Καπετάν Μιχάλης - Kapitan Mikhalis



TỪ VŨ
phóng dịch

để kính tặng những người
còn thực sự nhớ đến những chữ :

- Tự Do - Độc Lập - Hạnh Phúc -

Từ Vũ

LƯỢC TRUYỆN :

Nối tiếp nhau, từ đời cha cho tới đời con, người dân đảo Crète (Hy Lạp) truyền lại cho nhau nỗi căm hận về kẻ xâm lược Thổ , những kẻ đã chiếm đóng , đàn áp các sắc dân không theo Hồi giáo tại cá quốc gia trong vùng Balkan kể từ ngày thành phố Constantinople (Istanbule hiện tại) bị người Thổ đánh chiếm : gần bốn thế kỷ thù hận, nguồn gốc của những cuộc nổi dậy và bị tàn sát không ngừng lặp đi lặp lại.
Năm 1821 đánh dấu bởi sự vùng dạy dành độc lập của các nước láng giềng . Tại Hy Lạp nói chung và tại Crète nói riêng, những người dân tự hỏi : Bao giờ mới tới lượt mình?
Mỗi mùa xuân, mùa của đổi mới, câu hỏi làm tâm trí mọi người Hy Lạp ở Crète chao đao hơn bao giờ hết và chỉ cần một sự kiện thật nhỏ nhặt cũng đủ là nguyên cớ cho toàn đảo Crete bốc cháy. Tại các đô thị và tại dinh thống đốc, người thống đốc Thổ và người lãnh đạo dân Thiên chúa giáo địa phương phải có trách nhiệm ngăn ngừa trận "hỏa hoạn" này.
Đó là lý do vì sao, không bao lâu trước mùa Phục Sinh năm 1889, Nouri Bey có bổn phận triệu tập Kapitan Mikhalis và bảo ông ta phải quở trách em ông Manousakas, về việc dẫn một con lừa vào nhà thờ hồi giáo như để ngạo báng. Cũng muốn xoa dịu người khách được mời, Nouri Bey gọi người đẹp của ông ta , Emine Hanoun , đến hát mừng chào đón một cách danh dự người khách : Chính đấy là tia lửa châm ngòi cho thùng thuốc nổ và tạo nên một trong những thời kỳ bạo lực dữ dội nhất trong cuộc chiến dành độc lập chống lại quân Thổ xâm lược do các nhân vật của tiểu thuyết sử thi này cầm đầu .

Καπετάν Μιχάλης - Kapitan Mikhalis - Tự Do hay Chết - La Liberté ou La Mort - Freedom or Dead , là một trong những kiệt tác của văn học Hy Lạp và đã được chuyển dịch sang hầu hết các thứ tiếng trên thế giới.

Newvietart hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết Καπετάν Μιχάλης lần đầu tiên được chuyển dịch sang Việt ngữ của Từ Vũ .

CHƯƠNG XII


KỲ THỨ 7


Trong lúc đó, ở mé dưới Candie, tại Pétroképhalo, ngày chủ nhật, ông nội ngồi trước lò sưởi đang cháy. Trời lạnh. Đôi gò má ông trũng xuống, hai đầu gối như gập lại. Nhìn ngọn lửa, ông nhớ lại thời quá khứ của mình, như một giòng nước không ngừng chảy trong đầu ông.

Một người phu dẫn đường đi ngang vui vẻ chào :

- Chúc mừng ngài, Kapitan Sifakas, Cháu nội ông, Kosmas vừa từ Âu châu về, anh ấy hiện có mặt ở Candie. Ngừơi ta bảo rằng anh ấy có bút, giấy và viết...

Ông nội giật mình.

- Nó viết gì, nói cho ta nghe? Vưà la lớn vừa giơ cây gạy đang cầm trong tay nhưng người phu dẫn đường đã nhanh chân biến mất.

Ông nội im lặng. Sự trở về này đối với ông gần như là điềm bí mật báo trước cho cái chết của ông. " Giờ của mình đã đến ", ông nghĩ rồi đứng dạy.

- Vác cái thang trên lưng mày, Haridimos, ông lên tiếng ra lệnh, rồi đi theo tao !.

- Đi đâu hở cụ Sifakas?

- Ta đã dặn cả trăm lần là mày đừng bao giờ đặt câu hỏi với ta mà. Nhanh lên!

Haradimos lấy một cây thang thật dài rồi khệ nệ bước theo ông nội đi đàng trước một tay sách thùng sơn, tay kia cầm chiếc cọ.

Ông cụ đi vội vã đi, thỉnh thoảng vấp phải những cục đá . Cả hai tới công trường của ngôi làng; cụ chỉ tay lên tháp chuông nhỏ tường trắng màu vôi của ngôi nhà thờ:

- Dựa thang vào tường Cụ ra lệnh. Lấy đá chêm cho thật kỹ để ta khỏi té. Thrassaki đi đâu rồi?

- Nó lại đi với cây súng cạc bin và bầy quân nhỏ xíu của nó rồi cụ ơi!

- Chúc lành cho nó, nó có lý !

Người chăn cừu tựa thang vào tường tháp chuông, lấy hai cục đá chêm rồi giữ chặt thang cho chắc chắn thêm. Cụ già đặt chân lên nấc thang đầu tiên rồi vừa thở vừa leo. Haridimos nhìn, sợ hãi. " Lên tới trời " anh chăn cưùu lẩm bẩm rồi làm dấu.

Cụ già đã leo tới đỉnh thang, trước một góc đá, dưới chân cây chuông. Cụ nhúng cây cọ vào thùng sơn, duỗi dài cánh tay khởi sự viết, từng chữ hoa một, thật to : L, I , B...Tim cụ đập mạnh một cách thật sung sướng. " Ai mà có thể nói được rằng cuộc đời của ta lại kết thúc như thế này nhỉ ?, cụ vừa viết vừa ngẫm nghĩ. Với một thùng sơn, một cây cọ trong tay, cặm cúi viết trên tường ! ". Cụ đã viết được tất cả những chữ hoa của cụ. Quên rằng mình đăng đứng trên một cây thang, cụ muốn lùi lại một chút để nhìn được rõ chiêm ngưỡng việc làm của cụ. Ngay lúc cụ quay mình lại thì bị mất đà , ngã lăn xuống chân nhà thờ.

Haradimos hoảng hốt kêu lớn, những người chung quanh đó hối hả chạy đến, bồng cụ trên tay. Máu đã chảy, sương đầu cụ bị nứt ra, tuy thế miệng cụ mím chặt lại không hé lộ một tiếng rên rỉ nào.

- Cháu ông ấy tới, Haradimos phân trần với những người bu quanh, sự vui mừng đó làm cho cụ chóang váng...

Cả làng ầm ĩ như một cơn động đất, cây cột trụ chống đỡ cho họ vừa bị đổ. Mấy thầy lang thoa pommade lên đầu cụ trong lúc một người mang tin được cử đi Candie , trên lưng lừa, để đón Moustapha Baba về vì ông ta biết được tất cả những sự hữu hiệu bí mật của các loại cỏ để có thể chữa chạy được cho cụ. Ông ta là một người thầy thuốc rất tốt và đã chữa trị cho tất cả mọi người không phân biệt là Thổ, Thiên Chúa giáo hay Do Thái .... " Tất cả đều là những bệnh nhân, những kẻ đáng thương, Moustapha Ba Ba nói, cho dù đấy là người Hy Lạp hay người Do Thái ...".

Sáng ngày hôm sau, Moustapha Baba ngồi dong đưa trên lưng một con lừa đến. Ông ta lấy ra từ những chiếc tuí nhỏ, mở các lọ nhỏ, bằng hai bàn tay thuần thạo nâng chiếc đầu vỡ của ông cụ thật nhẹ nhàng rồi bắt đầu việc chạy chữa...

Ngày thứ ba, ông cụ mở mắt. Nhìn quanh ông, nhận ra được người con dâu, bà Katérina, cụ ra dấu.

- Mấy người ở trên núi ra sao ? cụ hỏi con dâu. Con có tin tức gì của chồng con không ?

- Anh ấy không chịu đầu hàng, người con dâu trả lời.

- Nó có lý ! cụ đáp lại. Đặt thêm cho ta một chiếc gối ở sau lưng, đỡ ta cao lên một chút. Ta đã chán ngán vì phải nằm dài như thế này rồi. Cho người gọi thằng Kostandis ở trên trại cừu xuống, ta cần có nó. Dứt câu nói , vì mệt , cụ nhắm mắt lại.

Khoảng một tiếng đồng hồ sau, một người thật cao lớn nửa người, nửa dê, xuất hiện. Đứng trước chiếc tràng kỷ nơi cụ già đang nhắm mắt nằm, dựa cầm trên chiếc gạy lùa cừu, chờ đợi. Ông nội vì nhắm mắt và hai tai bị ù ù nên không nhìn và cũng chắng nghe được gì. Kostandis vẫn bình thản đứng đợi. " Không thể được, không thể được, người chăn cừu cao lớn tự nhủ, không bữa nay thì ngày mai ông cụ cũng phải mở mắt rồi cho mình biết là cụ muốn gì !".

Đám cháu chắt và các bà dâu tập trung lại . Thrassaki cũng về trên vai khẩu cạc bin của nó. Hàng ngày nó cùng lũ bạn dẫn nhau lên núi chia phe đánh trận. nó đợi ông nội cho biết làm thế nào để tấn công vào một làng người Thổ vì bây giờ mọi việc nó đã sắp xếp để sẵn sàng làm điều này.

- Đánh thức ông nội dạy đi Thrassaki, mày, chỉ có mày là không sợ ổng, Kostandis xúi.

- Không, tôi không sợ, Thrassaki trả lời, nhưng tội nghiệp ổng, ổng đang ngủ mà.

Ông nội nghe có tiếng thì thào, mở mắt . Kostandis nhúc nhích chân , tiến lại gần. Ông nội nhìn mọi người đang bao quanh mình, bực mình lên tiếng :

- Ta chưa chết đâu, ta chưa chết đâu. Để ta yên! Lại gần đây, Kostandis, cúi xuống nghe ta nói.

Người khổng lồ cúi cái đầu to đầy tóc rồi lắng nghe lời căn dặn của ông cụ Sifakas. Bằng một hơi thở ngắn, ông cụ chậm chạp nói. Thỉnh thoảng ngưng lại vì đau đớn rồi lại lấy sức tiếp lời. Trước khi ngưng cụ hỏi :

- Mày đã hiểu chưa, Kostandis?

- Dạ hiểu cụ Sifakas ơi, người chăn cưù đáp lại.

- Sau khi mày đã loan tin như thế ở khắp các làng, mày đến Candie, nhà của con cả ta, mày biết chứ gì, nơi nhà bà Chryssoula, con dâu ta. Đem theo hai bọc phô-ma, một con cừu thật đẹp đưa cho bà ấy , nói là quà của ta. Nghe nói là cháu trai ta , Kosmas cũng vừa về. Nhìn thẳng vào mắt nó, rờ vào người nó, mày nghe rõ chưa ? Rồi nói với nó là hãy tới đây, ông nội nó sắp chết, ông nội muốn chúc lành cho nó...Mày hiẻu rồi chứ, Kostandis?.

- Dạ hiểu.

- Tốt, tốt, thôi đi đi!

Kostandis quay lưng ra đi. Ông cụ ngoảnh đầu nhìn theo. Người ta chỉ còn nghe tiếng giầy đinh nghiền trên nền đá, ngoài kia, từ xa.

Sáng ngày hôm sau cánh cổng của bà Chyssoula mở rộng. Một người thân thể cao lớn với mái tóc rậm rì, trong chiếc ba lô đeo trên vai hai tảng phô-ma thật to và một con cưù đã bị cắt cổ dưới nách, bước vào rồi ngừng lại ở giữa sân. Ngực đầy lông lá của người cao lớn đó mở toác, nồng nặc mùi hoa xôn và cừu. Anh ta đặt những tặng phẩm xuống nền đất rồi đưúng dựa trên chiếc gạy xua cừu. Ba người đàn bà trong nhà còn đang ngồi uống cà phê trên chiếc tràng kỷ.

Trong phòng, Kosmas sửa soạn để tới gặp vị Giám mục . Sau cùng thì vị Giám mục cũng soạn xong lá thư và phái những sứ giả đi lên núi . Các vị Kapétans sau khi đọc thư , đầu cúi xuống đất, thở dài. " Như ý của "Mẫu quốc " đã muốn, chúng tôi đành xin phải tuân hành!". Tuy nhiên, Giám mục còn chờ sự trả lời của Kapitan Mikhalis. Vị này sau khi nhận thư của Giám mục đã gọi một Kapétan khác trong vùng Mont Séléna, Polyxinguis, rồi cả hai đóng kín cửa cùng giam mình trong chiếc chòi đá .

- Tôi, tôi không đầu hàng, Kapétan Mikhalis tuyên bố ngay.

- Ở trung ương tại Athènes - thủ đô nước Hy Lạp- đã khẩn khoản yêu cầu như thế, Kapétan Polyxinguis cự lại, đừng để xảy ra một thảm họa.

- Trung ương nào? Trí óc của cái đám cầm quyền đó chẳng làm cho ta có thể tin tưởng được.

- Như thế chỉ có trí óc của ông là có thể tin được hay sao ?

- Anh chế nhạo ta hay sao chớ? Chuyện này không phải là trí óc của tôi mà là trái tim tôi...Trái tim ta nói với ta rằng mày đứng đầu hàng và ta không đầu hàng. Về phần anh, hãy nghe theo trái tim anh.

- Tôi làm theo những gì tôi xét thấy là đúng. Tôi tuân lệnh.

- Thôi anh hãy đi đi, với tất cả những lời chúc tốt đẹp nhất của ta. Anh cũng bỏ rơi ta, anh không phải là người đầu tiên đâu. Ta chẳng cần ai. Thôi tạm biệt, người ...bạn can đảm của tôi!

Kapétan Polyxinguis vừa định quay đi , ngừng lại, ông không đành lòng bỏ đi, để người chiền hữu của mình phải chết.

- Anh sẽ chết một cách vô ích, Kapitan Mikhalis ạ.

- Trong cuộc chiến, chẳng có ai chết vô ích cả. Kapitan Mikhalis la lên. Anh sẽ không phàn nàn gì ta chứ, hy vọng vậy ?

- Tôi đã chỉ yêu duy nhất trên đời này có một người, người đó anh đã giết chết. Tôi không có gì để quan tâm tới anh cả, Kapitan Mikhalis à, nhưng tôi cũng không muốn anh phải chết vì lẽ cái đảo Crète này còn cần tới anh!.

- Nhưng ta, ta chẳng cần gì nữa! Kapitan Mikhalis gầm gừ. Hãy đi đi!.

- Thế vợ anh? Thằng Thrassaki con anh?.

Dòng máu hiếu chiến bắt đầu dâng lên tới tận đỉnh đầu, những mạch máu ở cổ phồng lên.

- Nếu anh còn nghĩ tới cái sống thì hãy đi ngay đi, Kapitan Mikhalis rống lên.

Dứt lời, bằng một cái đạp chân cực mạnh làm đổ những cây đuốc và những vật dụng chận lối ra vào của chiếc chòi, Kapitan Mikhalis đẩy lưng Kapétan Polyxinguis ra khói căn chòi đá rồi ngừng lại ở của gọi Ventouros :

- Ventouros, lấy sức chạy nhanh xuống Candie , tới toà giám mục. Thay ta chào vị Giám mục rồi nói với ổng rằng Kapitan Mikhalis đã nhận được thư, ông ấy đốt bốn góc thư và gởi trả lại cho ông đây : Kapitan Mikhalis không bao giờ đầu hàng.

- Tuân lệnh, Kapitan Mikhalis, Ventouros vừa đáp lời vừa bỏ lá thư vào ngực mình.

- Đi nhanh lên , nếu mày còn muốn sống, Ventourous, thì đưùng trở lại đây nữa, ở đây là cái chết.

- Tôi còn bầy con nhỏ, Kapitan Mikhalis ơi? Ventourous thở dài than vãn. Tôi còn một đứa con gái đến tuổi lấy chồng, một người vợ, một cái quán rượu...

- Như vậy thì đưùng trở lại đây nữa! Mày là Ventourous, ta không thể yêu cầu mày cư xử khác hơn là thằng Vantourous. Dẫn theo thằng Kayabis và Mistigri rồi cùng túm năm tụm ba lại với hai hai thằng Bertoldo và Effendine . Kapitan Mikhalis vừa càu nhàu vừa quay lưng trở vào chòi.

Ventourous xuống núi, hướng về mé đồng bằng qua một lối mòn kín đáo, vừa chạy vừa lầu bầu lập lại câu nói của Kapétan Mikhalis :

" Mày là Ventourous, ta không thể yêu cầu mày cư xử khác hơn là thằng Vantourous! ". Câu nói này làm cho anh ta sôi máu


Cùng lúc đó nơi nhà Kosmas, đứng giữa sân Kostandis đặt bàn tay lên ngực đầy mồ hôi của anh ta , nói lớn :

- Chúc các bà trường thọ! Giọng nói của anh run run vì lẽ anh lớn lên và sống ở giữa đám dê cừu . Chúc các bà trường thọ, Kostandis lập lại, chào các bà. Tôi nghĩ rằng các bà đang ăn, vậy thì, chúc các bà được ngon miệng!.

- Mừng anh tới thăm chúng tôi, Kostandis! Bà mẹ đáp lại. Vào đi. Ngồi xuống đây, uống một ly rượu nhé...Có tin tức mới ở dưới làng hở ?.

- Cha chồng bà, Kapitan Sifakas. Ông ấy sắp ra đi bà Chryssoula ạ, hết còn hy vọng gì! Qúy dữ cũng không còn cứu được ông ấy nữa. Kostandis trả lời xong rồi phá lên cười. Ông cụ bảo tôi đem quà tới cho các bà.

Dứt lời, Kostandis ngồi sổm ngay xuống nền đất, dựa cây dạy trên hai đầu gối đầy cáu ghét.

- Nhờ Trời, ông cụ đã sống thật xứng đáng. Ăn, uống, tàn sát bọn Thổ, con cháu, lừa, ngựa, bò đầy đàn, khai phá đất đai trên núi thành những vườn nho, vườn ô-li, ông cụ còn xây cả một nhà thờ nữa để đón linh hồn ông khi ông qua đời, về mặt này thì ông ấy chẳng cò gì phải lo lắng. Bây giờ ông cụ còn có điều gì cần phải làm nữa nhỉ ? ngoài cái việc giương buồm làm một chuyến đi vĩ đại của ổng ...

Kosmas nghe có tiếng la, rời khỏi phòng bước xuống lầu. Nghe tiếng chân đàng sau lưng, Kostandis quay lại, quan sát thật kỹ lưỡng từ đầu tới chân :

- Thưa tướng công, chắc hẳn ông là người cháu nội đầu của cụ Sifakas nếu tôi không lầm, vừa lớn tiếng hỏi vừa dương cổ để nhìn thật rõ Kosmas. Sau đó, người chăn cừu đưa bàn tay thật to của anh ta, rờ rẫm Kosmas đúng như lời căn dặn của ông cụ .

- Chính tôi, Kosmas trả lời người chăn cừu.

- Tốt, tốt, ông nội của ông bảo với anh là hãy về gặp ông ấy, nhưng phải thật nhanh. Để ông ấy còn nhắm mắt. Nhanh, tôi nói với ông, nếu ông muốn gặp ông cụ lúc ông ấy còn sống. Có mặt trời chứng giám, tôi nghĩ là ông cụ chờ được gặp tướng công đã từ bao nhiêu năm nay để được lên gặp Tổng thiên thần. 'Dẫn theo một con lừa, ông cụ bảo tôi, để cho nó ngồi. Ta, ông cụ còn noí, ngày xưa tay ta cầm một chiếc búa , con trai ta một khẩu súng, bây giờ ta nghe nói cháu trai ta cầm cây bút. Như vậy nó sẽ không tài nào đi bộ được để về kịp gặp ta. Đem theo một con lừa, đặt nó ngồi lên." Con, lừa tôi để ở quán trọ, nó đang đợi mình. Nào ta đi!.

Dứt câu, Kostandis quay lại nói với bà chủ nhà.

- Đó là những tin tức mới, bà Chryssoula ạ. Rượu bà vừa cho tôi lúc nãy, bây giờ tôi uống để làm bà vui lòng.

Xong câu nói, người chăn cừu cầm ly lên uống một hơi, và bàn tay to cúa anh ta, với cầm một khoanh bánh mì đặt ở trên bàn. Như có vẻ hài lòng với chính mình, anh ta đánh lưỡi rồi cười.

- Phải trông thấy việc này, thực khó tưởng tượng được! Ông cụ gởi lời mời đúng theo lệ, Kapitan Sifakas. Thực vậy, ta có thể bảo là ông ấy làm một chuyến đi sau lễ cưới. Mới hai mươi bốn tiếng đồng hồ trước, cụ cho gọi tôi; tôi chỉ là một người chăn cừu của cụ và một người hầu của cụ từ lúc tôi còn bé, ông và các bà hẳn đã biết.
"Hãy đi, Kostandis, ông cụ bảo tôi, cầm gạy, trèo lên những đỉnh núi cao rồi gọi tất cả những người chiến binh già của ta ngày trước . Dừng chân lại ở giữa mỗi một thôn làng rao to lên : "Các bằng hữu ơi, Kapitan Sifakas đang sắp sửa ra đi ! Với tất cả mọi người vào thời kỳ ông cụ sống, thời kỳ ông cụ chiến đấu hiện nay còn hiện diện trên đất Crète này, Kapitan Sifakas đều mời họ tới nhà ông. Kapitan Sifakas không nhận bất kỳ một thứ quà cáp gì. Các ông chỉ cần ngồi vào các bàn tiệc đã được dọn sẵn, ăn, uống thả cửa rồi sau đó Kapitan Sifakas sẽ nói chuyện. Xin Mời qúy vị lên đường ngay bây giờ !."

- Ông nội muốn nói gì với người ta ? sau khi lắng tai nghe người chăn cưù khổng lồ nói , Kosmas hỏi. " Chỉ có những bậc lão trượng thời Cựu Ước mới chết một cách trịnh trọng như vậy, Kosmas thầm nghĩ rồi cảm thấy hãnh diện vì là một trong những người nối dõi của người già lão này. "

- Ông cụ muốn nói gì ? Tôi cũng chẳng biết nữa, tôi ! Tôi cũng đã muốn hỏi ổng nhưng tôi sợ. Chỉ cần một nhát gạy là ông cụ có thể đập bể đầu tôi ...vì thế tôi đâu có dại gì hỏi mà chỉ cắm đàu cắm cổ đi cho thật nhanh. Vượt đèo, vượt núi, mỗi một làng tôi vào rồi rao lớn những lời cụ dặn. Duy nhất chì còn lại được ba ông già ở ba làng khác nhau: Kapitan Madankas, Kapitan Katsimas và thầy giáo già trường học Ebaro, một người què. " Về đi, về bảo ông ấy là không được nao núng không được đi bất tử trước khi gặp bọn ta. Ta tới ngay bây giờ! " Sau khi nói với tôi như vậy, tất cả đều quay vào nhà ăn mặc thật trang trọng ...

Kể tới đây, Kosstandis bật cười rồi tiếp :

- Thật là mấy ông già, đáng thương, Cả ba đều trong tình trạng già nua thảm hại, thân thể chân cẳng đầy vết đạn như những cái chao chỉ còn vừa đủ sức để lê đôi chân. Cả ba hợp lại, ba người là ba trăm năm. Muĩ dãi tèm lem, mắt chẳng còn một sợi lông mi. Trên thắt lưng cả ba là ba khẩu súng lục bằng bạc làm như sắp sửa ra trận ... cả ba cùng đi, người này đỡ người kia để khỏi ngã...Anh không tin tôi, có thể, nhưng khi về làng ông nội anh sẽ thấy.

Kostandis ngừng lời, đứng dạy bảo Kosmas :

- Ông chủ ơi, lấy mũ đội lên, mình đi, ông cũng thế. Ông nội ông sắp qua đời, tôi nói với ông, ông có nghe không ? Ông cụ muốn là chính ông phải vuốt mắt cho ông ấy đó!.

Bà mẹ làm dấu :

- Xin cho ông được vào nước thiên đàng, bà nói một chắc chắn. Đó là một người đàn ông dũng cảm.

- Cha cũng vậy, cũng đi vào thiên đàng, Kosmas tiếp lời mẹ, chúng ta mọi người đều vào thiên đàng vì mọi người đều phải khổ đau trong ở hạ giới này.

Người em gái lúc lắc cái đầu, cười khẩy một cách độc ác :

- Thượng đế rất công bình.

- Thượng đế thật khoan dung, bà mẹ đáp lại con gái rồi đứng lên lấy chiếc bình và trầm hương để đốt.

Kosmas quay về hướng cô vợ trẻ đang ngồi nép mình trong một góc tràng kỷ, im lặng nghe.

- Em đi với anh nghe, Chryssoula.

Nhưng Kostandis nhịp nhịp chiếc gạy lùa cừu trên nền đất, lên tiếng :

- Trời đất ơi! Ông lôi theo đàn bà con gái để làm gì chớ?, Kostandis nói lớn, Đó là những chuyện bực mình. Lúc người ta bảo là tiến thì các bà , các cô trả lời là đợi một chút! Rồi bất thần các bà ấy như muốn tỏ ra là mình hăng hái bèn vụt chạy. Thế là các bà bị mệt lừ người mà chúng ta thì lại hay tôị nghiệp, chả lẽ bỏ các bà ấy giữa đường hay sao? Điều này mình không thể làm được. Dẫn theo? Cả một sự rắc rối. Nhưng anh là chủ, anh muốn làm gì thì làm. Tôi, như tôi vừa nói...

- Kostandis có lý, người mẹ bưng chiếc bình hương trầm vừa quay trở lại lên tiếng. Thôi đừng dẫn nó theo con ạ, làm vậy nó cũng mệt nữa.

- Đem cô ta đi đi! người em gái lên tiếng một cách dữ tợn. Đem cô ấy đi, cô ấy đủ sức mà.

Noémi sợ sệt vì không có ai che chở khi phải ở lại trong nhà này. Không khí thì ngộp ngạt. Cô muốn biến mình thật nhỏ lại, trốn tránh để không ai nhìn thấy mình.

- Em đi, cô lên tiếng, em đi, em muốn được nhìn phong cảnh đảo Crète.

"Cút đi, đừng quay lại căn nhà này nữa!" người em gái thì thầm vì cô ta không thể chịu đưụng được sự hiện diện của Noémi. Khi Noémi lại gần cô ta, cô nín thở. Cô đã để riêng ra một bên ly, đĩa, dao, nĩa ăn cho người đàn bà xa lạ này, vì theo cô, người đàn bà này đã làm cho căn nhà trở thành ô uế. Tối hôm qua, sau bữa ăn, cô đã phải nôn mửa vì không khí trong nhà hình như đẫm thấm mùi Do Thái.

- Vâng, em đủ sức, Noémi thì thào, em đủ sức...dứt lời, Noémi sửa soạn đứng dạy.

Nhưng ngay lúc cô đứng lên, bất thần cô bị choáng váng mày mặt : căn nhà như quay cuồng . Tựa lưng vào tường, cô nhắm mắt lại. Từ mấy hôm nay, thân thể cô hình như nặng nề ra làm như đang bị biến thái , máu trong người cô như nung đốt.

Có ai đưa tay vịn vai cô. Noémi nhìn thấy người chồng, đứng trước mặt, trên tay một ly nước. Cô mỉm cười, muốn với tay cầm nhưng thân thể cô oằn lại, mềm nhũn, ngã qụy xuống bất tỉnh. Bà mẹ vội vã chạy tìm lọ nước hoa hồng, quệt lên hai viền mũi, hai bên thái dương, cổ...

- Nó đang mệt, bà mẹ lên tiếng với một giọng trắc ẩn.

- Không có gì đâu, cô em gái rít lên. Nó bị xỉu. Tôi cũng thế, tôi cũng bị xỉu vài lần như vậy mà .

Kosmas ôm vợ trong vòng tay , đem nàng lên phòng đặt trên giường. Lúc Noémi mở được hai mắt, bà mẹ đang cúi mình trên người cô.

- Xin lỗi mẹ, Noémie nói, con chỉ bị mệt một chút thôi.

- Ngủ đi, bà mẹ đáp lời, lần đầu tiên bà đưa tay vuốt ve mái tóc Noémi.

Kosmas dỡ đầu vợ xuống:

- Ngủ đi em, Chryssoula, thôi đừng đi theo anh làm gì. Anh sẽ về thật nhanh mà.

Noémi gật nhẹ đầu rồi nhắm đôi mắt lại :

- Anh đi đi.

Kosmas tới toà giám mục.

Vị giám mục đang trong tình trạng vô cùng bối rối nói với anh ta :

- Ta vừa nhận được sự trả lời của chú anh? Ông ta bảo là không bao giờ chịu đầu hàng rồi lại còn nói với ta rằng đừng can thiệp vào việc của ông ấy...Con phải đi tìm ông ta, bảo với ông ấy rằng toàn đảo Crète này đang ở trong một tình trạng cực kỳ nguy hiểm, việc làm của ông ấy chỉ tạo thêm sự rắc rối. Con hãy thử tìm cách để ông ấy thay đổi . Làm tất cả mọi thứ mà con có thể làm được con ạ để cứu vãn tình thế .

- Con sẽ làm những gì con có thể làm được, thưa cha. Con đi ngay bây giờ.

Noémi đang ngồi trên giường đợi chồng về. Cô mặc một chiếc áo ngủ màu vàng, mái tóc vàng hoe mật rơi toả trên đôi vai. Cô tựa cầm trên hai đầu gối, nghĩ ngợi... Sức mạnh tình yêu thật bao la! Anh ấy đã bắt được cô, quẳng cô ở đây, ở một góc thế giới, trong căn phòng đầy những hình thánh đạo Thiên chúa tạc trên gỗ, cô, một người con gái của một vị giáo trưởng Do Thái giáo." A, nếu mà mình không được nhìn thấy những gì mình đã thấy, cô thở dài, nếu như linh hồn mình có thể vẫn giữ được nguyên vẹn! Hạnh phúc biết bao!" Cô hồi tưởng lại đêm hôm trước, lúc mà cô lên chiếc giường sắt cũ này, trước lúc nhắm mắt lại ngủ. Cửa sổ mở, hơi thở của đêm tràn vào phòng, đẫm mùi hương kinh giới ô và húng dổi. Người ta không nghe được một tiếng chân đi, một tiếng chó sủa. Đường phố ngủ yên, êm ả vì vắng bóng người, mặt trăng chiếu xuống thật dịu dàng...Chỉ ở xa xa đâu đó, thoảng tiếng âm ỉ, thật nhẹ, nhịp nhàng, đều đặn. Biển, biển ở mé bên kia những bờ thành, biển cũng vậy, không có thể ngủ được...
"Đêm thật là dịu dàng, ở mé đầu thế giới này,như anh ấy ngủ một cách thực tin tưởng bên cạnh mình,người đàn ông mình yêu! Còn trong mình ta!...

Kosmas bước vào phòng; khép cửa lại, đến ngồi trên giường cạnh người vợ trẻ. Anh nhìn vợ với một vẻ dịu dàng đến khó tả, cái nhìn như nài nỉ, sâu thẳm, gần như để nói hai chữ giã biệt.

- Anh đi hở? Noémi vừa nói vừa cầm tay chồng. Bàn tay cô nóng phỏng lửa

- Noémi, Kosmas nói vẻ lo lắng, em bị sốt.

- Không, em không bị sốt đâu anh ạ. Em nghĩ đó là nhiệt độ của nòi giống em thôi, người vợ trẻ vừa đáp lời chồng vừa cười. Một lát sau cô tiếp lời: "Anh nhìn em làm như anh sẽ xa..." cô muốn nói thêm là "vĩnh viễn" nhưng cô sợ. Và cô gần như ở điểm sẽ phải hét lên : "đưùng bỏ em trong căn nhà này !" nhưng rồi cô đã tự kềm hãm lại được.

- Anh sẽ trở về thật nhanh, cưng ạ. Anh đi vuốt mắt cho ông nội...

Kosmas còn nắm bàn tay người vợ trẻ, cảm thấy tâm hồn mình dịu xuống, cuộc sống trở nên thật giản dị. Hàng bao thế kỷ đã trôi qua đang tập trung lại, cô đọng chỉ trong thoáng chốc nhỏ bé này, thoáng chốc nhỏ bé mà người ta cầm bàn tay của người mình yêu, ấm áp, sống động, hồi hộp. Rồi sau đó, người ta nói: bao giờ cũng như vậy, bao giờ cũng như vậy, giây phút này là vĩnh cửu.

Noémi nhìn thật lâu người chồng, không một lời.

- Đừng nhìn anh như vậy chứ, đến lượt Kosmas la nhẹ, Em nhìn anh làm như anh sẽ vĩnh viễn rời em.

Người chồng đặt đôi môi mình trên mắt vợ, miện anh đầy những giọt nước mắt.

- Nhưng...anh cũng thế, anh nhìn em với đôi mắt kỳ cục, Noémi trả lời chồng rồi dấu mặt trong chiếc gối.

Giọng nói của Kostandis vọng lên từ dưới nhà như có vẻ giận dỗi:

- Ông chủ ơi, ông nội ông sắp đi rồi? Ông chủ ơi! Mẹ ông đã đổ đầy vào túi chứa nước xong rồi. Trên đường đi mình tha hồ ăn, uống ! Nhanh lên ông ơi, mặt trời cũng đang ngả bóng rồi đấy.

Kosmas cúi đầu xuống, hôn vào ngực vợ, như hôn vào một bức tranh gỗ tạc hình thánh.

- Tạm biệt em!

- Chúc anh lên đường vui vẻ! người vợ trẻ vừa thì thầm vừa choàng vòng tay quanh cổ người chồng.

Cô giữ thật lâu như vậy, sát vào người cô. Đôi mắt cô đầy vẻ dịu dàng, thả lỏng, sợ sệt. "Chúc anh lên đường vui vẻ..." Noémi còn lập lại.

Kosmas muốn ôm hôn vợ, nhưng Noémi đưa bàn tay lên môi anh, noí:

- Không, không. Tạm biệt!.


__________________________

... CÒN TIẾP ...

La Serénité - Troyes, 22 giờ 05 ngày 10.03.2010.



© Dịch giả giữ bản quyền.
. Lần đầu tiên đăng tải trên Newvietart.com ngày 03.05.2010.
. Tất cả các bản sao chép lại không ghi rõ nguồn Newvietart.com
là những bản xử dụng bất chính , vừa thiếu văn hóa vừa bất hợp pháp.