Ảnh của dangcongsanvn



























MỘT NGÀN NĂM HÀ NỘI



VŨ HỮU TRÁC



Sông Hồng thẳng một sợi chỉ chảy về châu thổ đồng bằng, bên bờ hữu ngạn Hoàng Liên Sơn cùng đồng hành từ Lào cai như không muốn rời xa. Sông đỏ nặng phù sa ra đến biển, trên thuyền trôi tập nập ngập trong sóng, sáng bừng lên gương mặt người.

Đến thượng nguồn Phú Thọ đất tổ bốn ngàn năm dựng nước, sông uốn ngược hẳn lên dưới chân núi Phong Châu, cúi đầu chào Tiên vương Hùng Vương, đoàn thuyền ai cong cong qua đoạn Việt trì xuôi về khoảng trời đang mở ra rộng rãi xanh ngắt.

Cánh đồng hai bên vàng rơm mới rực lên. Hương lúa tràn lên vụ gặt, hương say cả làng quê, cả Đường Lâm ngập trong nắng. Sông lấp lánh vàng, hướng mặt trời hắt đổ lên thành cổ Sơn Tây vuông vức bốn mặt, hắt lên trên mái chùa Thày, Tây Phương. Chỗ nhà Hành cung, nơi chay tịnh dăm ba ngày trước khi vào lễ Trời, thỉnh Phật những mái ngói đang sẫm đỏ lại. Nắng soi lên cổng Tam quan ba cửa Tam không, như ngẫm nghĩ trong cái có có, không không luân hồi. Ai lại để hồn sau chén lâng lâng giữa dòng tấp nập.

Con người cùng đoàn thuyền đầy lâm sản, trái cây đang hòa vào dòng sông xuôi về Hà Nội.

Bờ tả ngạn, rẽ sông Đuống thăm vùng Kinh Bắc hội Lim, qua phía Đông Bắc chỗ cả sáu dòng sông chụm đầu ở Phả Lại, về với sông Cầu. Điệu múa cùng tiềng đàn cầm cất lên, Sông một dải bóng nước lẫn trong sóng gợn lơ thơ, lẻ loi chờ đợi bóng người. Câu hát thuyền quyên chưa nên uyên ương, thì ở đừng về, câu hát trôi về bến Đáp Cầu.

Chỗ Quy thành cổ sáu cánh Bắc Ninh, trên cột cờ xưa, lá cờ lễ hội đuôi nheo to lớn bay phấp phới. Chỗ diễn ra cuộc đọ sức quyết liệt trên sông Cầu giữa quân nhà Lý, Đại Việt đánh quân Tống nhừ tử, kinh hoàng rút chạy. Phòng tuyến Như nguyệt ngày ấy vẫn vang vang lời thơ của Lý Thường Kiệt “Nam quốc sơn hà” đêm trăng nào. Nhà bia Văn Miếu ghi danh sáu trăm học sỹ và biết bao danh nhân Kinh bắc cứ bừng sáng lên.

Đình Bảng, các cụ bô lão ngồi trên chiếu trải sàn gỗ cao ngất trong đình lại đang khuyến dụ lũ con gái phải têm trầu cánh phượng, làm cánh xòe cho đẹp, mặc áo tứ thân cho nâu thật sậm, che vạt những tà ngũ sắc rực rỡ bên trong. Liền anh ngân nga câu quan họ thương nhau. Liền chị tay ngà, nghiêng nón rộng quai thao, tà áo xanh như cây trúc bên đình.

Bà chúa Chè trông chờ chẳng thấy Trạng Bịu đem trầu cau sang, buồn vui xen lẫn, làm đồi Chè xanh lục cả Bắc Ninh, trải dài nỗi nhớ đến xanh lam tới tận Bắc Giang. Nhưng xanh sẫm mãi, vẫn là nỗi nhớ từ một tình say cùng Hà nội.

Không ai để ý thấy cái hồ hởi của một ánh cười, thoáng trong đôi mắt đang ngước lên nhìn trời. Hà Nội nơi Kinh kỳ thứ nhất, cánh chim trời loáng bay cùng cơn gió, để trời rộng mãi ra. Mây trắng muốn lại dừng chỗ sóng nước đang dạt dào dưới bến thuyền Long Biên. Sông khát khao cho đến lúc Con người đã lớn đầu. Vẫn cứ muốn nhảy ào xuống dòng sông cho phù sa thấm đẫm cái mát lạnh vào da thịt, để thoả thuê nỗi nhớ sau mỗi chuyến xa nhà. Thuyền đậu lại ngóng lên bờ, trông về phía Hoàng thành, Ai đấy bỏ quên con thuyền bỏ quên mất cả đoàn đông đúc đang tiếp xuôi về phía hạ lưu. Con người nhảy ùm xuống vẫy vùng, ngụp lặn cho hả cơn thèm nhớ.

Dưới Thanh trì dài đến bến Chương Dương, cửa Hàm tử bên Hưng Yên, dòng sông mê hoặc vòng chiếc thắt lưng hồng quanh eo nàng tiên nữ Hà thành, mơn trớn ước ao dăng mắc tình si. Bên kia bờ, chốn thứ nhì nổi tiếng phố Hiến, Hưng Yên miền Đông Nam, tập nập tầu bè bến Yên Lệnh, Triều Dương. xưa kia đầy những thuyền buôn nước ngoài, trong nước. Một nhánh dòng sông, bị quyến rũ ở lại tạo nên hồn Phố Hiến trong mát. Chỗ Bãi Đê, Bãi Sậy giờ ngút ngàn vải Thiều, quả nâu sẫm mầu thiền, Lệ chi đằm đằm ngọt lịm, dâng trào nỗi khát khao.

Cầu Đông, đình Bắc, chùa Đoài níu giữ, nhưng lòng nhớ phương Nam. Sông Đáy, đong đầy tấm lòng trong xanh cùng với trời mây. Hẹn gặp trên Chùa thơm Hương sơn, mà e thẹn không nói. Lẫn trong sương chiều rừng trắng hoa mơ hương ngát, thấp thoáng bóng tóc đuôi gà. Cô gái hái mơ, đẹp đến lạ lùng, sao cứ lặng đi rồi khuất bóng, để rừng chiều hiu hắt lá mơ rơi.

Từ cao xa, dãy Hoàng Liên sơn ra khỏi lớp sương mờ che lấp Sa Pa chạy theo thuyền trên sông Hồng về, thấp dần xuống. Tưởng như đã dừng chân lại chốn đèo Phù Yên, Sơn La, lại tiếc nuối chạy theo, qua đường 6 Hòa Bình để dừng lại chỗ sông Đáy, Hà Nam. Trên đỉnh cao, phía Bắc sườn khuất lẫn trong mây, Chùa Hương ngập trong rừng trắng hoa mơ. Dãy dưới chân bên suối Yến Vĩ, núi như đàn voi đông đúc đang chạy hướng về, một con chỗ núi Mâm Xôi quay đầu chạy lại, sét đánh sạt mất một bên sườn. Núi đứng lặng nhìn, ngay sườn phía Nam, sông Hoàng Long, Ninh Bình đang uốn khúc. Chỗ Cố đô Hoa Lư đang vào lễ hội. Núi nhấp nhô cùng sông bao bọc cả một vùng rộng lớn. Phía đầu rồng Hoàng long hướng thẳng lên phía Bắc đến kinh thành Thăng Long nơi khí lành bảo phủ, mây ngũ sắc đang trùm về. Trường Yên cố đô, thế mà đã sắp ngàn năm.

Phía Nam sông nơi Đinh Tiên Hoàng đóng đô, dựa theo lợi thế trùng điệp của núi, làm nên thành trì chất ngất, căn cứ địa quân sự một người địch cả trăm người. Lễ hội rước Dương Vân Nga ở đền vua Đinh, vua Lê tràn về các thung lũng. Tiếng trống kỳ lân dục dã vang các thung lũng hồ, mặt nước rộng ra, xuyên qua chân núi, thông liền lại với nhau. Hồ Cửu Sơn uốn lượn qua lại, luồn qua chân núi giữa hang Ba giọt. Chỗ chân núi soi bóng, nước trong không thể xiết. Cả đoàn thuyền tam bản, cờ xí rợp trời như bồng bềnh trong mây. Các loài rong thủy sinh uốn ượn đùa rỡn với đàn cá con loang loáng những chiếc vảy hồng, chào đón khách lãng du. Hang Rượu, hang Ba giọt ở cố đô Đại Cồ Việt, nước hứng từ bầu tiên nhũ đá, uống mà say mềm lòng hơn rượu. Khi xưa Lý Công Uẩn mang theo ruợu bầu tiên về chốn Thăng long để uống, mỗi lần nhớ về dải đất khi xưa Tiên đế cờ lau tập trận, lập lên các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê, Nguyễn cả gần nghìn năm tự chủ về sau.

Trên đồi Bái Đính (Đinh bái), nơi người con trai của Thứ sử Châu Hoan Đinh Công Trứ - Đinh Bộ Lĩnh lạy mẹ trước lúc ngồi lên ngai rồng. Nắng vàng đọng trên Chùa Đại thừa Bái Đính sát gần, bên trong có ba pho tượng đồng Tam thế nặng cả sáu mươi tấn, sáng vàng lấp lánh lên pho tượng đồng đức Phật Di đà nặng cả trăm tấn phía trước chùa, sáng lên năm trăm hai mươi vị La hán bằng đá khối đặt ở bên ngoài, thẳng bên con đường xếp hàng một trăm lẻ tám cây cổ thụ. Chẳng thể nơi nào một vùng sông nước như Hạ long mênh mông trời núi, một vùng giao hoà trời đất, lại thấy ở giữa miền đất duyên hải như thế.

Núi trập trùng rẽ sang, thấp hẳn xuống đèo Tam điệp, Ninh Bình nơi cửa ải đỉnh cuối đồng bằng Bắc bộ, như lần nghênh đón, tập hợp binh quyền đoàn quân chủ lực do đích thân vua Quang Trung qua Hàm Rồng, sông Mã, trước trận đánh quân Thanh ở Hạ Hồi.

Theo đường những chiến binh huyền thoại xưa tiến đánh Ngọc Hồi, Thăng Long. Con người cùng về Hà Nội.

Hà Nội trưa thu. Con thuyền đậu lại ngóng lên bờ chờ trông về phía Hoàng thành. Thướt tha bóng người con gái mịn trắng, cơn gió lộng, tà áo bay làm thấp thoáng những căn nhà, dịu mát trên phố. Trong man mác người đi lẫn trong màu xanh cây lá bên Hồ Tây. Có đang kẻ đứng trông, không khỏi vấn lòng. Ai đã làm ra cái mà đến nay ta mới thấy?

Thoáng cái đã hơn hai nghìn năm. Điểm tụ cư đầu tiên, giữa đồng bằng châu thổ sông Hồng. Bên bờ tả ngạn, còn đấy tòa kinh thành Cổ Loa hùng vĩ. Bên bờ phải, dòng Tô Lịch chảy giữa mênh mông trời nước um tùm cỏ cây. Nổi cao lên một gò đất có tên là núi Nùng - “Mượt mà”, tươi tốt, cốt lõi linh thiêng gọi là Long Đỗ - “Rốn Rồng”.

Vua Lý Công Uẩn viết trong chiếu dời đô:

“…Ngắm xem khắp nước Đại Việt, thấy đây là vùng đất có phong cảnh tốt đẹp nhất, thực là nơi trọng yếu cho bốn phương hội tụ, là đất kinh sư của kinh sư muôn đời”.

Núi đất đó, nay chỗ vườn Bách Thảo, “làng Tô Lịch” làng trồng hoa Ngọc Hà phần chính thuộc phía Tây bên trong kinh thành, gọi theo tên người đứng đầu chốn tụ cư Tô Lịch, mà nhân cách xứng đáng để chuyển gọi thành tên làng, tên sông, sau thành nơi Kinh kỳ tụ hội. Chùa Trấn Quốc chỗ đảo Cá vàng “Kim ngư”, Hồ Tây kia, năm 544 người xưng đế đầu tiên Lý Nam Đế - Lý Bí, (Vạn Xuân) đã xây dấu gọi là chùa "Khai Quốc" từ đó. Kinh kỳ đã chứng kiến cả một nghìn năm trăm năm mùa xuân về, một nghìn năm trăm lần hoa đào nở. Thành La Thành có tên Thăng Long đã cả nghìn năm, khi Lý Thái Tổ - Lý Công Uẩn, (Đại Việt) dời đô Hoa Lư về từ 1010. Tên Hà Nội cũng sắp tuổi hai trăm, bắt đầu từ 1831.

Thời gian ngưng đọng bên cổng đền Trấn Vũ cây cao bóng cả. Xốn xang, sóng nước lóng lánh dát hồng cạnh đường Thanh niên, Ai đang tìm cái tĩnh lặng, bình yên bên hồ xinh xắn chỗ gò đền Cẩu Nhi đời Lý, ai từ trong nhà hàng nhâm nhi món bánh tôm thơm ròn bên hồ. Còn ai nhộn nhịp trên đường, có nhớ cuối năm 1959, thanh niên thủ đô hoàn thành đắp con đường trên nền đập “Giữ vững” - Cố Ngự có từ đầu thế kỷ XVII, (sau gọi là Cổ Ngư). Khi đó Bác Hồ đã nói một câu rất giản dị với Chủ tịch thành phố Trần Duy Hưng : “Thế thì nên đặt tên là đường Thanh Niên”. Con đường mang tên Thanh niên từ đấy.

Hoa nắng nhuộm vàng trên hè đường qua kẽ lá bên hồ Trúc Bạch, bóng những nam thanh nữ tú, ánh mắt long lanh như mặt nước gương soi. Những con thuyền thiên nga nho nhỏ nằm im chỗ bến đợi trắng lên như đang lúc đêm trăng. Con thiên nga ngủ thiếp đôi mắt mơ màng. Người chắc quên vì đang mải bận, bỏ lại một mình hiền lành, xếp lại những cánh bay cùng giấc mơ ngày nào vỗ cánh giữa khơi xa, giữa trời xanh nắng chói chang gió mát. Chẳng cả ngắm bóng mình soi dưới mặt hồ, con thiên nga không sao nuôi nổi giấc mơ khi vắng bóng người. Những cơn gió nhẹ cũng không muốn khuấy động cả cái mơm man ấy. Đường Thanh niên ai đâu dễ nhớ, dễ quên.

Ai như nàng công chúa biết trồng dâu dệt lụa, chỗ đảo Cá vàng nhô ra phía Hồ Tây nơi chùa Trấn Quốc. Nàng đang cùng những cung phi dệt dải lụa xanh bằng mây trời mát mắt, trải dài ra, rộng mãi ra đến mất trong tầm mắt nơi cuối hồ. Trời đã sắp hoàng hôn. Hương đưa mặt nước, ngân nga tiềng chuông chùa. Một trăm lẻ tám tiếng chuông, điểm thu không mỗi buổi chiều về, xóa đi mỗi ngày cả ngần ấy cái ham muốn của con người, trong cả ba kiếp vị lai. Quá khứ, hiện tại hay tham vọng cho tương lai, tài lộc nào ở chốn bảy mươi hai Thiên cương và ý định nào xấu xa ở ba mươi sáu vùng Địa sát, được thu về. Tiếng vang ngân trong mỗi buổi kẻ lắng nghe, sẽ được xoá đi, để rồi thôi trầm luân, để lại trong veo cái bản ngã hồn người.

Những du thuyền tao nhân, mặc khách dừng lại giữa chuyến lang thang hướng sang phía Thụy Khuê như nghe kể chuyện về một thời, về dòng Tô trong xanh bao chảy kinh thành. Nơi bắt đầu chỗ đền Bạch mã, Hàng Buồm, chảy về Bưởi xuôi dần xuống Láng, xuống Ngã tư Sở. Thủy chế dòng Tô vốn là nước từ sông Cái đổ vào tạo thành một chiến luỹ. Có những lần Tô Lịch báo điềm đảo ngược thế sự. Mùa mưa, nước trong đồng dâng đầy, đảo chiều đổ nước ra sông Cái. Quân xâm lăng bị đánh tan tác, có lần quan quá sợ hãi mà chết, quá sợ mưa tên mà phải chui ống đồng trồn chạy về biên ải. Sông Tô có hai đoạn eo nối liền vòng với Hồ Tây khi xưa rộn tiềng đàn ca, soi bóng thuyền rồng nhà vua vi hành, thăm thú.

Đã cả hai nghìn năm miền đất này, Hồ Tây vẫn nhớ về con trâu vàng, con cáo trắng biệt tăm. Bên hồ kia Thị lộ cười vui, trêu chọc Nguyễn Trãi, người đã nổi danh là Sao Khuê mà sao gẹo cô thiếu nữ chưa chồng, hỏi đã mấy con? Có là con mắt của ai đang nhìn đấy! Nguyễn Du vẫn gẩy đàn cầm Thăng long, tiếng khoan tiếng nhặt, lúc như gió thoảng, lúc dập dồn mưa sa, còn Cao Bá Quát thì sang sảng thơ phú vọng đến từ căn nhà ở phố Đình Ngang. Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương quây quần chơi đố chữ, cười chê thứ quà tặng nàng Nguyệt Nga của kẻ tham lam Phạm Đình Hổ tuy là kẻ hay chữ, nhưng e quà bằng cả cành đa lẫn củ đa, thì thật chẳng ra gì! Bên gốc cây bồ đề Phủ Tây hồ, bà chúa Liễu đoan trang vóc dáng tiên nương, đang hoạ thơ cùng chàng trẻ tuổi kỳ tài, trạng nguyên Phùng Khắc Khoan, làm khuấy lấp cả cái nhìn ai đang chăm chăm bóng đàn chim sâm cầm cổ đen má bạc, chân xanh lục phớt ánh chì, bay về tìm bạn đỏ mắt chờ nơi chân mây chìm trong sóng bạc phía Tây hồ.

Vẫn không có ai nói cho ta lấy được một lời.

Ven đường làng đào hoa. Có tiếng người lao xao chợ bán hoa tươi, như cảnh bán cành đào, chợ hoa đón tết chiều nào trong gió bấc xuân về, dẫn ta đi hoàng hôn. Những mái nhà ngói sẫm màu ẩn trong vườn hồng xiêm quả ngọt đến dằn lòng tuổi thơ, muốn trộm thử.

Chân bước lối con đường La thành xưa, vòng đường Hoàng Hoa Thám, đường Bưởi. Khói nhà ai chả nướng thơm lừng món ngon, làm ơ hờ mọi thứ ngắm nhìn. Đền Voi Phục lấp lánh khoảng không mặt nước hồ Thủ Lệ, đê La Thành um tùm hàng cây xà cừ xanh biếc hai bên che rợp bóng, dẫn ra đường Giảng Võ, Nguyễn Thái Học, vòng về đến Quốc Tử Giám.

Đó đâu phía Ba Đình rực hồng và khúc hát hùng tráng. Tiếng người khí tiết hào sảng, có men rượu bùng say giữa những chiến binh sau cơn lốc chiến thắng. Câu ca khải hoàn vang vang. Gương mặt người dãn ra, những bắp thịt trên tay trùng lại. Cạnh cửa sông Đống Mác phế nát, nơi Đông Bộ Đầu - Hàng Than sau trận chiến Trần Thủ Độ đánh tan Nguyên Mông còn cháy đỏ, trào sôi mặt sóng. Nước non rầm rập bước chân, những bóng chiến bào áo vải nhuộm khói đen. Tiếng gươm khua lẫn tiếng chiến mã hí dài. Tiếng voi chiến gầm vang cả một vùng rộng khắp Thăng Long. Lời ca bi tráng quân Quang Trung vọng đến cả những oan hồn ngoại bang nhà Thanh bại trận chồng chất nơi đồi mộ Đông Đa, Đống Thây.

Trước sân Văn Miếu, ai đang đằm mình sửa sang mũ áo chỉnh tề, nơi ghi dấu hàng nghìn tiến sĩ tài danh, để một lần được đến gặp bậc tiền nhân nguyên khí văn hiến Việt Nam.

Viếng thăm cảnh sắc nơi dựng nền đại học đầu tiên, nhóm con trai lớn vừa mới qua xong đại học, vẫn nguyên mũ cao Bình thiên, đỉnh bằng ngang trời đất, áo thụng rộng xanh, kéo nhau theo đường Kinh thành ngoài xưa Nguyễn Thái Học, thăm phía Cửa Nam hai cửa thành tấp nập người đang ngược về, kéo lên chỗ cửa Đông, Phùng Hưng.

Nhóm nữ sinh, xe máy đi trước, cũng mũ áo màu xanh dịu nắng ấy, vòng tiếp Phan đình Phùng về Cửa Bắc không vào được Hoàng thành, rủ nhau đứng nghiêng ngưòi chụp ảnh bên cổng “Bắc chính môn” còn in dấu những vết đạn đại bác của quân Pháp. Cả nhóm vòng qua đường Nguyễn Tri phương về đến Văn Miếu chờ đợi.

Nhóm con trai ra phía Tây thành nơi đường Bách Thảo, định theo con đường trong nội thành cũ Ngọc Hà về chỗ Lê Hồng Phong, Trần Phú nhưng lại đố nhau, tìm lối thành xưa theo bản đồ hoàng thành thế kỷ XV rẽ theo đường làng Ngọc Hà, chỗ ngõ 15 Đội Cấn.

Loay hoay hồi lâu luồn lách cuối ngõ nhỏ Vạn Phúc, nhóm con trai về đến đầu đường nội thành Trần Phú, đến Văn Miếu lúc trời cũng đã xế chiều.

Nắng nhẹ Quốc Tử Giám, những gương mặt trẻ hơn, hồng trong xúc động vẫn còn đượm chút ngượng ngùng, sợ kẻ cạnh bên dèm pha lời cầu xin đăng khoa, đỗ đạt trong kỳ thi sắp tới. Mắt trẻ đăm đăm về phía hướng Nam phía trước, xưa Đại hồ trước đảo nổi Quốc tử Giám, nước nối dài một dải đến hồ Văn, xa dần Ba mẫu, sang Bảy mẫu, ngóng trông thẳng cổng, Đại học đường Bách khoa ao ước.


... CÒN TIẾP ...





© Tác giả giữ bản quyền.
.Cập nhật ngày 12.06.2010 theo nguyên bản của tác giả gửi từ Hà Nội .

XIN VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM KHI ĐĂNG TẢI LẠI