...HÀO HOA LÀ LÍNH KHÔNG QUÂN...



Kỳ thứ 11

 

KHÔNG CÓ công ăn việc làm đối với một người viết văn là chuyện thường xuyên trong cuộc đời. Tất nhiên là đói khổ, lo âu về cơm áo hàng ngày - không phải là chuyện đùa với khách thơ.  Nhưng bây giờ ,có vợ, lại sáp có con, không nhà cửa, ở nhờ nhà bố mẹ vợ; các cụ xưa đã có câu, đại khái, con rể ở nhà cha mẹ vợ như chó nằm gầm chạn. Với tôi, là chuyện bắt đầu bằng hành động của sự đối xử khác thường. Tôi chẳng oán trách gì, tất cả chẳng qua là vì tiền bạc,áo cơm.  Lãnh trọn tháng lương lần cuối vào tháng 12, năm 1966, vừa đủ chi cho vợ đi nằm nhà thương phụ sản tư.  Mẹ vợ tơi săn sóc con gái, tôi chạy qua chạy  lại thăm hỏi. Lần đầu tiên trong đời, đưa con trai cân nặng hơn ba ký, đỏ hoẻn,khá bụ bẫm; tự dưng lòng tôi xúc động, và biết trách nhiệm làm cha thực sự lo lắng.

Công việc đi làm ở Xây dựng  nông thôn Đà Lạt ( XDNT)  đã thất bại. Thiếu tá chỉ huy Nội an đã đồng ý trên nguyên tắc về công việc này, nhưng đại úy Vũ Đức Nghiêm, chỉ huy XDNT Tuyên Đức lại lơ là.  Bây giờ tôi mới biết, anh ta xuất thân  Khóa 1 Nam Định-Thủ Đức, bạn  trong quân đội đã bước lên thang danh vọng tột đỉnh: Tướng Kỳ, Thủ tướng; Tướng Thắng, Đặc trách  XDNT toàn quốc,- còn Vũ Đức Nghiêm mới chỉ  là đại úy quèn,  và là nhạc sĩ  mới bắt đầu sáng tác ca khúc trữ tình. Có lẽ  đại úy Nghiêm không muốn tôi được đề cử trông coi XDNT Đà Lạt; cứ như thường tình, anh  ta sợ tôi sẽ có thể làm rung chân ghế của anh chăng?  Chỉ tiếc một điều là, một số tác phẩm ký đề tặng anh; có cả bản dịch tự sự kể" Thephong by Thephong, The Writer, The Work & The Life" mà chính tác giả không muốn. (*) (*  ... trên 40  năm sau, tác phẩm này được Amazon.com tung lên mạng- ( www.Amazon.com/ Thehong-writer-work-life-autobiography/dp/BOOO7JUSLA 150K -cached similar) .

Cũng chẳng thể làm như Constant Virgil Gheorghiu, đã từng kể lại trong "L'homme qui voyagea seul" (*) - tác giả ký tặng một ông tướng, để cảm ơn trước về  một việc đã hứa với ông; sau thoái thác- việc đổi ý từ phía ông Tướng.  Tác giả Gheorghiu không tặng sách nữa, ông ra về, và trên đường xé bỏ trang đề tặng ấy.  Còn tôi thì không.  Nhớ lại lần tôi đi bộ từ Đồi Eo Gió Đà Lạt về đường Phan Đình Phùng, chân mỏi rã rời, bước cao bước thấp, tâm can rối bời. Đà Lạt với

-----

Constant Virgil Gheorgiu, người Lỗ Mã Ni, sau khi Roumanie trở thành nước Co65ngs ản; ông di cu7sang Pháp khởi sử vie61tt iểu thuyết . Tiểu thuyết đầu tiên viết bằng tiếng Lỗ- một nữ dịch giả Pháp dịch sang Pháp ngữ, đó là cuốn" Giờ thư hai mươi lăm" - đã nổi tiếng ngay trên đất Pháp, và cả thế giới, qua nhiều bản dịch khác nhau. Tự-sự-kể" Lữ hành cô độc" đã được dịch qua việt ngữ xuất bản ở saigon trước 75.  Riêng tôi, cũng viết một tập sách nhỏ, mỏng, giới thiệu C.V. Gheorghiu mang tựa" Gheorghiu với Người Lữ hành Cô Độc" (Bút Nghiên xuất bản, Mỹ Tho 1962), và tôi còn dịch một tiểu t huyết khác của ông, đó là " Laa Cravache, Đường bá Bổn dịch, bản việt ngữ" Chiếc roi ngựa"  (Đại Nam văn hiến , Saigon xb 1962, Nxb Đồng  Nai  tái bản  2003). Sau này Gheorgiu trở thành linh mục Chính thống giáo, trông coi một nhà thờ nhỏ ở địa phận Paris, và mất tại đó. (tôi quên không nhớ năm  qua đời, ông sinh năm 1916) .

-----

tôi, là nơi để tiêu tiền ; chứ không để kiếm tiền.  Năm ấy Đà Lạt hoa nở  rực hai bên đường, những đóa quỳ dại mầu vàng mà xưa kia tôi rất thích; bây giờ ngắm lại cảm thấy vô duyên!  Tới đường Chi Lăng, gặp một bạn văn cũ  anh ta ới gọi -  tôi nhận ra ngay, đó là thiếu tá Nguyễn Bùi Thức, hiện anh đang là giảng viên Trường Võ Bị Đà Lạt. Xưa kia, anh viết truyện ngắn rất  hay, ký Nguyễn Hoài Văn, đăng trên tạp chí "Thẩm Mỹ" Saigon.  Nhớ đến Thức, tôi lại nhớ truyện ngắn" Chiếc mũ lá"  của anh, tả tâm trạng một nhân vật sống trong cuộc nội chiến thật cảm động. Thức cho tôi địa chỉ nhà anh ở  Chi Lăng, hẹn thế nào tôi cũng phải tới chơi, vợ anh biết tôi ở Đà Lạt mà không tới thăm họ; đó là  một sự bất nhã không thể nào tha thứ!  Anh hỏi tôi  lại  "đi bộ" sao, vì từ Chi Lăng về chợ Đà Lạt có xe lam chở khách kia mà. 
Tôi gật đầu- rồi nhớ lại vào năm 1957 ở Saigon - tôi  dự đám cưới một thằng bạn thân, tiền xe không có, phải xin đại úy Thức 20 đồng đi tắc xi dự đám cưới(*)

----

(* ...đã viết trong tự truyện" Nửa đường đi xuống" ( Tủ sách Đại Nam văn hiến 1959 in rô nê ô ; tái bản thành sách năm 1968, trang 198. Cali tái bản lần hai, bằng cách photocopy , bán ở Huê Kỳ, 12 USD/ cuốn) . Nguyễn Bùi Thức hiện ở Huê Kỳ, xuất cảnh theo diện "Humanitarian Order"(H.O.) ; sau này anh rất ít viết- những truyện đăng trên báo xưa kia vẫn chưa tập hợp  in thành sách.

----

 

Sau này  tôi vẫn phải " cuốc bộ"  lên Chi Lăng thăm vợ chồng Thức, ở lại chơi ăn cơm, và có khi đánh chắn suốt ngày.  Tiền vốn bỏ ra đánh bài, vợ chồng Thức chu cấp; nếu được, tôi đem về - và thua, thì vợ chồng  Thức không nhắc đến trả nợ.  Thâm tâm tôi khi ấy, chỉ mong được bạc, đánh chắn kiếm gạo; nhưng may mắn thì chưa lần nào được đáp ứng!.

 

Một buổi trưa khác,  tôi đang giặt quần áo cho vợ, con - giặt giũ đống tã chất đầy trong một chậu lớn; thì có tiếng gọi cửa. Tôi ngưng tay giặt, đi ra xem khách là ai-  tưởng ai  lạ - đó là kiến trúc sư  Dương Mạnh Hùng, em  cô cậu- con bà cô ruột Đỗ Thị Thảo ở Saigon lên chơi, tiện ,ghé thăm. Mục đích của Hùng đến thăm anh, để xem mật bà chị mày ngang, mũi dọc như thế nào-  mà dám nhận làm vợ một người anh họ  hoang đàng như tôi. Chắc Hùng còn nhớ mẹ cậu ta lên Đà Lạt, đại diện  gia đình họ Đỗ trong đám cưới, giận dỗi bỏ về nửa chừng - bây giờ  Hùng nhìn thấy hai tay anh họ đầy bọt xà phòng giặt giũ.  Hùng  cho tôi như một đứa con hoang đàng - bỏ nhà  cha ra đi- với của cải được chia, rồi ăn chơi trác táng, hết nhẵn bạc tiền, đành đi làm thuê; đói quá phải ăn  tranh cám heo với  lợn. Chuyện tích trong Thánh kinh  chép- sau này tôi tin nhận Chúa vào năm 1979 ở Hội thánh Báp Tít Saigon- bây giờ đọc đến đây, muốn ứa nước mắt, và thông cảm tâm trạng kẻ khốn cùng tột đỉnh(*) (* Thánh kinh Luca 15: 11-31) .

 

Con trai đầu lòng thật bụ bẫm- như đã nói ở trên rồi -  hiện cháu đang bị tiêu chảy.  Bỏ ra khá nhiều tiền mua thuốc chữa trị, lại chẳng có kết quả bao nhiêu!  Nên khi nhận thư của nhà văn Thế Nguyên  ở Saigon, báo tin, cuốn truyện ngắn" Khu rác ngoại thành"  sắp in xong, sửa soạn cho phát hành rồi (đầu nậu  Thành bỏ vốn xuất bản, phát hành- và  Thế Nguyên biên tập bản thảo) . Bản quyền được trả, khoảng 3000 đồng cho 1000 cuốn thì phải,  nghĩa là có thể mua được  ba vé khứ hồi Đà Lạt-Saigon-Saigon-Đà Lạt. Tôi nẩy ra ý  định, ở đây thì không sao có thể kiếm  được tiền, nên tôi định về Saigon để lấy nhuận bút. Như vậy, mất 950 đồng tiền vé máy bay khứ hồi, và dè sẻn ít nhất mất khoảng 1200 ; còn al5i 1800 mua thuốc cho con là hợp lý.  Vợ tôi, khi nghe gợi ý việc này,  cũng tán thành ngay.  Cũng lại  chẳng may cho tôi, về đến Saigon gặp Thế Nguyên, anh đã gửi chi phiếu lên Đà Lạt rồi.  Tôi vội vã trở về lại Đà Lạt, ra  đường Phạm Ngũ Lão ghi danh- văn phòng hãng Hàng không Việt Nam- để có xe ca đưa lên phi trường.
Chiếc máy bay DC3 ( Cargo 47)  đang bay trên vùng trời Biên Hòa, nghe tiếng xì xào của khách nói với nhau, ' chắc máy bay hỏng bu gi, mà ở trên không, làm sao cạo được như đối với i xe gắn máy hỏng hóc thường  dừng lại để cạo". Tôi  chẳng mảy may sợ hãi, nếu máy bay rớt; có chết, ít nhất vợ con cũng sẽ nhận được tiền bồi thường- một khoa3nt iền khá lớn làm vốn nuôi con cái sau này. Nhưng tin máy bay trục trặc, chỉ là  một dự đoán tầm pháo, từ một  hành kah1ch vô công rồi nghề phịa chuyện. Cô chiêu đãi viên hàng không đang lên tiếng trấn an, qua  giọng nói ngọt ngào tư cặp loa phát ra.
về đến Đà Lạt, vợ tôi cho biết, con trai chúng tôi đã bớt ỉa chảy, và tôi vội vã ra Buu điện Đà Lạt lãnh tiền nhuận bút mà Thế Nguyên gửi. Trên đường về nhà, gặp al5i một số bạn cũ từ Saigon lên Đà Lạt theo Phái đoàn chính phủ, làm phóng sự, tường trình. Cảm tưởng đầu tiên gặp lại bạn bè, chúng nó như là giàu có, rủ rê đi ăn uống.  Tôi từ chối, và thật sự, những lần khác, khi nghe Đài phát thanh loan tin Đà Lạt có những buổi hội hè, biết là có phóng viên, ký giả đi cùng Phái đoàn; tôi đã tìm cion đường vắng để đi, cốt tránh gặp lại bạn cũ.
Thường ngày, vợ chồng chúng tôi rất ít  có bạn bè tới thăm; nếu có,  một hai, lần Thức đến; còn tôi thì giấu địa chỉ, không muốn cho ai biết.  Buổi tối ở đại gia đình cha mẹ vợ, sau bữa cơm tối; chúng tôi ngồi lại  với nhau đánh chắn; tuy không ăn tiền-nhưng cũng có nhiều cảm giác thích thú.  Bụng đói về khuya,  chu1ngto6i ra đường Phan Đình Phùng mua bánh mì nóng về ăn - trời Đà Lạt lạnh, ăn bánh mì nóng chẳng cần thêm gì khác cũng ngon rồi! Và bữa nay,  bà mẹ vợ tôi không được vui như mọi lần, bà có lời ăn, tiếng nói khác thường. Chỉ cần mở cánh cửa trủ vang lên tiếng kẽo kẹt, bà cũng chau mày tỏ vẻ khó chịu.  Đấy là cái cớ, để bà thể hiện sự túng bấn trong gia  đình, khi có thêm  hai chúng tôi và đứa bé.  Vợ chồng tôi đã về đây ở nhờ đã ba tha1ngt rời; nay gần tết, thì đồng tiền lại càng cần thiết để có mà chi tiêu  dịp tết cổ truyền- mà nếu không có, bà mẹ vợ lại càng khó chịu.  Cái lẽ này cũng chỉ là thường tình, vì bố vợ tôi chỉ còn được lãnh lương hưu .  Con cái lớn đi làm đóng góp chẳng là bao! Có ngày,mẹ vợ tôi đi chợ không có tiền trong túi, bà đem mớ báo cũ đi bán  lấy têền chợ- điều này tôi không muốn biết tới, vẫn cứ đập vào mắt.
Trưa hôm ấy, tôi lấy cớ đau bụng không ăn cơm nhà; thực ra tâm tôi đủ no nê sự chán chường.  Tôi dự định, chiều nay,  sẽ bàn với vợ- khi cả nhà đi vắng -  gửi con lúc nó ngủ cho cô em vợ -  chúng tôi lấy cớ đi dạo, mà thức ra tìm một lối thoát.  Cóc chết ba năm  quay đầu về núi; núi đây  hẳn không là núi đồi  Đà Lạt, mà là Saigon.  Chẳng thể đi đâu mà thoát được Saigon; chỉ nơi này, tôi mới có thể  tìm được kế sinh nhai, nuôi vợ , con.  Tuần vừa rồi, nhận được thư của một thằng bạn cũ- nay Vũ Thế Quang làm lớn,  trung tá chỉ huy trưởng Phòng vệ Phủ Tổng thống- nó trả lời , cứ về Saigon,nò sẽ kiếm cho một chân binh nhì"  lính kiểng", có thời giờ ra ngoài kiếm tiền nuôi gia đình.  Thằng Quang Dù ( lính Nhảy dù)   còn có tình bè bạn; còn thằng Sảnh, cũng trung tá Dù, hiện chỉ huy trưởng Cảnh sát dã chiến, không thèm trả lời một tiếng; khi bạn bè cũ cậy nhờ.  Tôi không trách gì nó, chỉ nghĩ tình đời đối xử với nhau rất dễ biết vào lúc khốn khó như thế này.  Vợ tôi đồng ý ngay, và nàng  cũng nhận thấy sự khó chịu của mẹ đối với con gái, rể- điều quý báu nhất là Khê rất tỉnh táo, không bênh mẹ. Buổi chiếu áp Tết năm 1967, hai chúng tôi đi bộ lên chùa Linh Sơn. Thơ thẩn ngồi ngoài sân rộng, tôi nói với vợ:
-Em ạ, tình cảnh này chúng ta không thể tiếp tục ở lại đây. Như em biết,  công việc làm không có, và Đà Lạt, là nơi tiêu tiền; với anh, lại càng khó kiếm ra tiền.  Chẳng thể trách ai, vì từ sự túng bấn mà xảy ra" những điều nặng, nhẹ  của mợ" ( mẹ vợ). Anh chắc chắn rằng nếu chúng ta có tiền đưa thường xuyên cho" mợ" , chắc chắn nhiều buổi đánh chắn trong gia đình còn vui hơn nhiều! Chúng ta phải vế  Saigon thôi, em tính sao?
Vợ tôi gật đầu, và trong đầu ,Khê đã có phương án chit iết hơn tôi dự tưởng.  Khê đáp:
-Tiền xe, tiền ăn đường; em định đến Bích mượn.  Anh nhớ Bích chứ?  năm 1965, anh lên Đà Lạt đi ăn cưới Bích; rồi chúng ta gặp nhau.  Bích là con gái Nhà in Cộng Đồng ở đường Minh Mạng, bạn thân của em; chắc chắn Bích sẽ cho mượn, anh ạ.
Tôi nhớ ra cô Bích rồi, và biết nhiều  về cô, hơn là Khê giới thiệu. Có lẽ Khê quên rằng Bích là vợ đại úy quân cảnh Lượt, trưởng đồn Quân cảnh Vũng Tàu-một trong số người si mê cô tỵ, con chủ quán "Aux Délices "trên đường Phan Thanh Giản.  Lượt với tôi chỉ là bạn sơ giao, nên buổi tôi tới thăm Tỵ; Lượt chẳng từng nói đùa:"... lươngđôc thân, tôi lãnh 7 ngàn, lương anh, cũng độc thân,  thì 8 ngàn; lại cơm ba bữa. quần áo có người giặt, ở trại sang như tiêu chuẩn Mỹ, giường nệm, drap trắng... nên cô Tỵ mết anh hơn là  chắc rồi!" 
- Cô Bích lại nhà ta bữa trước, tôi tiếp lời,  gặp anhđang ôm con gà trống bằng nắm tay dí mỏ vào cửa kính bắt ruồi.  Chẳng hiểu sao, nó biết cô Bích là người lạ, nó tìm cách vuột khỏi tay anh.
 Con gà này là bạn thiết để giải trí của những ngày sống chẳng ra sống ở Đà Lạt này.  Tôi nuôi nó khi nó vừa   tách khỏi vỏ được ít ngày; tôi chăm bẵm nó, và nó rất thích được tôi ôm nó, đưa lên cửa kính bắt ruồi làm mồi.  Thức ăn của nó , ruồi nhiều hơn gạo,  chắc chất tươi thực phẩm kia khiến tâm tính nó khá dữ dằn.  Nó mổ" đánh choóc" một cái là một chú ruồi biến mất vào họng; không còn bò loay hoay trên mặt cửa kính nữa rồi!
Tôi lại nói với Khê:
- Đi rồi, anh nhớ con gà quá, chẳng biết có còn ai cho nó ăn ruồi nữa không đây?
Tôi về nhà, nó  đang ăn ở đâu đấy- mặc - nó chạy  lại phía tôi như là mừng rỡ.
Buổi chiều áp Tết năm ấy,  bầu trời Đà Lạt vẫn còn rất lạnh.  Và có lẽ trong đời tôi,  khó mà quên buổi chiều hôm ấy- vợ chồng tôi tâm sự, và thầm hiểu nghĩa lý đời sống là thế nào, một cách thật sâu đậm!
Tôi, từ trên cao, nhìn xuống thành phố Đà Lạt- một Đà Lạt buồn trong mắt tôi, với  dẫy nhà  bậc thang, với ngọn thông trên đồi xa đứng thẳng, như fra61t vũng tâm trước phong ba thịnh nộ của mưa đồi, gió núi.
Đà Lạt sắp xa chúng tôi-nhưng Đà Lạt vẫn ở đấy với Đà Lạt muôn đời- từ thời hoang dã chưa được  bác sĩ Yersin khám phá ra, Đà Lạt vẫn làm bạn với thác, đồi, với Prenn, Gougah, Pongour..chiều mầu tím hoàng hôn đẹp diệu kỳ!

  Và chúng tôi đã rời Đà Lạt thì trời vừa xẩm tối. Nghĩ tới tiểu thuyết mang tựa" Đỉnh đồi hoa đào"- mới chỉ viết lên trang một : tựa đề cùng hàng chữ".. khởi sự ngày 12 tháng 12 năm 1966 tại 279/ 9 Phan Đình Phùng, Đà Lạt"- ngoài ra, chưa có thêm một dòng chữ nào tiếp cho chương 1. " Đỉnh đồi hoa đào"  - đến lúc này  vẫn chỉ là đỉnh hoa đào- mà chưa là  một tác phẩm tiểu thuyết mang tên tôi được in ra. (*)

---

( *  Đây là một trong hai tác phẩm bản thảo không  ra mắt đọc giả bao giờ - dầu chỉ là in rô nê ô đi nữa . " Đỉnh đồi hoa đào" bị bỏ dở nửa chừn g đã đành rồi. Còn một  bản thảo khác nữa, đã viết xong, tựa truyện" Hình ảnh một đám cưới" , xin giấy phép và được cấp - tôi giao cho anh Nguyễn Văn Hợi, giám đốc Nxb Thế giới ở Saigon - nơi này có một số anh em nhà văn" già", như  Nguyễn Đức Quỳnh, Thượng Sỹ, Vũ Bằng ... làm cố vấn văn chương, đọc, biên tập.  Anh Hợi  cho  biết, bản thảo của tôi đã được giao cho  nhà văn  Vũ Bằng đọc.  Rồi" anh ta" làm mất bản thảo ( điều này chẳng biết  thật, giả) . Mỗi  lần  hỏi, anh ta chỉ cười trừ, rối rít xin lỗi. "Đôi môi tím" ( thật thì anh ta có  đôi môi tím, da thiết bì, mắt ốc lồi, tên nào có tướng mạo này thì  phải đề phòng,  " chơi được rất khó". Tôi  nào" có  giao du, chơi với anh ta" đâu  , chỉ vì anh  Hợi giao bản thảo cho Vũ Bằng đọc , nên  tôi bực rọc không ít  về chuyện này. Tuy không phản ứng gay gắt  ,nhưng  thâm tâm thật sự khó chịu- nghĩ-  một nhà văn"  tiền chiến thành lão"(  tôi không dùng chữ" lão thành") làm mất bản thảo  một bạn văn, trẻ , dầu ở trường hợp nào đi nữa- không thể dễ tha thứ! Cuốn truyện bản thảo" Hình ảnh một đám cưới", viết khoảng 80 trang viết tay, chữ nhỏ, dòng xít xao, - kết quả , sau một buổi tối , đi uống cà phê với  nhà văn Thanh Nam ở quán" Gió Bấc "ra về, tôi kết thúc chương cuối, suốt đêm không chợp mắt.  Và, sáng hôm sau, Thanh Nam hỏi tôi:" ...sao mắt mày đỏ thế, đêm qua thức viết, phải không?" Gật đầu, trả lời:"..  ừ , cũng đã viết xong". Thế mà bây giờ,  cái ông "nhà văn Tây Tím" ( sước danh  anh em bạn viết cùng thời  đặt cho Vũ Bằng- con nhà bán giấy báo  cho các báo ở Hà Nội  khi xưa , ở  gần Chợ Đồng Xuân, học trường tây ở Hà Nội , học  giỏi văn hóa Phú lãng sa, mà  bản thân anh ta  lại không biết  coi trọng văn hóa, giữ gìn bản thảo được giao cho đọc- khi  làm mất, chỉ cười trừ xin lỗi suông sao?

  Sau 1975, tôi viết tiếp, mang tựa :" Truyện hoa đào năm ngoái" , đưa cho Nxb Đồng Nai cấp phép vào 2003-  biên tập viên- nhà văn nữ  rất trẻ Trần Thu Hằng- gọt ít trang, đề nghị  tác giả cho làm  bìa. Chàng giám đốc khi ấy, "mưu sĩ" Đăng Tấn  Hướng  nhiều mẹo vặt, lách trách nhiệm - bèn  đưa cho Hoàng  Văn Bổn ," cựu" giám đốc duyệt-  nhà văn"  thành lão"  này bác bỏ. Bìa  còn nguyên, bản thảo  vẫn  còn nguyên- tôi  lại  trao nhà văn nữ Trần  Thị Bông Giấy- Văn Uyển ( San Jose)"-cô chủ  đọc rồi ,bằng lòng xuất bản , sẽ in ngay. ( ở Mỹ mà ). Nhưng  sau , vẫn  bất thành- ' cô chủ"  đem  đăng  lên  web. www.tranthibonggiay.net .
Đến năm 2007-2008 ,  Từ Vũ  cho "tái đăng" Truyện hoa đào năm  ngoái"  trọn vẹn trên Newvietart.com. 
Và  lần này  lại được một nxb TW cấp phép, giao cho một " vệ tinh liên kết " lo  chuyện " sẽ "  in ấn, phát hành. 

  Vậy là số phận" một tác phẩm"  đều có" một số phận riêng", đành chờ thôi! "- TP chú thích) .


 
__________________________________________________________________________________________


... Còn Tiếp ...

(trích trọn chương 2 HỒI KÝ NGOÀI VĂN CHƯƠNG
Đồng Văn xb & Nhà Văn Nghệ Cali -USA- phát hành, 1995)










© Tác giả giữ bản quyền.
.Cập nhật theo nguyên bản tác giả gởi ngày 24.03.2010.
. TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN THẾ PHONG CHỈ ĐĂNG TẢI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM.

. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com