Những tháng, năm, cuối năm 1969- đời sống hàng ngày của gia đình tôi tương đối có đồng ra, đồng vào. Cũng nhờ một phần làm quản nhiệm báo
"Sinh hoạt Nghệ thuật" của Nhất Tuấn- rồi tiền bản quyền truyện"Nửa đường đi xuống" (*) tái bản, tới "Chiếc roi ngựa",
truyện dịch Constant Virgil Gheorghiu cũng tái bản- lại tiền bài, thơ, truyện (anh ngữ) đăng trên tạp chí" Tenggara"ở Mã lai
(Malaysia) - tiền nhuận bút truyện ngắn (pháp ngữ) " Immondices dans la Banlieue" - Cao Giao dịch- một bút danh khác
Huỳnh Văn Phẩm) đăng trên Le Monde Diplomatique , do nhà báo Pháp Jean-Claude Pomonti cầm về - tiền
--------------------------------
(* Tủ sách" Đại Nam văn hiến" xuất bản- do Đời Mới phát hành, Saigon 1968- sau 1975 tái bản ở California,
12 USD/ cuốn. Bìa 1 & chữ " nửa đường đi xuống'( bdc/ chữ thường) của Nguyễn Cao Đàm (Hon Hortrijk (ARPS),
Hon S.E.A.P.S. Bìa sau : ".. cuốn truyện này là một trong hai cuốn đã viết, mà tôi ưng ý nhất. Năm 1960, in ronéo 50 ấn bản ,
tôi in đằng bìa sau có câu" một trong những lần say sưa viết truyện đời mình bằng máu, mồ hôi, căm hờn và nước mắt",
dưới tôi ký tên. Bìa trước, tôi in ảnh cở 30 x 40. Hồi ấy Việtnam chưa có phong trào in ảnh tác giả, dầu lớn, nhỏ.
Nên có tờ báo nổi giận, đả kích kịch liệt, và gọi tôi là thiên tài văn nghệ cao bồi. Tôi là một trong những người trẻ đầy nhiệt tình,
xuất hiện như ngôi sao mai sáng rực ở chân trời, đem lại sự đổi đời, một trật tự mới trong văn nghệ. Đến bây giờ, bẩy năm trôi qua, chữ ký của nửa đường đi xuống ấn bản đầu đã thay đội; song nội dung và sự say mê từ hôm qua tới hôm nay vẫn không thay đổi. Hẳn là với ngày mai cũng vẫn vậy. Như tôi say mê người tình nhân đầu- chỉ một lần sống, chết ấy thôi , đến già tôi vẫn yêu, nhớ.
Thếphong
Saigon, 1967.
-------------------------------------
bán sách Anh văn cho một người Pháp mua- trụ sở đường Yên Đổ, vị này tu dòng Đắc Lộ- tiền bán sách anh ngữ
từ Đại Hàn ( Hàn quốc) gửi trả.. .
Vợ tôi bàn, nên đi chơi Vũng Tàu vài ngày cuối tuần. Vợ con đã chịu khổ với tôi nhiều năm, đây cũng là cuộc rong chơi tắm biển
Vũng Tàu hợp tình, hợp lý thôi! . Cũng tiện dịp thăm anh chị Đỗ Văn Ninh, người chủ nhà rất tốt bụng ở Rạch Dừa,
cho tôi thuê nửa căn nhà, khi chúng tôi mới cưới nhau, và làm việc tại Seminary Camp dạo nào.
Con gái tôi, Đỗ Thục Tường Khê vừa được ba tháng tuổi - theo vợ tôi- cho con gái đi hưởng gió biển luôn thể. Đi cùng với chúng tôi lần này- có cả Nguyễn Thị Thư, chị vợ tôi - cùng về Sài Gòn với chúng tôi từ năm 1967 và hiện có việc làm ở Cảng Saigon. Chị là y tá, sáng đi làm, chiều về, ở chung với chúng tôi ở Khu Gia binh Tân Sơn Nhất. Khi chúng tôi Rạch Dừa thăm anh chị Ninh- nhớ lần vợ tôi về Đà Lạt trước chuẩn bị sinh cháu đầu lòng. Hàng ngày tôi ở một mình, thường hay đi rong chơi với cô Phượng.
Nhớ lại vào 1966, chúng tôi dọn đến ở gian nhà thuê của anh chị Ninh chưa được mấy ngày- thì một buổi trưa, có một khách nữ lạ mặt đến
gõ cửa. Vợ tôi đi ra, cô ấy không biết khách là ai, và hỏi thăm đúng tên tôi là người cô ta muốn gặp .
Tôi đi ra khỏi giường- buổi trưa hay nằm ngủ sau bữa trưa lấy sức, trước khi vào sở làm lúc hai giờ chiều. Mắt nhắm, mắt mở-nhìn khách,
một cô gái chừng 20 tuổi lạ hoắc- cô gái tự giới thiệu tên, vào đề bằng câu chuyện, cô làm thơ- và nhờ một cô bạn gái bán thuốc lá quen tôi,
ở Cát Lở, nên biết địa chỉ tôi qua bản vẽ đi đướng đến xã Thắng Nhất ( Rạch Dừa).
Tôi mời cô vào nhà, khách tuy ít tuổi, ăn nói rất chững chạc, người có vóc dáng dễ nhìn, duyên dáng trong cử chỉ bặt thiệp.
Tôi tiếp chuyện cô thân tình cách vừa phải. Cô tỏ ra đã đọc nhiều, và hiểu tôi qua tác phẩm một cách khá rành rẽ. Cô muốn tôi giúp
cô đọc tác phẩm bản thảo rồi cho ý kiến. Với người mới biết, hoặc quen- tôi dè dặt đúng mức, và với cô gái này- tôi nhận thấy
có điều gì hơi không thường tình. Thứ nhất, cô rất bạo dạn, không mấy rụt rè, cô tự giới thiệu nhà cô ở Bà Rịa. Ông cụ mất sớm,
chỉ còn bà mẹ; nếu rảnh, xin mời tôi đến nhà cô chơi. Tôi có chiều e ngại, vì một người chưa quen bao giờ, lại chưa có ai giới thiệu- có thể chăng,
cô là một người của một phe phái nào đó đến dò la, và câu chuyện thích văn chương chưa hẳn là chính.
Một phần nữa, tôi chưa gặp cô bạn ở Cát Lở- cô gái người Bắc di cư trạc tuổi 20 - cô gái bán thuốc lá thiếu cho
tôi hàng ngày, và nửa tháng trả tiền một lần. Tôi gặp cô ấy, sẽ biết ngay khách nữ hôm nay gốc gác ra sao? Có gái này,
hình như đóan được sự đề phóng ấy, đi thẳng vào vấn đề- cô rất mê văn chương, nhất là sự cảm thụ văn chương của cô gái rất hợp với
"gôut" văn chương của tôi. Cô dùng chữ "gôut" nguyên văn, cô lại nói- biết tôi mới lập gia đình,
nên buổi cô đến nhà tôi lần đầu này có thể gây khó chịu, hiểu lầm của vợ tôi. Trả lời cô, hẳn như vậy rồi-
tôi nhìn đồng hồ- chỉ còn 10 phút nữa tôi phải đi làm. Nhưng cô vẫn chưa chịu về, cô bảo tôi: "...anh cứ đi làm, mấy giờ anh về, em sẽ đợi".
Không còn cách nào hơn, tôi mặc quần áo lên sở làm, và suốt mấy tiếng đồng hồ, tôi băn khoăn về một ngưới vừa tới thăm. Cô biết rõ mục đích
đến thăm, còn tôi - mới chỉ là dự đoán lý do, và chẳng có lý do nào khả dĩ làm tôi an lòng. Bỗng dưng tôi nhớ lại; cách đây ít lâu- cũng
giữa buổi trưa, có tiếng quen thuộc gọi cửa, đúng tên tôi- nhưng nghe giọng nói biết là người quen, anh Cao Thế Dung mới ở Ban Mê Thuột về Sài Gòn-
anh dự định chuyển về Sài Gòn dạy học, và đưa bản thảo tập khảo luận văn học(**) nhờ tôi đọc lại trước khi xuất bản. Anh nói,
bản thảo được chép lại qua nét bút của các em học sinh lớp đệ tứ, đệ tam của trường Vinh Sơn, La San K' Ban Mê Thuột.
-------------------------------
(** "11 thi nhân Việt Nam Tự Do" (Đại nam văn hiến Sài Gòn 1967). In lần thứ 2 với nhan đề" Văn học Hiện Đại-
Thi ca & Thi nhân: Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Bùi Giáng, Cung Trầm Tưởng, Hoài Khanh, Hoàng Ngọc Liên,
Huy Trâm, Hoàng Anh Tuấn, Khải Triều, Mai Trung Tĩnh, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Tạ Ký, Thế Phong, Thế Viên, Tô Thùy Yên, Trần Dạ Từ, Tường Linh,
Trần Tuấn Kiệt, Tuệ Mai (nữ), Vương Đức Lệ, Viên Linh, Bùi Khải Nguyên, Chu Vương Miện, Du Tử Lê, Ninh Chữ, Nhã Ca
(nữ), Luân Hoán & Phan Lạc Giang Đông - Nxb Quần chúng, Sài Gòn 1969).
---------------------------------
Anh lại cho biết, trong số những nhà văn, thơ ấy- anh có đề cập tôi- riêng điều này, tôi thấy nó hơi kỳ kỳ, nhưng không thể nói ra.
Vì anh Cao Thế Dung là bạn tôi, có thể với một động lực tình cảm quen biết nào đó, nhiều hơn là sự cần phải viết về. Nhưng tôi không dám nói,
tôi nhận lời , giữ bản thảo lại đọc, và ngay chiều hôm ấy, anh ra xe trở về Sài Gòn. Anh cũng báo cho biết, anh chuyển hẳn về Sài Gòn,
dạy học ở Trường La San -Taberd Saigon , nơi sư huynh Mai Tâm muốn anh có mặt.
Với anh Cao Thế Dung, chả có gì phải thắc mắc-nhưng còn cô gái này, cũng là khách đến thăm vào giữa buổi trưa-người khách nữ lạ đến thăm,
vì lý do gì thì tôi chưa biết rõ. Điểm yếu của tôi chính là đây, người ta biết mình rõ; còn mình thì chưa. Cô gái ấy nhắc đi nhắc lại, cô đọc báo Saigon,
biết tôi mới lập gia đình ở Đà Lạt, hiện bây giờ ở xã Thắng Nhất (còn tên gọi Rạch Dừa, cách Vũng Tàu 5 cây số, thuộc xã Thắng Nhất).
hai vợ chồng đều là giảng viên Trung tâm. Còn người tôi mới gặp lần đâu, nếu là lần đầu, bình thường ra, chẳng có ai bạo phổi dám gõ
cửa nhà người lạ với lý do đến thăm, lại coi như bạn cũ lâu ngày quen biết? Chính vì thế, nên khi giới thiệu,tôi cũng nói với
cô ấy- "vậy ra cô là bạn cô Thu bán thuốc lá ở Cát Lở, và chính cô Thu chỉ, vẽ nhà tôi qua sơ đồ, thật sao?" . Bà vợ tôi cũng biết cô Thu,
hàng ngày tôi chở vợ tôi đi làm, vẫn ghé chỗ cô Thu lấy bao thuốc Lucky Strike, và cứ hai tuần lễ trả tiền một lần vào kỳ lương.
Về đến nhà, cô gái lạ kia vẫn ngồi nói chuyện với vợ tôi- cô còn xuống nhà bếp phụ vợ tôi làm bếp, tự nhiên như chị em một nhà vậy. Vợ tôi nói đùa,
nhưng sự thật- " ...cô Phượng nói với em rằng khi anh về, cô ấy muốn xin ngủ lại một tối để cùng nói chuyện văn chương với anh.
Thế anh có chịu không nào ?"
Qua giọng nói của vợ tôi, chẳng có gì là ghen bóng gió, nhưng chính vợ tôi cũng không tin được- người khách nữ lạ gặp gỡ
đầu tiên đến nhà chơi, tự tiện xin ngủ lại. Tôi trả lời vợ:".. tùy em, nếu em thấy không có gì bất tiện, thì anh phải đồng ý thôi".
Lúc nãy cô Phượng chen lời vào: "... chị cho phép nhé chị, lúc nãy chị có nói, phòng khách có giường, em ngủ ngoài này cũng
được thôi mà!". Vợ tôi gật đầu, và nói cho mọi người cùng nghe: "... cơm nấu xong rồi, chuẩn bị ăn là vừa".
Bữa nay, chúng tôi ra thăm anh chị chủ nhà Đỗ Văn Ninh- (cảnh sát Ninh làm tại Trung tâm Cảnh Sát Rạch Dừa) hẳn chị Ninh sẽ không quên kể lại
cho vợ tôi nghe- ".. cô về Đà Lạt trước chú ấy, ở đây chú có một người bạn rất thân mà chú ấy quấn quít, yêu mến- đó là con mèo.
Ở nhà chú nựng mèo mèo cũng rất quấn quít chú ấy; đôi khi chú vuốt ve nó, trò chuyện một mình, làm như mèo nghe đủ được cả câu nói của
chú ấy. "
Quả thực, những ngày tháng ấy, tôi nuôi một con mèo đực rất đẹp- còn mèo này tự dưng từ đâu tới- tôi cho ăn, vuốt ve, rồi nó ở lại nhà
chúng tôi. Đôi mắt rất to, cái đuôi dựng đứng lên như cái chổi; mỗi khi nó trừng mắt nhìn là để đối phó với con chó nhà anh chị Ninh đến gần,
đúng là cái chổi bông lau đẹp tuyệt với! Tôi nghĩ mãi không biết cách nào đem nó về Sài Gòn được- chẳng bao lâu nữa, tôi sẽ thôi việc tại Trung tâm,
về nhập ngũ- đem mèo trên xe đò thì bị kiêng kỵ; chẳng may nó kêu ngoao ngoao- chủ xe đò cho súi quẩy, sẽ vứt nó xuống đường ;thì thật quả là tội
nghiệp! Nên, tôi dự tính đem theo nó, bằng cách chở trên xe Mobylette xanh về Sài gòn vậy.
Và tôi đã làm, và con mèo này, khi đến nhà bà chị họ vợ tôi ở đường Trần Khắc Chân Tân Định an toàn - song chẳng bao lâu, nó bỏ đi đâu mất tăm.
Chị Ninh lại không quên nói với vợ tôi về con mèo- nhưng nghĩa bóng ám chỉ cô Phượng- cô thường đến rủ tôi đi chơi ngoài bãi
biển Vũng Tàu. Nào có ai biết được hai người nam, nữ nói với nhau những gì, làm những gì- thì chỉ có Trời biết mà thôi. Vợ tôi
không có phản ứng gì nghe xong chuyện kể- cô ấy chỉ cười - song nụ cười kia có đôi chút trách móc, chẳng hạn như đã lấy vợ rồi còn
hay lăng nhăng.
Những năm về sau tôi ở trong Tân Sơn Nhất- đôi khi vẫn nhận được thư của cô Phượng hẹn hò, gặp nhau tại nhà sách
Khai Trí, 60-62 Lê Lợi Saigon 1. Nhận tin, tôi có đi, nhưng đi mà lại không đến gặp cô . Sau nhiều lần như thế, đến khi tôi nhận được thiệp hồng
báo tin cô lấy chồng-mỗột ký giả trẻ báo " Sóng Thần" .
Nhưng chồng cô ấy sẽ chẳng có điều gì phiền lòng- sự quenbiết giữa tôi với vợ anh bạn kia- chỉ là ngồi cùng bàn uống ly cà phê,
nói chuyện văn chương, tôi chưa hề bao giờ nắm tay cô, hoặc chưa làm gì phạm tới gia phong cả. Bởi tôi tự cầm lòng, rất sợ
nắm lấy tay cô thôi sẽ không thể buông ra được nữa - như một ngạn ngữ cổ Trung hoa" hễ bạn nắm tay một người nữ, chỉ cầm cổ tay thôi, coi như bạn
đã hứa với nàng sẽ cưới làm vợ". Mà tôi thì đã có vợ rồi !
Vũng Tàu đối với tôi có thật nhiều kỷ niệm với người nữ. Đi với vợ con tắm biển, dạo quanh Bãi Trước, Bãi Sau, qua tiệm cà phê La Roche Noire- ngồi đây, nhưng kỷ niệm vẫn trở về trong trí nhớ đầy ăm ắp.
Năm 1960, Cao Mỵ Nhân cùng một số bạn nữ cùng khóa Cán sự Xã hội ra đây nghỉ mát- các cô ấy thuê chung một khách sạn với tôi. Phòng tôi mang số 25. Chiều hôm ấy, chúng tôi đi dạo chơi chung với nhau- tôi ngồi uống cà phê ở La Roche Noire- nhìn các cô vui đùa tắm biển; còn tôi như một khách giang hồ yêu nắng gió biển, và không thể trải tâm sự buồn -riêng mình mang thì mình hiểu. Giá thử người nữ gặp cảnh này, hẳn ai cũng cho tôi là kẻ thờ ơ, lãnh đạm. Tôi thuê hai đêm khách sạn, đêm lại không về ngủ, đi lang thang trong các quán cà phê nghe nhạc. Rồi tham dự vào buổi khiêu vũ, nhìn đôi vòng tay quay vũ điệu luân vũ quay cuồng, cho bản thân tôi quên đời, và quên luôn cả mình. Sáng sớm hôm sau, tôi trở lại gặp các cô- nàng của tôi- hỏi tại sao tối qua không về phòng ngủ. Nói đùa, tặng nàng một căn phòng tráng lệ như cung hoàng hậu; và tôi ra ngủ đậu thềm nhà thờ, bậc chót cầu thang. Sau, nàng có làm một bài thơ mang tâm sự ấy, và hôm nay, tôi vẫn chưa quên hình ảnh xưa của 9 năm về trước.
Vợ chồng chúng tôi, và chị Thư, cũng không trở lại quán" Aux Délices" của những năm 1965-66- nơi có cô Vũ Thị Tỵ- cô chủ quán xinh đẹp, dưới nét vẽ chân dung của họa sĩ Trịnh Cùng. Cô ấy tặng lại tôi tấm chân dung kia, và tôi đã làm mất; có lẽ để không muốh nhớ lại có những chiều tôi và Tỵ cùng dạo quanh bờ biển- chỉ nhìn nhau, nói câu nói bâng quơ mà lòng thì đậm tình yêu dấu. Cả một buổi chiều, tôi và Tỵ cùng nhau rong chơi suốt buổi- từ VũngTàu đếnBbà Rịa; rồi Bà Rịa-Vũng Tàu. Mắt nhìn mắt, lại chỉ nói câu bâng quơ, chẳng dám bộc lộ thành lời muốn nói điều cụ thể- càng không cầm tay nhau hứa hẹn. Chuyện tình ngày xưa thật đã quá xa rồi!.
Với Cao Mỵ Nhân, những buổi đi chơi ở Vũng Tàu vào 1960- chỉ 2 năm sau tôi mới được đọc bài thơ của cô, đăng trên tạp chí-giai phẩm " Văn Mới" của Thế Nguyên. Một bài thơ nói về một kỷ niệm khách giang hồ- khách này có tâm sự trùng hợp với tôi cùng nàng một thuở nào!
Giấc Ngủ Của Người Khách Giang Hồ.
Người khách giang hồ / bước đi giữa đêm giá lạnh / Con đường dài đại lộ / khuất cuối trời sương / một chút bơ vơ ghế đá chân tường / nghe sóng dội điệu buồn vô hạn thuở / Lang thang một kẻ trên bờ đau khổ / bến đuổi thuyền xa lửa lập lòe / ghế đá âm thầm / chân tường ai đứng nhìn theo nhung nhớ / người khách giang hồ không bao giờ tâm sự / dù rất thương cô bạn nhỏ / đôi mắt ướt sầu ướt lệ đỏ hoe / người khách giang hồ khói thuốc đam mê / thù hằn trần gian nức nở / Ba trăm đồng cho hai đêm thuê phòng ngủ / đành ngả lưng một đêm / chìa khóa bỏ quên / thánh đường buổi tối vắng đàn chiên / người khách giang hồ ngả lưng trên đó
Sáng hôm sau khách vô tình đạp chân lên chìa khóa / con số 25 giận hờn nhắc nhở (*) / ba trăm đồng lang thang một giấc ngủ / chìa khóa trên tay khách ném sang vệ đường / " Anh cho em một căn buồng / tráng lệ như cung hoàng hậu /đêm qua anh ra ngủ đậu /nhà thờ, bậc chót cầu thang ".
Cô bạn trung thành nhặt chìa khóa yêu đương / tủi thân, ép giữa đôi bàn tay nhẫn nhục / người khách giang hồ cười ngờ vực / " Thả cho anh xuống biển Đông"./
Giấc ngủ đêm qua làm bê tha người giang hồ / còn đêm qua cô bạn nhỏ ngây thơ
" Thấy mình sung sướng hơn công chúa /
mộng suốt đêm dài ngủ quá trưa "./.
-------------------------------------------------
(* Chìa khóa phòng số 25 .( Chú thích: CMN. dưới bài thơ" Giấc Ngủ Của Người Giang Hồ) - tạp chí-giai phẩm" Văn Mới" , Saigon 1962.
--------------------------------------------
Cap Saint Jacques, 1960
Cao Mỵ Nhân
Nhớ lại một buổi sáng gặp trung tá Ẩn Bộ Tư Lệnh KQ, Ẩn nói ngay chuyện mà anh vừa biết được:
-...này Thế Phong, mày có biết lái xe không ?
-Lái xe gì, tôi hỏi lại.
-Lái xe díp, chớ xe gì mày?
-Rất tiếc, tao" cóc" biết lái. Mày hỏi vậy, để làm gì?
-À, tao có chuyện, vì SAO muốn can thiệp đưa đại úy nữ quân nhân quen mày từ Quân Khu I về Bộ Tư Lệnh KQ làm Trưởng phóng Xã hội , thay nữ đại úy Tâm.
Phải rồi, cô Tâm đại úy nữ quân nhân, bạn của Mỵ, từ ngày còn học chung Nữ trợ tá Xã hội ở 38 Tú Xương- cũng có "bồ" nay là chồng- chẳng công ăn việc làm chắc chắn. Anh ta đóng vai " ông nội trợ" cho " nữ quan ba" - coi sóc con cái, nấu bếp, sống trong một Khu Gia binh KQ; đôi khi tôi gặp anh ta lái xe díp chở vợ dạo chơi. Mỗi lần Tâm gặp tôi, cô chỉ mỉm cười; chắc để nhớ lại một thời xa xưa; cô thì đã lập gia đình với ' bồ cũ"- còn Mỵ thì ngược lại. Tâm thường đùa cợt, mời tôi: " .. sang nhà chơi vào thứ 7 này đi, Mỵ nó từ Đà nẵng sắp vào đó anh". Tôi không hiểu tại sao Tâm xin thuyên chuyển đi một đơn vị khác, vì lý do gì, vì Tâm về thay đại úy Trường đã được mấy năm- có nhà ở, công việc làm thoải mái trong một đơn vị nổi tiếng hào hoa, bay bướm như Không Quân.
-Mày có cảm thấy vui không, Thế Phong? Khi Cao Mỵ Nhân, đại úy nữ quân nhân về KQ, thì hồn thơ và người thơ hẳn là thường gặp nhau rồi, Ẩn tiếp.
Rồi trung tá Ẩn kể lại, với giong nói oang oang- Tướng KQ nói với anh vào buổi ăn sáng, hỏi có phải Cao Mỵ Nhân là người mà tôi đã viết trong tự-sự-kể không? Cô ta hiện là đại uiy1 nữ quân nhân, Trưởng phòng Xã hội Quần đoàn I.
Không biết Ẩn có rành 6 câu vọng cổ không, theo anh kể lại, theo Tư lệnh KQ, thì một khi Cao Mỵ Nhân làm trường phòng Xã hội KQ, thì sẽ cắt Thế Phong về lái xe díp cho tân trưởng phòng. Hy vọng sếp mới này sẽ làm Thế Phong bốt phá phách hơn chăng? Nghe chuyện này, tôi nghĩ ra ngay- chắc các Sếp lớn KQ đã nhiều lần phàn nàn về tôi- một hạ sĩ quan KQ loại" kiểng" lại giữ đúng quân phong, quân kỷ- nhưng không giống các người lính khác dễ dàng chỉ huy. Ngay cả Tướng Tư Lệnh KQ chẳng giống một tướng nào khác- ông rất" văn nghệ tính" - đôi khi tôi cũng bị hẫng trước việc ông xử sự hàng ngày. Có một lần Ẩn xuống nơi tôi làm việc rất sớm- anh đến chuyển lời Tướng gọi tôi lên văn phòng . Quân cảnh gác trước phòng tướng chẳng hỏi han khi tôi vào phòng ông,- có lẽ họ biết rằng tôi đến là được Tướng mời- họ chỉ báo lại mà không sợ bị la rầy.
Buổi ấy, Tướng Tư Lệnh mời sang câu Lạc Bộ " Bốn Phương Trời" ăn sáng. Câu lạc Bộ này nằm trong khuôn viên của Không đoàn 33 do Lưu Kim Cương làm tư lệnh- tất nhiên trước khi ông tử trận qua chiến dịch Mậu thân đợt 2 vào 6 tháng 5 , 1968 ở Nghĩa trang Pháp. Lúc tử trận, Cương mang cấp bậc đại tá mới thăng chức, chôn cất xong ở Nghĩa trang quý tộc, vinh thăng Chuẩn tướng.
Một vài hàng tưởng nhớ chàng phi công nổi tiếng hào hoa này- xuất thân từ một gia đình hàn vi ở ngoài bắc. Buổi đưa tiễn đến nơi an nghỉ cuối cùng, rất đông văn nghệ sĩ từng giao du yêu mến chàng. Bài nhạc" Cho một người nằm xuống" của Trịnh Công Sơn là một ví dụ. Nhưng bữa nay không thấy mặt Sơn- buồi sinh thời Sơn giao du với Cương- được Cương yêu mến- nên Cương đề nghị Tướng Tư Lệnh KQ đưa Trịnh Công Sơn vào lính KQ, cho qua cơn đao binh nội chiến. Tư Lệnh KQ trả lời Tư lệnh Không đoàn 33, nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn không thích hợp với quân chủng này- nếu nhận Sơn làm nhạc công như nhiều nhạc sĩ khác- Duy Quang, Nguyễn Trung Cang, Trí" khùng"..-. thì chưa chắc Trịnh Công Sơn làm được công việc này hoàn hảo, nên Tư Lệnh KQ chối từ.
Buổi ấy, một nhà văn đã nói đùa với bạn bè- ngày xưa Lưu Kim Cương, sau khi là học sinh ở Hà Nội, đã từng làm" ét lái". Một buổi, lái xe chính đậu xe lại ở Bần Yên Nhân ăn cơm trưa, để sau đó lái tiếp đi Hải Phòng. Lái xe chính ngậm điếu thuốc phì phà chợp mắt ngủ trưa dăm ba phút lấy sức - thì chỉ cơ hội này " ét lái" Cương mới có thể lên ngồi ghế tài xế, cầm" vô lăng" luyện tập. Thật chẳng may! xe lao tới đụng phải một người đi đường, rồi" ét lái" bước vào vòng lao lý. Trong tháng ngày diện bích trong tù, Cương học chữ, và sau khi ra tù; anh có được một chứng chỉ đệ tứ làm hồ sơ nộp vào kỳ Pháp tuyển phi công Việtnam sang học tại Marrakeck. Mãn khóa, Lưu Kim Cương trở thành trung sĩ- hoa tiêu, sau là Chỉ huy trưởng Liên đoàn Thần Phong- và Nguyễn Ngọc Khoa ( tự Khoa Đen) làm trưởng phòng Hành quân- đem AD5 ra Vĩnh Linh giội bom. cánh diều danh vọng Lưu Kim Cương càng ngày càng lên cao. Cương bay rất giỏi- nên có một lần- một nhà văn mới đước đồng hóa vào KQ- Cương hỏi trrung sĩ đã cóm lần nào nghe tên CƯƠNG chưa? Nhà văn trung sĩ đồng hóa này- xưa ,bạn anh trai Khoa Đen. Bữa ấy, Khoa Đen được chứng kiến bạn mình thưa với Tư lệnh không đoàn 33, đại để:" ...tôi cũng dân học sinh Hà Nội- quen với Ngài thì chưa- nghe tiếng thì có. Chẳng hạn, Ngài lái máy bay giỏi trên không trung chẳng kém lái xe trên đường số 5 Hà Nội -Hải Phòng ,và ngược lại. Ngài thuộc" virages" như nắm trong lòng bàn tay- kể cả ổ trâu, ổ gà - khúc gập ghênh gần hoặc gập ghềnh xa,. đoạn lồi, lõm- Ngài sử dụng' vô lăng" tuyệt chiêu như một hiệp sĩ thượng thừa. Ngài nổi tiếng là một" lady-killer", xử sự đẹp với các ca sĩ thượng tầng, như Thái Thanh, Lệ Thu vv... vào câu lạc Bộ " Mây Bốn Phương Trời" đàn, hát- thù lao được gửi lại trong phong thư- chỉ một bài hát thôi; cũng cao hơn lĩnh của một vợ & 4 con -là trung sĩ tôi đây, thưa Ngài. Ngài say đắm âm nhạc, nên dùng cả một phi cơ Cargo 123 bay qua Tokyo mua ván ép chở về- chỉ để đóng trần Câu Lạc Bộ" Mây Bốn Phương Trời"- để âm thanh vang giội êm tai. Ngài rất có kỷ luật trong việc cấm trại, cấm quân. Ngài đã từng cùng ban tham mưu ra cổng Phi Long chặn lính xuất trại- đến nỗi khi đại tá Lành, Tham mưu trưởng Bộ Tư Lệnh KQ lái chiếc xe Lambettis trâu già cà tàng ra cổng Phi Long, nhìn cảnh Ngài xua đuổi lính tráng vô trại- đại tá Võ Xuân Lành quặt xe hai bánh trở ngược vô Bộ Tư Lệnh KQ ngay tức khắc. Ông đại tá này cũng sợ Tư lệnh Không đoàn 33 chẳng kém gì bọn lính tráng Không quân. Người kể chuyện này, chính là trung tá bạn thân quen của Ổng- ông Trần Tam Tiệp có bộ râu quai nón từ khi mang lon đại úy thời tổng thống Diệm- Sếp An Ninh KQ thời ấy có giá lắm, nghe tới danh có thể" ị" ra quần! Thưa Ngài Tư lệnh Không đoàn 33, chắc Ngài không lạ gì trung tá Trần Tam Tiệp. Ông ta biết' tỏng" là Ngài thường đem díp ra phố chặn hỏi, bất cứ một quân nhân KQ nào ở ngoài phố, và Ngài từng buộc một phi công cấp tá ở Biên Hòa lên ngồi sau xe Dodge 4 cùng xe gắn máy Suzuki 12 về Tân Sơn Nhất- chỉ vì không giấy xuất trại.
Khoa Đen nghe tới đây, khích thêm, góp chuyện:
"... thằng này là bạn thân của anh tội và tôi nữa, từ khi chúng tôi còn ở phố Chùa Vua Hà Nội- nó biết tôi từ khi tôi học ở Albert Sarraut- đi xe đạp mà không chịu xuống giắt xe qua đoạn đường bị đào đặt cống nước- mà từ xa đạp xe lấy trớn đến gần đọan đường đào là nhảy" phoóc" qua. Nó bảo tôi, bây giờ tôi còn nhớ - " rồi ra mày sẽ nổi tiếng gan dạ trên đường đua, cả trường đời-" và cả trường bay" khi tôi đã là hoa tiêu KQ".
Quay sang Cương, Khoa tiếp:
" ..mày cũng đã biết tao lái máy bay như thế nào rồi đấy".
Đến đây, Cương cười, nụ cười rất tình,:
"... thế ra ông biết về tôi cũng đáng nể lắm!".
Và Lưu Kim Cương qua đời, như điệu nhạc, lời ca tha thiết Trịnh Công Sơn-' bè bạn ở lại, trong cuộc rong chơi đường đời nửa gánh. vv.." Cương hỏi trung sĩ-nhà văn:
-Ông có biết nhà báo Phan Nghị? và có đọc sách viết về tôi ở " Vương quốc Cần Thơ" không?
-Có, nhà báo này so sánh tài cao, tính bay bướm, hào hoa, coi trời bằng vung, hệt thiếu tướng Nguyễn Sơn Quân Khu IV.
Tiếp, trung sĩ nhà văn nói thêm:
- ...nhà báo tác giả kia đã được Ngài đền đáp bằng cách mua hàng ngàn cuốn, với gía hậu đãi- như cách đền bù của một Mạnh Thường Quân coi đồng tiền không lớn bằng Trung hoa Lục địa.
-Chúng ta đi ăn sáng chứ ông? Tư lệnh KQ bảo tôi vậy.
Tôi mặc bộ quân phục treillis bốn túi, lon lá đàng hòang- cái mũ" calot" giắt ở thắt lưng, theo sau ông bước xuống bậc tam cấp Bộ Tư Lệnh KQ.
Chiếc xe díp của Tư Lệnh KQ mang số dài dằng dặc, chỉ nhớ 1, số cuối cùng, bên cạnh có cái xẻng, phía sau hàng ghế ngang- vị đại tá phi công, tên CHUNG, - Tham Mưu Phó CTCT- là Sếp tôi đang đứng ngóng chờ.
Tôi giơ tay chào, ông giơ tay chào lại- và chính Tư Lệnh KQ lái xe. Ông chỉ tôi ngồi hàng ghế đầu bên cạnh ông. trước cảnh khó xử này, Sếp của tôi ngồi phía sau băng ngang, quay lưng lại- cách bố trí ghế ngang dành cho quân cảnh hộ tống Tướng, mỗi khi di chuyển, mục đích canh chừng phía sau. Tôi thưa với Tư Lệnh:
-Thưa Tướng, quan trên trông xuống, người ta trông vào- Tướng cho phép tôi ngồi băng ngang sau.
Ông cười, rung hàng ria mép, giọng ồ ồ:
-Ông cứ ngồi đây, mặc nó .
Và chiếc xe díp bon bon hướng về phía Câu Lạc Bộ- nơi mà tôi vừa kể trên kia- có trần đóng bằng ván ép ngoại nhập, do đại tá Lưu Kim Cương đưa từ Nhật về buổi nào!
Và câu cuối, tôi còn nhớ- khi nghe Tư lệnh KQ nói vậy- đại tá Chung bảo tôi:
- .. xin ông cứ ngồi trên như lời Tướng chỉ thị.
Quạ 5 phút đến Câu Lạc Bộ, không ai nói với ai một lới nào thêm, và tôi nghĩ đến câu chuyện trung sĩ -là tôi- không biết lái xe díp cho Sếp mới- nếu đại úy nữ quân nhân Cao Mỵ Nhân được đổi về Bộ Tư Lệnh Không Quân.
Giờ này đây, người lái xe, tên TƯỜNG- được ÔNG BA SAO KQ chở một trung sĩ, một đại tá phi công ngồi băng sau lắc lư nhìn con đường chạy lui.
__________________________________________________________________________________________