước Hồ Gươm.

Đài Nghiên Tháp Bút ngắm nhìn màu mực nào tô đậm xanh đến lạ lùng cả hồ Lục Thuỷ, đang lan hết bóng nước còn chấp chới chút nắng vàng. Hoa Sưa nở trắng ngần, trắng tuyết. Hoa Sữa vi vút lòng, trả hương say trải trong gió lúc chiều. Đôi ba cây Gạo vốn nhớ gốc gác quê xa, gợi chút lửa hồng rực thu sang. Bằng lăng tím ngát nao nao, cây Tếch oai phong mải mê ghi dấu thời gian đọng trong từng thân gỗ đã ôm không xuể. Cây Cọ xoè tán lá mặt trời trung du đung đưa, cây Sung đứng trên dốc đá núi Độc Tôn, cây Nhội, cây Bàng, cây Sấu tất cả đứng nhìn theo kẻ đang tìm kiếm lơ mơ lạc bước, mong tìm gặp một lần biết có nên duyên.

Trăng lên, vẫn chỉ nơi gặp gỡ thân quen, điểm trang nhẹ như nàng Nguyệt nga xuống trần, ngượng ngùng xõa dài mái tóc, liễu mềm đua nhau rủ cành lá, che gót sen ai đang nhẹ bước bên bờ. Cả trái đất này ở nơi nào có được, nỗi nhớ đến giật mình đêm Ngọc Sơn trong tết đào hoa, nụ hoa hồng phấn trắng còn phong kín những cánh mong manh.

Ngửa cổ lên, trăng Kinh kỳ lấp lánh trên cao xa, hắt trên đỉnh tháp xưa phong trần ngay đấy. Lục Thuỷ khi xưa nối liền với Sông Cái theo đường Hàng Khay, Bà Triệu, với cụ Rùa chỉ còn là kỷ niệm. Tháp Rùa yêu dấu còn đó trong mơ. Kỷ ước xa xứ từ nhỏ, từ lúc sinh thành, lúc chưa hiểu được hồn ngời, đã nhìn đã thấy, đã tạc khắc vào nơi sâu thẳm. Kỷ vật đượm nỗi nhớ cả triệu kẻ lãng du, dù ở đâu trong dằng dặc mưa bay tuyết trắng, hay trong cát bụi lôi cuốn cuối trời xa. Tiếng lòng đâu sâu thẳm thinh không. Chỉ Rùa cụ vẫn bình thản bơi. Tất cả không đâu có được một chút nhô lên trên mặt nước, cái đỉnh mũi Rùa khổng lồ so với đàn con cháu chắt nước ngọt. Trách nhiệm Rùa đã hoàn thành đúng vào ngày rằm tháng tám tròn trăng đẹp nhất. Gươm báu đã trả, đã chấm đứt chiến tranh. Rùa lên nơi tháp nghỉ ngơi, nhắc nhở minh chứng cho một thời.

Từ đâu đang tới, những đám mây trời tung bờm trắng thiên mã trên cao, cùng Thăng long uốn khúc trong bao la, bay cao vùng vẫy giữa đất trời, để cùng thăm bên thú nơi Biển Đông rộng trùng khơi sóng vỗ, để Hạ Long tắm mát, ngắm nhìn. Cái Rồng âu yếm nhìn con đang cúi lạy trước lúc được trả vào Biển Đông. Kẻ bái Tử long đứng trước mẹ, đang ước được tung mình trong những con sóng nước oai hùng. Kẻ nhiều lần nghịch dọa bên người em gái Bạch long vốn kín đáo e lệ, làm một chút đuôi trắng hồng nhô hẳn lên cao trên sóng Biển Đông.

Lẩn thẩn bước chân vòng quanh, đếm mãi. Đếm trọn đủ cửa ô năm cánh sao bay. Đếm cả đến con đường hoa sữa Nguyễn Du, đường sấu biếc bốn mùa mướt xanh Trần Phú, Phan Đình Phùng, đường sao đen vuơn giữa trời đêm Lò Đúc, đường chò nâu Hùng Vương, đường muồng vàng hoa nắng Huỳnh Thúc Kháng, đường phượng rực đỏ hè Lý Nam Đế, tím ngát cả bóng bằng lăng Hàng Bông, Thợ Nhuộm. Có lẽ nhớ nhớ quên quên trong đời kiếp con người, cũng là lẽ thường tình.

Đêm thu lạnh, bóng trăng in lồng bóng nước, có cả bóng người và tiếng xuýt khà. Vài bóng co ro trên ghế đá Hồ Gươm bên chén trà nóng hổi. Hỏi ra mới biết chỉ vì lâu ngày, chỉ vì nhớ cái rét đêm thu Hà nội mà ở trần uống trà Bắc Thái cho nóng, ngồi co ro uống cho hả cơn khát lúc về đêm.

Tiếng xe muộn về Ô Quan Chưởng, ai chia tay về Ô Đống Mác. Ngõ nhỏ nghiêng xe tạm biệt nhau, phố nhỏ nhà ta ở đó đang sáng lên đèn cửa sổ. Thinh không lắng lên một tiếng đàn. Nghe dư âm trong gió, tiếng hát ai trên lầu cao đê mê đêm Hà Nội nhớ nhung, phố phường đỏ mắt đèn đêm chờ đợi người thương chưa về.

Từ đâu nơi cái vòng xoáy ốc Hà Nội cứ mở rộng dần vòng, nền mặt rộng mãi ra, cái lõi vẫn nguyên tròn một cốt xưa, cao thẳng cứ mãi lên. Hồn người, tình cũ truyền đời vẫn vậy. Tình yêu Hà Nội vẫn một làn hương không đóng kín e ấp, cứ mỗi ngày một dâng cao lên, giao hoà nga ngất, tròn trặn nồng nàn, suốt chiều dài hai nghìn năm ấy.

Hà Nội có đến bốn mươi chín người con của Lạc long quan, Âu cơ tụ hội về thành. Quá đủ để kết thành đôi lứa, nhưng vẫn còn lẻ một. Năm mười mốt nơi khác nối về, gặp gỡ kết liền, giúp sức lên thành người Hà Nội. Tứ xứ hội lại, phong tục, lề thói mỗi nơi theo cả. Hà nội nhân ái, chung sống quần cư, dần dà thành láng giềng hàng xóm, nương tựa hòa đồng. Những cái còn từ sự chọn lọc, những cái tốt đẹp là cốt lõi cho sự sống. Những cái dở có đi theo sẽ rơi rụng, bào mòn. Nơi đây phát triển tốt hơn nơi khác là một sự hiển nhiên. Nơi đây còn là nhân ái trong cả đa diện, đa màu.

Từ xưa có đến trên sáu chục phố nhà mang chữ “Hàng” một thời Kẻ chợ, về sau gọi khuyết đi thành Ba sáu phố phường. Nghệ nhân bốn phương tài hoa khéo tay tụ về. Cái phi thể được chứa trong cái hữu hình. Hà Nội tạo nền vật chất cho văn hoá trở nên đậm đà, câu ca, điệu múa Hà thành tím sẫm chất dân gian. Tượng đồng đen Trấn Vũ đền Quán Thánh, chỗ móng chân tượng ai cũng lấy khăn xoa lên mà lau mặt, ấy là sẽ qua hết mọi khổ đau, giờ đã bóng nhấy mà càng đẹp đến mê hồn. Thợ đúc đồng Ngũ Xá đã làm lên từ thế kỷ XVII không biết sau, ai còn có thể theo cùng. Cái tài hoa Kinh kỳ thật lạ, cái sắc thái đất Thăng long bao lần biến động mà không lai tạp, mà càng tinh xảo hoàn mỹ đến tuyệt vời.

Từ lâu con người đã lên với phố, thì sống với phường. Vòng xoay cứ mở rộng địa giới. Nhưng mà có ai đó vẫn sợ bị đem nước mắm pha lẫn với đường. Còn ra thể thống thế nào, thì trước hết cũng phải không ích kỷ mới được.

Người chọn Hà Nội thì nhiều, Hà nội chọn người thì ít. Người Hà Nội ít nhất có hai quê, không đời cha thì có đời con, đời cháu, hai quê còn là ít. Nhiều nhà Hà Nội đóng cửa cả ba ngày tết, về hẳn quê hưởng tết.

Hiển nhiên khi tiếp nhận vốn văn hóa dân trí bốn phương, sự pha trộn nào chẳng còn mang cả cái văn hóa bản địa quen thuộc, có cả cái thiếu tôn trọng các giá trị tinh thần, đạo lý trong ứng xử. Hà Nội không thiếu “Nhà quê”. Mà thật lạ, năm nào cũng có, đời nào cũng có. Ấy thế mà tranh Phố Phái, thử vẽ bỏ cô gánh hàng rong ở quê lên phố, thử bỏ chiếc xe đạp, xe xích lô lỉnh kỉnh, hay thử thay mấy cái mảng tường gạch đã có chỗ bong vữa đi, thì còn có ra gì! Người Đan Phượng “tâu tắng” uốn cong tiếng cho thành “trâu trắng”, khó học thành thạo tiếng Tràng An nói lộn chữ “lờ”, Con gái ngườì Thái Bình chuyên “ranh rới, rổ rá” lên Hà Nội lại thích học chữ “dổ dá” Tràng An.

Tất nhiên không thiếu thứ nói năng dấn dố, có cơ duyên ở chỗ cái sân gạch nhà mình, đang phóng xe lạng lách vù vù, tự nhiên dừng phịch giữa đường chống chân gọi bạn. Quen cái phóng xe giữa đường làng, không có ngã tư, không dừng đèn đỏ. Có kẻ nói đùa, đèn đỏ là để dành ưu tiên cho cán bộ đi trước. Khi phóng xe lên một đoạn quay lại nhìn cười “ Hà Nội Thủ đô ta, mà cũng ít cán bộ, hề!”. Hễ thấy gì lạ là hỏi liền. Thấy biển hiệu trên phố hỏi luôn “Nó viết cái chi ?”. Nhà cao chất ngất, ngửa mặt hỏi “Cái nhà gì thế?” khi biết cái là nhà để ở, lại lè lưỡi “ Thế thì ở với chim à, nó đổ vào đầu thì chết”. Chốn rượu bia, kẻ quen ăn sóng nói gió ở quê, cứ kiên trì ầm ầm thứ tộc ngữ “Con mõi nó cắn vào chin tau ngá xót”, ít người hiểu là con muỗi nó cắn vào cái chân không giầy, không tất làm tao ngứa sót, mà chắc còn có nhiều người bên cạnh, phải ngỡ ngàng. Đành rằng là thể thống, nhưng ở đâu đó Hà Nội ai thấy gì hay, dễ giao hòa thì cũng nên theo, mà lời nói thuyết phục không nhất thiết phải cứ ầm ầm, cướp ngang.

Dòng đời được chắt lọc trau chuốt, cái gì không biết thì rồi sẽ biết. Có cái được nâng niu, đặt vào trong khung cảnh văn hóa Kinh kỳ mà thành ra nếp sống Tràng An. Không ai người Hà Nội bảo phở họ Cồ Nam Định dở hơn, bảo lươn Nghệ An, bún bò giò heo Huế là kém. Ai bảo bảy món cầy tơ, món cá sông Hà Nội hơn hẳn Việt trì, món vịt Cỏ Vân đình, món ốc hấp gia vị thuốc Bắc không bằng. Tất nhiên những món ấy cùng với bún thang, bánh cuốn Thanh Trì, bánh cốm Hàng Than, giò chả Uớc Lễ, cốm làng Vòng, Chè sen được làm ra đến độ tinh tế như vậy, thì cứ thế mà thành Hà Nội.

Hà Nội từ trang điểm phục sức, đi lại giao tiếp, ứng xử thưởng ngoạn nghệ thuật đều tề chỉnh, không buông tuồng. Vui đùa mà không tếu táo thô tục. Nói trước cười sau, cô gái Hà Thành duyên dáng, tiếng nói trong ngần, môi chúm chím hồng nụ Hải đường mơ ước. Hàm răng trắng trong đều tắp cánh Trà mi, thế mà vẫn bị mẹ nhắc nhở vì vừa quên sơ ý. Cũng là vui đùa ốn ào nhưng vẫn rõ cái thanh tao.

Hà Nội còn lắng lại ký ức gắn bó máu thịt, ngàn vạn sinh linh, ngàn vạn lần kiếp con người đã nằm xuống mảnh đất này. Những cuộc chiến tranh tuy đã xa rồi, những người mẹ con gái Hà thành gốc làng hoa Kinh đô, bao lớp tiễn con lên đường diệt giặc ngoại xâm. Năm xưa làng Ngọc Hà, người mẹ quàng chiếc vòng dây bằng bạc vào cổ đứa con để kị gió như hồi còn bé. Chàng tân binh có khuôn mặt thiên thần khi đó đã cao hơn bố, Anh lính trẻ ria mép còn đầy những lông tơ, ngắm nghía vòng dây bạc gắn cả chiếc chìa khóa cửa nhà ấy, rồi cho hẳn vào bên trong áo quân phục, hiểu ra điều từ đáy lòng mẹ, sẽ mãi theo con ra trận như một lời cầu ước, sẽ chờ con sau chiến tranh về, con cứ lấy mở cửa vào nơi mẹ vẫn hằng đợi con. Tiếng của người bố quê miền trung, lẫn trong máy bay Mỹ gầm rú. Người bố vừa dặn dò con trai ngay gần chỗ xác pháo đài bay Mỹ B.52 rơi, vừa kể : “Bữa ni, có hai cái tàu bay cành tày (cánh bằng), hẳn mần hai cấy tên lả, xuống kẹ cấy nhà máy nác. Rứa là hẳn, mần chết hai con tru với một ngàì”. Thế rồi cả ba ôm lấy nhau lặng im trước lúc chia tay.

Chàng trai năm nào cùng đồng đội đã chiến thắng, nhưng có người đã không thể về gặp lại mẹ. Tượng đài đã không thể ghi hết tên những người chiến sỹ chân dép cao su anh hùng ấy, họ đã đứng lên bất khuất, tên họ đã thành Hà Nội. Đài tưởng niệm những anh hùng vô danh Bắc Sơn, Ba Đình, hương trầm thơm ngát, họ đã thành tên đất nước, thành Hà Nội bất tử.

Hà Nội cũng đặc biệt như con đê thần thánh được xây đắp từ đời nhà Trần bằng sức mạnh thần kỳ Sơn tinh. Thăng Long từ hai ngàn năm lắng đọng hồn sông núi, sẽ ngăn lũ xây thành tạo dựng văn minh bằng nghị lực và cả tâm trí của người Hà Nội.

Hà nội muôn đời, Kẻ chợ vẫn đây. Ơi Thăng long, Đông đô vẫn thế.

Chiếu dời đô viết:

“…Huống chi thành Đại La đô cũ của Cao Vương ở khu vực giữa trời đất, có được thế đất rồng cuốn, hổ ngồi, chính vị đông, tây, nam, bắc, tiện nghi, phía trước là sông, phía sau là núi. Khu vực ấy rộng rãi, bằng phẳng. Đất ở đấy cao ráo, sáng sủa, dân cư không bị ngập chìm tối tăm khổ sở, muôn vật thịnh vượng, tốt tươi…

Thế là đã một nghìn năm Thăng Long rồi, kể từ khi thuận theo lẽ trời, theo lòng dân, vua Lý Công Uẩn đã dời đô, lập lên một nhà nước thống nhất ở Thăng Long, cũng là khẳng định chấm dứt thời kỳ những tiểu vương quốc thế kỷ thứ thứ X với các hoạt động quân sự chống phá lẫn nhau, để lập nên một nhà nước vĩ đại thống nhất, trong đó có kể đến vai trò của Thiền sư Vạn Hạnh và Phật giáo có vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh và chính trị ở Việt Nam - Bắt đầu từ Hà Nội.

Hà Nội mạch thủy tụ hội về, mây lành bao bọc, khí chất giao hòa tinh tuý. Đúng giữa Kinh thành Thăng Long xưa, giờ xây Nhà Quốc Hội, thẳng tắp hướng Nam trên cùng một Kinh tuyến là Thiên trù, Chùa Hương (Bếp tiệc trời) và Bái Đính, (cùng tọa độ kinh Đông 105,50,10,10 E). Chỉ cần quay mặt theo hướng la bàn chính Nam, tĩnh tâm, nhắm mắt là ta đã hoan hỉ, có cố đô ở ngay trong lòng mình.

Hà Nội như một ước ao bao đời người, ai ai cũng thế, chỉ một lần gặp mà tương tư mãi, mà thấp thỏm chờ mong đến si mê.

Bình minh một ngày mới. Cố đô, phố nhỏ, ngõ nhỏ nơi chiêm nghiệm ấy, phía xa những căn nhà vươn cao lên chọc trời. Khuôn mặt thành phố mới trai tráng rực rỡ sắc màu, đang lộ rõ những bộ ngực phẳng như khối đá tảng. Mây lỡ bay tạt vào cửa sổ, những khung kính ẩn hiện sẫm màu trời như chốn Sa Pa lưng chừng trời núi. Ở nơi ấy trên những con đường rộng lớn, đoàn ô tô, đèn xe phản chiếu cùng những tia nắng đầu tiên, bừng đỏ cả một chân trời.

Chẳng thiêng liêng sao được! Khi ai xa cao, bay lên trên cả chín tầng mây. Mỗi lần nghiêng cánh bay chào cái lô nhô yêu dấu đang sáng lên những tia nắng sớm, phải chia xa những thứ phía bên dưới kia, ai chẳng khỏi nức lòng trong mỗi chuyến công du.

Sáng rồi, hồng rực nét tô son trên những mái lô xô thâm nâu, trên những công trình mới nguy nga. Mộng ước kiếm tìm lời giải đáp đã theo đi cùng chút sẻ chia đêm đắm say, đang trôi trên những đám mây bồng bềnh lấp loáng những vệt hồng tía. Biết là không thể trả lời, không thể hỏi ai. Nhưng sẽ có một ngày Thăng Long, Hà Nội trả lời tất cả. Chỉ biết từ trong lòng mình Tình yêu cứ thế dâng lên.

Từ nơi cửa sổ ngôi nhà thân thuộc, từ con sóng hồng mặt nước thân quen, từ cơn gió thoảng sớm mai đang tràn vào cửa sổ. Từ ngàn năm, là tất cả hồn mình.



Tháng 11 năm 2009.




© Tác giả giữ bản quyền.
.Cập nhật ngày 19.06.2010 theo nguyên bản của tác giả gửi từ Hà Nội .

XIN VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM KHI ĐĂNG TẢI LẠI