Καπετάν Μιχάλης - Kapitan Mikhalis



TỪ VŨ
phóng dịch

để kính tặng những người
còn thực sự nhớ đến những chữ :

- Tự Do - Độc Lập - Hạnh Phúc -

Từ Vũ

LƯỢC TRUYỆN :

Nối tiếp nhau, từ đời cha cho tới đời con, người dân đảo Crète (Hy Lạp) truyền lại cho nhau nỗi căm hận về kẻ xâm lược Thổ , những kẻ đã chiếm đóng , đàn áp các sắc dân không theo Hồi giáo tại cá quốc gia trong vùng Balkan kể từ ngày thành phố Constantinople (Istanbule hiện tại) bị người Thổ đánh chiếm : gần bốn thế kỷ thù hận, nguồn gốc của những cuộc nổi dậy và bị tàn sát không ngừng lặp đi lặp lại.
Năm 1821 đánh dấu bởi sự vùng dạy dành độc lập của các nước láng giềng . Tại Hy Lạp nói chung và tại Crète nói riêng, những người dân tự hỏi : Bao giờ mới tới lượt mình?
Mỗi mùa xuân, mùa của đổi mới, câu hỏi làm tâm trí mọi người Hy Lạp ở Crète chao đao hơn bao giờ hết và chỉ cần một sự kiện thật nhỏ nhặt cũng đủ là nguyên cớ cho toàn đảo Crete bốc cháy. Tại các đô thị và tại dinh thống đốc, người thống đốc Thổ và người lãnh đạo dân Thiên chúa giáo địa phương phải có trách nhiệm ngăn ngừa trận "hỏa hoạn" này.
Đó là lý do vì sao, không bao lâu trước mùa Phục Sinh năm 1889, Nouri Bey có bổn phận triệu tập Kapitan Mikhalis và bảo ông ta phải quở trách em ông Manousakas, về việc dẫn một con lừa vào nhà thờ hồi giáo như để ngạo báng. Cũng muốn xoa dịu người khách được mời, Nouri Bey gọi người đẹp của ông ta , Emine Hanoun , đến hát mừng chào đón một cách danh dự người khách : Chính đấy là tia lửa châm ngòi cho thùng thuốc nổ và tạo nên một trong những thời kỳ bạo lực dữ dội nhất trong cuộc chiến dành độc lập chống lại quân Thổ xâm lược do các nhân vật của tiểu thuyết sử thi này cầm đầu .

Καπετάν Μιχάλης - Kapitan Mikhalis - Tự Do hay Chết - La Liberté ou La Mort - Freedom or Dead , là một trong những kiệt tác của văn học Hy Lạp và đã được chuyển dịch sang hầu hết các thứ tiếng trên thế giới.

Newvietart hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết Καπετάν Μιχάλης lần đầu tiên được chuyển dịch sang Việt ngữ của Từ Vũ .

CHƯƠNG XII


Kỳ thứ 4


Đêm trôi qua, biển lại êm . Từ trên tầu, người ta có thể trông thấy đảo Crète ở xa xa. Ngày lên. Một cơn gió đầy hương hoa cây kinh giới ô thổi từ những ngọn núi xuống và Kosamas, người cháu nội đầu tiên của Kapitan Sifakas, đứng trước mũi tầu; hít thở thật sâu vào lồng ngực không khí quê hương mình. Vài hòn núi đá hoang dại, cây mọc đây đó, tạo nên một khối đen phiá xa trước mặt, những đỉnh núi dần sáng hồng. Một ngày xuân trong giữa mùa đông giá. Thượng đế đã ban phát ánh sáng vì tội nghiệp đám chim chóc và loài người ở đó . Kosmas ngẩng cao cổ chiêm ngưỡng thân thể quê hương Crète của anh ta nơi anh đã từ biệt khi được hai mươi tuổi, trẻ và đôi mà còn đầy những sợi lông tơ, đầu óc còn mù sương u ám và lúc này, anh được tìm thấy lại!. Đứng cạnh anh ta, một người đàn bà còn trẻ, nhỏ nhắn, gầy, xanh ; Cô ta cũng vậy, nhìn đảo Crète bằng đôi mắt khiếp sợ.

- Đấy là đảo Crète, người thanh niên nói với người đàn bà . Người thanh niên cười và chạm vào vai người đàn bà một cách thật dịu dàng.

Người đàn bà trẻ rùng mình, chỉ đáp lại duy nhất bằng một tiếng :

- Dạ !

- Chính ở nơi này em sẽ cho chào đời đứa con trai của chúng ta, người thanh niên tiếp tục nhẹ nhàng nói, giọng hạ thấp xuống. Đây là tổ quốc của em. Hãy quên đi tổ quốc khác...

- Dạ, Kosmas...Người đàn bà trẻ đáp lời chồng rồi lại im lặng. Bất thần, cô nắm lấy cánh tay chồng, siết thật chặt, vẻ lo sợ, hệt như làm như vậy để tự tin vào sự hiện hữu của cô. Sau đó, người đàn bà tỏ ra yên tâm hơn một chút.

Đảo Crète càng lúc càng gần, với những rặng núi, những vườn olive, những vườn nho. Dưới kia, Candie sáng rực trong ánh nắng ban mai. Hương hoa cây kinh giới ô trở nên nặng mùi hơn. Nắng , tỏa xuống từ những đỉnh nuí lúc này đã toả xuống tới chân núi rồi nhẹ nhàng loang ra vùng đồng bằng, tràn ngập tất cả cảnh vật. Mé chân trời, bóng cây đã đứng tách biệt hẳn nhau, vẳng đâu đây trong sự dịu dàng của buổi sáng, có tiếng gà trống gáy, mọi người đã thức dạy.

Người thanh niên cúi mình về phiá vợ anh ta.

- Anh xin em, người thanh niên nhẹ nhàng nói, em sắp sửa về ngôi nhà của cha anh rồi, đừng e ngại gì, phải mạnh mẽ lên chứ. Em cứ nghĩ rằng lúc nào anh cũng có mặt cạnh em. Cứ nghĩ rằng em đang mang trong người đứa con trai của chúng ta, em không được sợ sệt cái gì... Mẹ anh là một người mẹ vô cùng hiền hậu, mẹ sẽ thương yêu em. Còn em gái của anh, anh phải nói với em...

Tới đây, người thanh niên im lặng, nhăn cập chân mày.

- Gì hở anh? Người vợ trẻ lo âu lên tiếng hỏi chồng .

- Lúc nó mới được mười hai tuổi, "ông già" gọi nó lại rồi bảo nó "Từ nay trở đi tao cấm chỉ mày không được bước chân ra khỏi cổng nhà. Mày cũng chớ bao giờ xuất hiện trước mắt tao, cút đi !". Thế là từ hôm đó, con bé đáng tội này tự giam mình trong nhà. Suốt ngày, nó ngồi cắm cúi dệt, thêu, thắt những chùm dây chìa khoá. Mỗi buổi chiều khi " ông già " trở về nhà, nó cuống cuồng chạy trốn trong một góc nhà. Vào lúc nó được hai mươi tuổi, ngày đó, nó để ý đến một người đàn ông đi qua đi lại ngẩng nhìn nó qua cửa sổ nhà. Ngày hôm sau cũng vậy. Ngày kế tiếp cũng như thế. Một buổi tối, người đàn bà hàng xóm cầm lại đưa cho nó một tấm thiếp của người đàn ông kia nhờ chuyển lại. Rồi tấm thiếp khác, tấm khác nữa...Anh ta yêu thương nó, hình như thế, anh ta ước ao rằng, một tối nào đó, nó đi ra đưởng để gặp anh ta , hai người sẽ chuyện trò để cùng tìm hiểu nhau rồi sau đó sẽ cưới hỏi. Dần dà, con bé thấy thương hại anh chàng này và một tối, nó nhờ bà hàng xóm chuyển lại lời hẹn :" Đúng nửa đêm, tôi sẽ ra chờ ở ngay trước cổng nhà !. "

Kosmas nín lặng, một lằn gân máu gồ lên giữa hai cặp chân mày cùng lúc đó máu trong người anh sùng sục cuộn chảy. Sự căm ghét, sợ sệt , niềm cảm phục như cùng lúc dấy lên trong lòng người thanh niên. Ở ngoài biển xa, Crète biến dạng và, lửng lơ trong khoảng trống, bóng dáng đe dọa của thần chết như ra dấu hiệu với Kosmas.

- Thôi ngừng đi anh, người đàn bà trẻ thì thào, ngừng đi anh, đủ rồi! dứt lời cô đưa tay lên bịp miệng chồng.

- Không, em cần phải biết, Kosmas đáp lại vợ, cần phải biết. Nửa đêm hôm đó, như đã hẹn trước, em anh đi chân đất, rón rén từ trên lầu xuống vì sợ tiếng ván sàn cọt kẹt kêu. Nhưng "ông già" đã thức dạy. Ông ấy nghe được, lẻn theo sau như một con thú đi rình mồi. Con bé vượt sân và đúng ngay lúc nó định mở chốt cổng , ổng chồm tới, túm tóc, những chiếc móng tay nhọn hoắt của ông bấu nghiến vào da dầu nhỏ bé của nó, lôi nó vào phòng, quẳng nó ở đó rồi khoá lại bỏ chìa khoá trong tuí ông ấy trong lúc con bé đã bất tỉnh nhân sự. Ông ấy cũng chẳng nói gì với bất cứ ai trong nhà, nhưng kể từ hôm đó, em anh không bao giờ xuất hiện ở cửa, ở cửa sổ ". Suốt nhiều năm..."Ông già" - Cha anh bị tử trận ở Arcadi, nhưng đã hơn hai mươi năm trôi qua kể từ đêm đó và em gái anh cũng không còn một cớ sự gì nữa. Ban ngày em anh làm việc, giặt giũ, nấu ăn, dệt và vẫn tiếp tục làm những chùm dây chìa khoá. Về đêm, nó không ngủ , rồi cứ gần tới nửa đêm là nó mở cửa sổ phòng, cúi nhìn ra ngoài, nếu tình cờ một người đàn ông nào đó trễ nãi đi qua là nó như khiếp hãi la lớn lên : "Sắp tới nửa đêm chưa? Sắp tới nửa đêm chưa ?".
Kosmas ngưng lại. Mái tóc hoe vàng, đôi mắt xanh trong, sự dịu dàng và nụ cười của em gái anh lúc còn thơ ấu hiện hệt như anh đang dõi mắt nhìn được những hình ảnh đó từ đáy đại dương sâu thẫm đang trải dài ngay dưới chân Kosmas.
Kosmas chậm rãi bước vài bước trên sàn tầu, cúi xuống, chợt nhận ra đám lính Thổ đang chen chúc dưới tầng dưới . Hơi hám vô cùng khó chịu của bọn chúng nồng nặc xông lên làm anh phải quay mặt đi chỗ khác..."Crète khốn khổ..." vừa lẩm bẩm , Kosmas vừa lấy tay lần rờ chiếc thư chứa thông điệp bí mật dấu trong lần vải lót của chiếc áo veste anh đang mặc.
Kosmas quay lại phía người vợ trẻ :

- Anh xin em, người thanh niên lập lại, em sắp về nhà cha anh, đừng hãi sợ gì nghe em.

Crète càng lúc càng gần lại như chuyển động nhấp nhô trước mũi con tầu hệt như một con thủy quái nguy hiểm. Giờ thí Kosmas phân biệt được rõ rệt, đàng sau Candie, về hướng Nam, ngọn nuí Youchtas lừng danh có hình dạng một người đàn ông với chiếc sọ đầu thật to ngẩng mặt nhìn trời. Trên cao đó, vượt những vườn cây olive, vườn nho, cái trán cứng cỏi, đứng sững; chiếc mũi sương xẩu, cái miệng thật rộng với chòm râu bằng đá và những vực thẳm. Youchtas nằm dài ngửa người, xanh, đen , chết , Trời sững sờ khe khắt, chiếc gáy hơi nhỏm cao một chút như muốn để người đá này canh chừng cho Crète nữa.
"Ông ta chưa chết, người đá vĩ đại này, bất thần một luồng tư tưởng chợt hiện trong đầu khi Kosmas nhìn chòng chọc rặng núi đáng e ngạo đó. Cho tới lúc nào ông ấy còn sống, còn làm ta bồn chồn, ổng sẽ không bao giờ chết; khi nào mà ta còn sống và còn nghĩ tới ổng, ông ấy sẽ không thể bị hủy diệt được.Những kẻ khác đã quên ông , sự sống còn của ông ấy tùy thuộc vào một mình ta. Ổng dính liền vào ta và ta cũng dính liền vào ông ...
Những kỷ niệm về người cha mọc mầm bám rễ trong lòng Kosmas, từ chối không chịu rời anh. Lúc sống cuộc sống lưu vong, anh đã run rảy hãi sợ khi nghĩ về cha anh. Nhưng chưa bao giờ như vào phút giây này, anh có cảm giác là cái chết biểu hiện trong anh với một cường độ như vậy."Thần chết đã nhận ra được vì lẽ gì mà ta trở về Crète, Kosmas ngẫm nghĩ, và nội dung của cái thông điệp bí mật mà ta đem về. Thần chết đã đánh mùi , muốn nhẩy chồm vào ta, ngăn cấm không cho ta , một người anh hùng đĩnh đạc, được nói ra. Kosmas bực dọc. Quay lại nhìn người vợ lúc này đã có vẻ bình tĩnh một chút. Người vợ trẻ của anh đang ngồi trên một đống giây thừng, trước mũi tầu. Đôi mắt đen lớn nhìn chòng chọc về mé thành phố càng lúc càng hiện ra rõ nét với những thành lũy rập kiểu Venise, những ngôi nhà thấp và những chiếc tháp giáo đường hồi giáo màu trắng bệch...
Kosmas ôm eo vợ, đặt bàn tay lên bụng nàng, cảm nhận được hơi nóng của thân thể vợ mình, mùi hơi thở và bất thần một sự ham muốn bừng lên trong anh, anh đè ngả đầu vợ mình trên đám giây thừng rồi hôn. Từ hai năm nay anah chàng đã được thụ hưởng không chán cái thân thể nhỏ nhoi, ấm áp này, cái thân thể từ một vùng đất thật xa tới Hy Lạp này, xuất thân từ một chủng tộc ngoại quốc với tổ tiên cũng bị truy hại . Kosmas có cảm tưởng là cha anh, trong chính thâm tâm anh, đang chăm chú nhìn người đàn bà di dân trẻ này, bằng cái nhìn căm giận. Và tình yêu của achàng trai đối với người vợ trẻ của anh lại càng tăng thêm để trở thành một sự khiêu khích cho cha anh ta; Kosmas ôm siết vợ, che chở cho vợ, từ chối đưa nàng giao cho thần chết...

- Noémi, Kosmas nói thật nhỏ vào tai vợ, Noémi, anh cảm ơn em vì em đã hiện hữu trên cõi đời này .
Người vợ trẻ ngả đầu, rúc vào lồng ngực chồng làm như muốn được chui tọt vào đó để vĩnh viễn biến mất.

Ánh sáng thay đổi, màu hồng nhạt của buổi sáng, màu hồng trở thành một thứ hoa rộng cánh, một màu trắng rực rỡ, và biển, phủ đầy những đợt sóng nhỏ có hình dạng như những chiếc vú, nhún nhảy, căng mình sưởi dưới ánh mặt trời. Bầu trời, lau sạch lớp sương mù buổi sớm, đã biến ra màu xanh kim loại.

- Mỗi sáng, người vợ trẻ thở dài rồi lên tiếng nói với chồng, cha em một vị rabbin (giáo trưởng Do Thái giáo) vừa khóc vừa mở cửa sổ phòng ông rồi nói "Thật tuyệt đẹp, thật huyền diệu "
" Thực ra trong lúc đó, cha em chỉ nhìn thấy những ống khói đen ngòm, một dải trời vừa nhỏ lại vừa xám sịt với những người thật lem luốc áo quần tả tơi đang lập cập run lên vì lạnh...ba em sẽ nói gì, Trời ơi, ông sẽ nói gì nhỉ, nếu ông nhìn được đảo Crète ! "

- Khốn khổ cho Crète...Một người đàn ông lớn tuổi đang đứng không xa hai vợ chồng Kosmas lẩm bẩm : " Crète khốn khổ! Nếu là một người đàn bà nhất định là Crète sẽ phải được lên thiên đàng nhưng ... Crète khốn khổ của ta, Crète lại chỉ là một hòn đảo!".
Dứt câu, ông ta nhíu mày nhìn với vẻ đầy thù hận những tên lính Thổ đang lục tục từ dưới hầm tầu vừa kéo nhau lên vừa cài lại nút áo quần, chỉnh lại vũ khí .

- Đám chó bẩn thỉu ơi ! Bọn bay đang chúi đầu vào chỗ chết mà đâu có biết ! Hãy đếm thử một cái xem, cũng nhiều xác chết chứ đâu phải chơi đâu! Dứt lời ông quay nhìn Kosmas tiếp.

- Nhờ Trời thương, năm nay những cánh đồng lúa đại mạch của chúng ta chắc chắn sẽ được mùa . Thi thể bọn lính Thổ là một loại phân bón tốt đó! Dứt câu, ông ta như khoái chí sặc sụa cười .

- Ôi, những người đàn ông Crète, tâm tư tối thẫm, cố chấp. Mình đang đi vào rừng thẳm, người đàn bà trẻ vừa thì thầm nói với chính mình vừa đưa mắt nhìn người chồng trẻ với nụ cười nhẹ nhàng như để làm nhẹ bớt vẻ trầm trọng của câu nói. Em nghĩ là em sẽ không sống sót để thoát ra khỏi đây được, người đàn bà tiếp tục lầm bầm, thật nhỏ tới độ khó có người nghe được.

Con tầu vào bến. Về mé bên phải, chạm chìm vào núi đá, con sư tử đá nổi bật với quyển sách Phúc âm mở rộng, giữa hai vuốt chân. Bến tầu nhộn nhịp người, một mùi chanh ủng, dầu và trái minh quyết trộn lẫn nhau nồng nặc sông lên. Phía sau, biển động đạy sủi bọt. Kosmas nhảy xuống bến, đưa tay cho vợ anh :

- Đặt chân phải của em xuống trước. Kosmas ngẩng lên nói với vợ thật nhẹ nhàng. Trời ơi, em có lý, đúng là em đang đi vào rừng !

Bàn chân phải của Noémi chạm xuống đất Crète lần đầu tiên. Cô bám lấy cánh tay chồng, mệt mỏi.

- Em mệt lắm anh ạ, người vợ trẻ lên tiếng, mồ hôi lạnh phủ đầy hai thái dương của cô.

- Nhà mình cũng không xa, can đảm lên nghe em. Mình sắp đến rồi.

Cả hai tiến bước. Kosmas nhìn hau háu những ngôi nhà, người, phố xá. Tất cả đều đã cũ . Những mái tóc đen nay đã trắng, những gò má nay đã trũng xuống, mầu sắc nhạt mờ đi, những bờ tường mòn theo ngày tháng, nhiều nơi đã đổ phế. Anh nắm bàn tay người vợ trẻ, siết chặt.

- Đây là tổ quốc của anh, Kosmas lên tiếng. Đúng, từ cái nền đất mà chúng ta đang dẫm này mà anh được tạo ra.

Người đàn bà trẻ ngừng lại ,cuí đầu xuống nhặt một chút đất rồi bóp nát nhuyễn :

- Đất nóng anh ạ, em thích . Dứt tiếng, cô ta nghĩ về vùng đất quê hương của cô, thật xa và cũng thật lạnh.

Hai người đi vào những con đường hẹp hơn. Kosmas rời tay vợ rồi đi trước, bước chân vội vã. Tim anh đập mạnh. Rẽ phía phải vào một con đường nhõ. Từ xa, anh đã phân biệt được chiếc cổng nhà cha mình. Cổng đóng, cửa sổ ở trên lầu cũng đóng kín. Tiến lại gần chiếc cổng cũ kỹ với một chiếc búa gõ cổng bằng sắt thật lớn. Hai đầu gối Kosmas như muốn quỵ xuống. Anh cố trấn tỉnh .

Nắm chiếc gõ cổng anh nhịp nhịp thật mạnh. Tiếng chân bước trong sân, tiếng người nào đó thở dài. Bước chân ngừng lại. Kosmas lại nhịp nhịp chiếc buá gõ cổng. Cánh cổng mở ra, một người đàn bà đã già hiên ra , đầu trắng toát, người quắt lại, trang phục một màu đen. Khi nhìn thấy người khách gõ cổng, bà ta kêu lớn lên :

- Con của tôi, con trai của tôi! Dứt tiếng kêu, bà bám lấy khung cổng để không bị ngã qụy.

Em gái Kosmas cũng xuất hiện, cũng gầy còm, cũng héo hon , mái tóc xám, đôi mắt đầy vẻ cay đắng với một nét độc ác nào đó. Bộ ngực cô ta nay cũng đã bằng phẳng, chán chường vì chờ đợi qua biết bao năm thắng . Cô ngã qụy xuống đất.

Biết bao mừng vui ! Biết bao dòng lệ tuôn chảy ! .Những vòng tay choàng ôm thân thể thương yêu ... Rồi bất thình lình, trong khi ôm chặt người con trai lưu vong từ bao năm nay đột nhiên trở về vời bà, trong khi bà nói với anh ta hệt như thưở nào khi anh còn bé bỏng được bà dưỡng nuôi với hai bầu sữa của bà, bà chợt nhận ra một người đàn bà trẻ vẫn còn đứng ở ngưỡng cổng nhà bà.

- Đây là ...? Bà lên tiếng nhẹ nhàng .

- Vâng, vợ của con.

Em gái Kosmas vừa nghe dứt câu đã quay mạt ngay đi nơi khác. Người mẹ cúi xuống nói với con trai :

- Sao con lại đi lấy nó? Con đã làm bẩn dòng máu nhà ta rồi. Nó là một con Do Thái bẩn thỉu.

- Mẹ ạ, Kosmas vừa nói thật dịu dàng vừa cuí đầu hôn lên bàn tay nhăn nhúm của mẹ, con xin mẹ ban ơn ...

- Con là lòng dạ, thịt da của mẹ thế mà con xin mẹ ban ơn sao ? Mẹ tùy thuộc vào con, tất cả, hãy ra lệnh cho mẹ .

- Con giao phó vợ con cho mẹ, mẹ...xin hãy yêu thương nó...Rồi con trai của con, cũng thế, Kosmas nói thêm, thật dịu dàng hơn .

Bà mẹ nhẩy nhổm người. Nhìn con trai mình. Câm lặng, như thăm dò, hỏi han người con trai.

- Vâng, Nó đang mang trong mình nó đứa cháu trai của mẹ.
Một luồng hơi ấm từ ngực người mẹ như dâng lên cuống họng, gò má bà . Rồi tận sâu thẳm trong lòng chợt như có một cái gì nặng nề đè ép làm bà rùng mình sợ hãi, lên tiếng run rẩy hỏi nhỏ con trai :

- Ông ấy! Con đã xin phép ông ấy chưa ? Ông ấy đã biết chưa?
Ngừng lại một giây, bà nói tiếp thật dịu dàng tuy giọng bà vẫn như bị bóp nghẹn, gần như để người chết không có thể nghe được :

- Ông ấy là ngưòi chỉ huy , chính ông ấy là người con phải hỏi xin sự ban ơn ...Mẹ sợ ông ấy lắm!

- Ông ấy làm gì chớ ? Người con trai như hốt hoảng hỏi mẹ.

- Làm sao mà mẹ biết được chớ? Ông ấy chẳng còn thi thể để cho mình biết ông ấy ở đâu nữa. Bây giờ không biết chừng ông ấy ở trong sân nhà mình để ngăn cản vợ con bước vào nhà ...

Người con trai bùng cơn giận :

- Ông ấy chẳng còn có thể làm bất cứ cái gì ông ấy muốn được nữa ! Bây giờ ông ấy không còn là người chỉ huy ở đây nữa. Con ra dắt vợ con vào cho ông ấy biết .

Dứt câu, Kosmas rảo bước, vượt sân; tim đập mạnh vừa vì sợ hãi lại vừa vì tức giận. Đột nhiên, giọng nói của anh trở thành khàn khàn :

- Chryssoula, lại đây với anh.

Vừa nắm tay người vợ, đưa lại trước mặt mẹ, anh vừa nói :

- Mẹ, đây là con gái của mẹ...

Người đàn bà trẻ cuí đầu, hôn nhẹ bàn tay người đàn bà lớn tuổi rồi đứng yên chờ.

Lặng lẽ, bà mẹ nhìn chăm chú chiếc mũi khoằm, cặp môi dầy, mái tóc hung vàng , cặp mắt to đầy vẻ âu lo, chiếc dây chuỗi vàng quanh cổ Noémi.

- Cô đã làm lễ rửa tội hả ? Bà mẹ lện tiếng hỏi, vẫn chưa đưa tay bà lên cho người đàn bà trẻ nắm.

- Nó đã rửa tội rồi, người con trai lên tiếng đáp thay vợ. Đây, cây thập giá của nó này. Nó còn mang tên của mẹ nữa đó? Tên nó là Noémie nhưng bây giờ là Chryssoula.

Dứt câu anh thò tay kéo sợi dây chuyền với chiếc thập giá nhỏ từ trong lồng ngực ấm của người vợ .

- Mừng con đã đến nhà này. Sau vài phút lưỡng lự, người mẹ vừa nói vừa đưa tay rờ lên đầu người đàn bà trẻ.

Tất cả mọi người cùng bước vào nhà.

Kosmas đi khắp nhà, nhìn hết chỗ này sang chỗ khác, lòng nặng trĩu. Anh đi lên, đi xuống lầu, im lặng đưa tay ve vuốt những cánh cửa, bàn ghế tủ , đồ đạc trong nhà, chiếc đồng hồ lớn treo trên vách, những cây súng lục bằng bạc cổ truyền , gần những bức hình thánh vẽ trên gỗ.

- Còn ông nội ra sao? sau cùng anh cất tiếng hỏi mẹ.

- Ông nội ở dưới làng. Nay cũng đã một trăm tuổi rồi nhưng cụ vẫn còn rắn rỏi lắm. Thần chết không thích. Ông nội vẫn thường hay hỏi thăm tin tức về con.

Hai người đàn bà cùng ngồi trên chiếc tràng kỷ dài. Người mẹ nhìn cậu con trai. Nó đã lớn thực! Bây giờ nó là một người đàn ông rồi, giống như ông nội nó, Kapitan Sifakas. Cũng cùng cái nhìn trìu mến vuốt ve, cũng cái miệng, hồn nhiên và nhã nhặn... thỉnh thoảng bà mẹ liếc nhìn người đàn bà trẻ: Biết nói với nó cái gì bây giờ? bà nghĩ, nó là một chủng tộc khác mình, một ông trời khác tạo ra nó, mình đâu có muốn!" Người đàn bà trẻ thì nhìn cái sân rải đà, những chiếc bình trồng cây húng dổi, dàn nho trơ trọi vì muà đông, ở trên bể nước, và bên kia sân, sau dàn nho, cánh đồng trải dài ngút mắt tuyết phủ trắng xóa, những rặng cây cóng lạnh, những thành phố tối thẳm, những đoàn lính kỵ binh Cazăc với những thanh kiếm vung cao trong tay, phá vỡ những cánh cửa nhà và tàn sát những người Juifs (1)... Tuyết rã tan dưới dòng máu nóng tuôn chãy, biến thành một thứ bùn màu hồng điều và những đòan người đàn ông, đàn bà, trẻ em vội vã vừa chạy vừa kêu la...

Người đàn bà trẻ đã muốn lên tiếng nói : Cha tôi không hề để dơ bẩn bàn tay vào việc làm ra những cái máy giết người, ông ấy là một vị rabbin...nhưng người đàn bà trẻ đã im lặng.

- Con đang nghĩ gì vậy? Mẹ Kosmas hỏi. Nghĩ về quê quán nơi con sinh ra phải không ?

- Xa lắm, xa lắm...Ở một thành phố đầy nhà máy.

- Nhà máy gì ? Người ta làm gì trong đó ?

- Những khẩu súng, những ca nông, máy móc...nhưng cha cùa con...

Người đàn bà trẻ muốn nói : "Cha của con không nhúng tay vào việc làm những máy móc giết người. Ông ấy là một vị rabbin (2)...", nhưng cô giữ lại.

- Cái gì, cha của con? Người mẹ già hỏi.

- Đó là một người đàn ông can đảm, người đàn bà trẻ đáp lại trong tiếng thở dài.

Bà mẹ già đứng lên, bước ra sân, ngắt một cành cây húng dổi, trở lại vừa đưa cho người đàn bà trẻ vừa hỏi :

- Ở quê của con có cây húng dổi không ?

- Không.

- Cây này mọc từ mộ của Chúa Cứu Thế, người mẹ già nói rồi yên lặng .

Tin vui truyền lan khắp xóm. Những bà hàng xóm bắt đầu hớn hở kéo nhau tới đầy nhà. Các bà xem xét từ đầu tới chân người đàn bà Do Thái trẻ hệt như xem xét một con thú lạ nào đó mà các bà chưa bao giờ được nhìn thấy. Mới đầu thì chỉ quan sát bằng mắt rồi từ từ sáp lại gần, những cánh mủi phập phồng đánh hơi...

- Này bà có thấy mùi người nó ra sào không ? Một bà nói nhỏ với bà bạn đứng bên cạnh.

- Nó có mùi Do Thái, bà nọ đáp lại với đôi môi hơi chúm lại . Đó, mùi tụi nó như thế đó.

Kosmas nhìn vợ mình với ánh mắt thật trìu mến thương cảm. Nàng như một con thiên nga bị thương đứng giữa đám ngỗng, vịt và chim bách thanh đang cùng dương cổ quan sát rồi đồng loạt kêu inh ỏi.

Maria bưng ra một chiếc khay cà phê và mứt. Maria cằn cỗi hẳn đi. Một giải đen quấn quanh cổ để che những vết nhăn. Maria hằn học nhìn Chryssoula làm như người đàn bà mà Kosmas dẫn về là một kẻ thù của cô. Người đàn bà này trẻ, xinh xắn hơn cô ta và đã chiếm mất người anh của cô.

Kosmas đứng phắt dạy, anh không thể nào để mất thời giờ được nữa.

- Bây giờ tôi phải làm một vòng để chào tất cả Candie... Kosmas lên tiếng nói với tất cả mọi người rồi ra cửa bước nhanh về hướng tòa tổng giám mục .


__________________________

Ghi chú :

(1) người gốc Do Thái
(2) trưởng giáo Do Thái giáo.


... CÒN TIẾP ...

Khởi dịch tại La Serénité - Troyes, 00 giờ 13 ngày 04.02.2010.



© Dịch giả giữ bản quyền.
. Lần đầu tiên đăng tải trên Newvietart.com ngày 06.03.2010.
. Tất cả các bản sao chép lại không ghi rõ nguồn Newvietart.com
là những bản xử dụng bất chính , vừa thiếu văn hóa vừa bất hợp pháp.