Καπετάν Μιχάλης - Kapitan Mikhalis



TỪ VŨ
phóng dịch

để kính tặng những người
còn thực sự nhớ đến những chữ :

- Tự Do - Độc Lập - Hạnh Phúc -

Từ Vũ

LƯỢC TRUYỆN :

Nối tiếp nhau, từ đời cha cho tới đời con, người dân đảo Crète (Hy Lạp) truyền lại cho nhau nỗi căm hận về kẻ xâm lược Thổ , những kẻ đã chiếm đóng , đàn áp các sắc dân không theo Hồi giáo tại cá quốc gia trong vùng Balkan kể từ ngày thành phố Constantinople (Istanbule hiện tại) bị người Thổ đánh chiếm : gần bốn thế kỷ thù hận, nguồn gốc của những cuộc nổi dậy và bị tàn sát không ngừng lặp đi lặp lại.
Năm 1821 đánh dấu bởi sự vùng dạy dành độc lập của các nước láng giềng . Tại Hy Lạp nói chung và tại Crète nói riêng, những người dân tự hỏi : Bao giờ mới tới lượt mình?
Mỗi mùa xuân, mùa của đổi mới, câu hỏi làm tâm trí mọi người Hy Lạp ở Crète chao đao hơn bao giờ hết và chỉ cần một sự kiện thật nhỏ nhặt cũng đủ là nguyên cớ cho toàn đảo Crete bốc cháy. Tại các đô thị và tại dinh thống đốc, người thống đốc Thổ và người lãnh đạo dân Thiên chúa giáo địa phương phải có trách nhiệm ngăn ngừa trận "hỏa hoạn" này.
Đó là lý do vì sao, không bao lâu trước mùa Phục Sinh năm 1889, Nouri Bey có bổn phận triệu tập Kapitan Mikhalis và bảo ông ta phải quở trách em ông Manousakas, về việc d'n một con lừa vào nhà thờ hồi giáo như để ngạo báng. Cũng muốn xoa dịu người khách được mời, Nouri Bey gọi người đẹp của ông ta , Emine Hanoun , đến hát mừng chào đón một cách danh dự người khách : Chính đấy là tia lửa châm ngòi cho thùng thuốc nổ và tạo nên một trong những thời kỳ bạo lực dữ dội nhất trong cuộc chiến dành độc lập chống lại quân Thổ xâm lược do các nhân vật của tiểu thuyết sử thi này cầm đầu .

Καπετάν Μιχάλης - Kapitan Mikhalis - Tự Do hay Chết - La Liberté ou La Mort - Freedom or Dead , là một trong những kiệt tác của văn học Hy Lạp và đã được chuyển dịch sang hầu hết các thứ tiếng trên thế giới.

Newvietart hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết Καπετάν Μιχάλης lần đầu tiên được chuyển dịch sang Việt ngữ của Từ Vũ .

CHƯƠNG XII


Kỳ thứ 2



Lúc hai ông cháu Thrassaki bước vào thì nhà đầy người. Đàn bà trong gia đình và những người đàn bà láng giềng cũng đều có mặt. Cả xóm tụ lại để nghe người thợ làm thơ ngâm thơ già, Kriaras, vừa từ đâu tới . Chỉ ở tại nhà Kapitan Sifakas này là người ngâm thơ già mới có thể có được những thức ăn vừa ngon lành lại vừa dư giả nhất trong làng; hơn nữa ông lại còn có thể tạm trú bao lâu cũng được. Người ngâm thơ dạo già để một bộ râu dài rất đặc biệt vì được chia ra làm hai điểm, cặp mắt màu xanh, ăn to nói lớn, ưa rượu trà và khi còn trẻ rất thích tán tỉnh đàn bà con gái. Trong một cuộc vùng dạy đòi độc lập ngày trước, khi đó ông ta hãy còn non choẹt, làm mục đồng chăn cừu trên nuí vùng Mehmet-Ali, cạnh Kastéli. Chàng mục đồng trẻ nổi máu yêu nước vất chiếc gạy chăn cừu cầm súng lùa hết cả trâu, bò của chủ tới hiến tặng cho đoàn người kháng chiến đang thiếu thốn lương thực. Từ khi toàn đảo Crète lại bị rơi vào vòng nô lệ của bọn Thổ, Kriaras không bao giờ còn dám bước chân quay lại vùng Kastéli nữa. Ông lang thang hết nơi này qua nơi khác quanh vùng Réthymno, làm từ nghề khuân vác hành lý , rồi sang nghề bán hàng rong, sau đó sang nghề đánh đàn lyra... Thích chọc ghẹo đàn bà con gái nên ông ta cũng bị ăn đòn nhiều lần nhưng rồi vẫn chứng nào tật nấy phải đợi tới ngày hôm đó gặp đúng tay Kostandaras, một người cầm đầu đám chăn cừu trên đỉnh núi Ida, lấy dao mà anh ta thường xử dụng để thiến những chú cừu đực xử tội vì Kriaras đã dụ dỗ Kroustalénia, con gái cưng của anh chùm chăn cừu này. Rất có thể là chàng làm thơ ngâm thơ dạo này đã bị thiến mất bộ đồ lòng của ông ta, như nhiều người đồn đại, vì từ sau vụ đó Kriaras đầm tính hơn , mập mạp ra rồi khởi sự chuyển sang hành nghề làm thơ ngâm thơ. Kriaras đi hết làng này sang làng khác ngâm thơ do chính ông ta tự biến chế ra để mưu sinh.

Những người nhà quê xúm lại quanh ông Kriaras, tròn mắt thán phục tài nghệ của ông ta và tự hỏi làm cách nào mà ông lại có thể tìm ra được những câu, những chữ rồi gắn ráp lại để ngâm kể những điều, những câu chuyện làm cho họ phải rơi nước mắt mỗi khi nghe.

Cuộc đại cách mạng như sống lại trong những câu thơ được ngâm lên, những vị anh hùng thân thoại như thoát ra từ đáy mộ , thánh Arcadi bừng dạy đến ngay chính những người già cả cũng còn phải rút muì xoa thấm nước mắt. "Arcadi vẫn cầm cự và chiến đấu, người nghe tưởng tượng, vị thánh hiển linh này vẫn sáng chói, vẫn sống động, tồn tại qua những vần thơ của Kriaras, nghĩa là tồn tại muôn thuở.

Khi nghe ông, người ta tự biển đổi để trở thành tốt đẹp hơn; ngay những kẻ hà tiện cũng còn vui vẻ mở hầu bao, mở tủ đựng thức ăn dự trữ rồi trút vào hai chiếc túi đeo vai của ông ngâm thơ dạo hết đậu trắng, đậu đỏ, hạt dẻ ... đến bánh mì, mướp ... lẫn lộn đủ thứ trong khi đó khuôn mặt xám nắng của Kriaras nở một nụ cười thật sảng khoái nhìn hai chiếc tuí càng lúc càng đầy .

Ngày hôm đó, những người đàn bà nhà quê ở đây đã nhìn thấy Kriaras từ xa. Ông ta đã vượt nuí, vượt đồi tới đây, chắc hẳn ông ta phải có tin tức về chồng, con của họ. Thế là các bà xúm lại đi theo ông ta để hỏi thăm nhưng lần này thì Kriaras lại vội vàng, đi thẳng tới nhà cụ già Sifakas, ông đang đói.

Đúng vào lúc hai ông cháu Thrassaki bước vào , ông già Kriaras đang ngồi chễm chễ trên một chiếc ghế gỗ chạm, ngay trước lò sưởi để sưởi.

- Chào nhà ngâm thơ dạo! ông nội Thrassaki lên tiếng chào đón người khách tới nhà mình.

Người ngâm thơ dạo già đứng lên . Kapitan Sifakas lớn tuổi hơn ông , hơn nữa lại là chủ nhân của ngôi nhà đầy độ lượng này, chưa hết, Kapitan Sifakas lại còn là một chiến binh lừng danh một thuở mà người ngâm thơ dạo phải tôn kính.

- Chào ngài, Kapitan Sifakas, mãnh hổ đầy kinh nghiệm của đảo Crète! Thời gian gần đây tôi khởi soạn những bài thơ để ca tụng sự nghiệp của ngài, chúa tể Sifakas, tôi ước ao làm cho tên tuổi, sự nghiệp của cụ sẽ được trường tồn với thời gian.

- Hãy để cho ta chết cái đã, ông nội Thrassaki đáp lời ông thợ thơ, khuôn mặt ông nội như sẫm lại.

- Ông Kriaras ơi! Có tin tức gì mới không ? Bà Mastrapas có vẻ không còn kiên nhẫn lên tiếng để hỏi thăm tin tức về chồng bà. Ở trên đỉnh núi đá cao kia, chồng bà, một người đàn ông không hề biết đến chuyện gươm súng , bây giờ ra sao? Tôi là vợ của Mastrapas, người bán nhạc buộc ở vòng cổ ngựa đó.

- Bây giờ tôi muốn được ăn một chút cái đã, người ngâm thơ gìa đáp lại, sau đó uống một cái để tâm trí tỉnh táo. Lúc này, đầu tôi như một cái tổ ong kêu vo vo vì đói.

- Đem lại đây cho ông ấy cái gì để ông ấy ăn, cụ già chủ nhà lên tiếng vui vẻ gọi. Nhớ cầm lại luôn cho ông ấy một bình rượu , nhớ rót đầy đấy nhé. Bao tử ông già ngâm thơ này không có đáy đâu, mang ra đây càng nhiều càng tốt vì bao nhiêu cũng khó đủ với ông ấy đâu.

Người ngâm thơ dạo cười khoái chí.

Người trong nhà mang lại một chiếc bàn thấp, ông già ngâm thơ dạo ngồi xệp dưới nền đất, chân xếp chữ ngũ, ngay trước lửa rồi cứ thế mở rộng cái miệng, như miệng một chiếc giếng, ngồm ngoàm nhai nuốt.

Những người đàn bà đứng bao quanh, đầy vẻ ngưỡng mộ, nhìn người ngâm thơ dạo gìa vét cạn tận đáy mấy chiếc tô bằng sành đựng thức ăn. Ngồi đối diện với người ngâm thơ dạo, cụ già chủ nhà với hàm râu vẫn còn tô điểm những vết sơn đỏ cũng yên lặng ngắm nghía người khách đang ăn.
Người ta chỉ nghe được tiếng răng nhai rồi nuốt của ông ngâm thơ dạo gìa... hoặc tiếng rót rượu từ chiếc bình ra ly của ông ta.

Rồi thì cuối cùng Kriaras cũng ăn uống xong. Chùi hàm râu, uống thêm một cái nữa, nhận ra rằng trước mặt mình là vị chủ nhà Kapitan Sifakas và chung quanh là những người đàn bà đang đứng hồi hộp chờ đợi .

- Nào, bây giờ thì các bà có thể hỏi, vừa nói, ông ngâm thơ dạo vừa duỗi dài hai chân trước lò lửa.

Thế là các bà uà tới, tới tấp hỏi: Chồng tôi, anh tôi, em tôi, con tôi, ông có gặp không? Có bị thương hay không ? Sống hay chết? Tất cả những câu trả lởi đều như treo trước đôi môi người ngâm thơ già. Nói cho đúng ra , thì Kriaras nào có nhìn thấy người chồng, người anh, người em, người con nào của bà nào đâu. Làm sao mà ông ta lại có thể lội bộ lên tới được tận đỉnh những ngọn núi tuyết phủ trắng xoá như thế được chớ ? Ông tới đó để làm gì trong cái lạnh, cái đói, súng đạn chết chóc đó chớ ! Thơ ca thì cần phải có một sự an toàn và thoải mái mới có thơ được. Ông không trông thấy bất kỳ ai nhưng bây giờ thì bụng đã no, ông thấy thương hại cho những người đàn bà này nên ông quay lại lần lượt trả lời một vài tiếng trấn an. Thế là, sau khi bà này yên lòng ra về lại tới lượt bà khác ...

Khi tất cả đều đã nhận được tin mừng, căn nhà trống trải hẳn , người ngâm thơ dạo già nhìn cụ chủ nhà, vừa cười vừa nói :

- Tiên đoán sự hạnh phúc thì hạnh phúc nó tới!. Bổn phận của tôi là nói lên những lời tốt đẹp. Ông Trời tốt kia cứ tự động làm điều ngược lại đi. Ông Trời cũng phải làm bổn phận của ông ấy như tôi chớ ! .

- Nhưng ông đã dùng những lời dối trá để an ủi người ta, cụ chủ nhà đáp lại.

- Tôi là một người ngâm thơ dạo, có nghĩa là người mang lại những niềm vui. Đó là công ăn việc làm của tôi mà .

- Bây giờ thì chỉ có hai ta với thằng cháu đây, đàn ông với đàn ông, hãy nói thực đi! Ông đi hết làng này sang tỉnh khác, hẳn là ông đã nghe ngóng được những tin tức đồn đại? Với cặp mắt tinh lanh của ông, chẳng có gì mà qua mắt ông được, ông đã nhin, nghe được điều gì lý thú hay không ? Đảo Crète này của chúng ta có cơ may tìm lại được Tự Do hay không hở ông Kriaras. Người ta đồn rằng ông trò chuyện được với ông Trời hiền lành khi ông chỉ có một mình, ông, người ngâm thơ dạo. Ông Trời nói gì với ông ? Có phải là cuối cùng thì Trời cũng sẽ giải phóng cho Crète của chúng ta không ?

Kriaras cúi cái đầu to tướng của mình, chữ nghĩa hình như đang trộn lộn trong lồng ngực ông rồi quấn cuộn dâng lên cổ họng. Ngừng lại một chút để suy nghĩ, sắp xếp :

- Cụ Sifakas ơi, bây giờ chỉ có 3 chúng ta, tôi sẽ noí với cụ một điều bí mật mà không bao giờ tôi thố lộ với bất kỳ người nào. Cụ cũng đã một trăm tuổi rồi tất nhiên cụ chẳng còn sợ gì sự thực...

- Đúng, ta chẳng sợ sự thực, cụ già chủ nhà đáp.

- Vậy thì, cụ hãy nghe tôi nói đây: Khi mà Chúa Jésus ra chào đời, mọi quốc gia trên thế giới - Trắng, Đen ,Vàng - đều tới đón mừng Người . Khi Người từ giã cõi trần ai này, cũng những quốc gia này đều chung lời vĩnh biệt Người. Đảo Crète của chúng ta cũng tới, chịu tang, trên đầu một chiếc khăn chùm đen. Crète đứng riêng lẻ , trình diện sau cùng. Làm thế nào để có mặt được cùng lúc với các nước lớn trên thê giới chớ ? Anh , Nga , Mỹ, Pháp ? Crète chờ tới khi các nước lớn đã rút chân hết mới dám lại gần để qùy lạy dưới đôi chân đầy máu của Chúa. Cuối cùng đêm xuống. Suốt cả ngày hôm đó mặt trời nóng tới độ thiêu đốt cả đá. Buổi tối, mây chất chồng lại, bầu trời trở thành đen sạm và những giọt nước nóng khởi sự rơi. Đó chẳng phải là những hạt mưa mà là những giọt lệ.

" Chúa Cứu Thế mở choàng đôi mắt. Trong cái tranh tối tranh sáng và mưa lệ. Chúa nhận rõ ra được một người đàn bà trang phục một màu đen tuyền. Tưởng đó là Thánh Nữ Đồng Trinh, Jésus kêu lớn một tiếng : " Mẹ! " . Bấy giờ Crète ngẩng đầu lên nhìn, một tia chớp loáng xé bầu trời, khuôn mặt rạng rỡ. "Chuá ơi! vừa gọi đáp vừa mở rộng hai cánh tay, con không phải là Thánh Nữ Đồng Trinh, con là đảo Crète!"

" Rồi một giọng nói của Chuá :"Lại đây!" Crète run rẩy tiến lại thật gần , ôm ghì lấy cây thập tự giá, cúi hôn hai bàn chân bị đòng đinh của Chúa, miệng dính đầy máu. Crète lẩm bẩm : "Jésus...tại sao lại bỏ con ?"

" Rồi giọng nói từ trên thập giá thêm một lần nữa vọng xuống : "Đừng khóc? Giơ cao bàn tay phải của người lên rồi hãy nhìn kỹ.

" Crète đưa bàn tay phải lên, cụ đoán thử xem Crète nhìn thấy gì dưới ánh sáng của những tia chớp :ngay ngón tay trỏ, một hình vòng , chiếc nhẫn sáng ngời.

" Nhẫn đính hôn, Jésus! Crète kêu lên, cùng lúc tim đập thật mạnh, nhẫn đính hôn hay một mắt dây xích?

" Jésus mỉm cười, nghẻo đầu sang một bên, với một giọng thật yếu, thì thào điều gì đó. Cái gì ? Crète không nghe được lớn tiếng hỏi rồi lập lại :

" Nhẫn dính hôn hay là một mắt của sợi dây xích? Crète nói thật lớn thêm một lần nữa. Nhưng chẳng có tiếng trả lời. Crète lại kêu. Cũng không nghe gì nữa !

Kriaras ngừng lại một chút, tiếp tục :

- Crète vẫn còn đó, Crète khốn khổ dưới bóng tối, dưới ánh mặt trời , trong mưa lạnh, vẫn trang phục màu đen như một người goá phụ, Crète vẫn gào , vẫn kêu, cụ Sifakas à!

Tới đây, người ngâm thơ dạo thở dài. Trong chiếc bình chứa rượu còn một chút, ông ta với tay lấy rót ra ly uống cho đở khan cổ. " Crète đau thương ... " Vừa lẩm bẩm nói, Kriaras vưà đứng dạy.

Ông nội cũng đứng lên, lớn tiếng gọi con dâu, bà Katérina.

- Lấy thêm một bình rượu nữa cho ông ấy con ơi. Bữa nay ông ấy xứng đáng được thưởng công .

Dứt lời cụ quay lại người ngâm thơ dạo già hỏi :

- Răng ông còn tốt không ?

- Chỉ thiếu có 1 cái thôi, vừa cười Kriaras vừa trả lời, duy nhất chỉ một cái mà chính tôi đã dùng kềm tự nhổ lấy. Đó là chiếc răng khôn cụ ạ.

- Mang cho ông ấy hai nắm hồ đào và trái hạnh nữa. Cụ chủ nhà nói thêm.

Ông già ngâm thơ dạo được chủ nhà tiễn chân ra tới tận cửa hệt như một vị khách qúy.

- Thôi ông đi nhé, nhớ cẩn thận giữ gìn sức khoẻ, Kapitan Sifakas đưa tay bắt tay, nói. Nhưng nếu ông có kể chuyện này nữa thì nên để cho Chuá Cứu Thế trả lời : "Đó là chiếc nhẫn đính hôn" . Ông cũng đâu có bị mất mát gì khi để Jésus trả lời như thế bởi vì như ông đã nói khi nãy: Tiên đoán điều hạnh phúc, hạnh phúc sẽ tới!

- Cứ yên tâm, Kapitan Sifakas ơi, tinh ranh còn hơn qủy, người ngâm thơ dạo già đáp lại. Cụ cứ yên tâm, vả lại, đâu có phải lúc nào tôi cũng chỉ kể có một chuyện giống hệt vậy với mọi người . Tôi là dân chuyên nghiệp nên tùy theo người nghe mà kể !.

Đứng trên thềm cửa, ông nội thằng Thrassaki dõi mắt trông theo người ngâm thơ dạo già đang lội trong tuyết để lên dốc . Cũng như ông, Thrassaki nắm bàn tay ông nhìn theo người khách lạ lùng càng lúc càng xa dần .
Lúc người ngâm thơ dạo già đã khuất, ông cụ quay lại hỏi cháu:

- Cháu có hiểu không? Chuá Cứu Thế, Crète , chiếc nhẫn đính hôn...

- Cháu, cháu không thích những truyện thần tiên, đứa cháu trai trả lời ông. Bây giờ cháu đã lớn rồi mà!.

- Khi nào cháu lớn hơn nữa, lúc đó cháu sẽ thấy thích, ông nội thì thầm , rồi cả hai ông cháu cùng im lặng.



... CÒN TIẾP ...

Khởi dịch tại La Serénité - Troyes, 00 giờ 13 ngày 04.02.2010.



© Dịch giả giữ bản quyền.
. Lần đầu tiên đăng tải trên Newvietart.com ngày 17.02.2010.
. Tất cả các bản sao chép lại không ghi rõ nguồn Newvietart.com
là những bản xử dụng bất chính , vừa thiếu văn hóa vừa bất hợp pháp.