ĐẶNG ĐÌNH TÚY


 KHÁN XUÂN PHƯỜNG
NỮ NHÂN NGOẠI TRUYỆN



Sính xài ngoại ngữ là một căn bệnh rất khó chữa. Nhất là đối với kẻ học lóm, nhưng sao mình cứ ưa xổ nho ..bồi (bồi là chữ boy ăng-lê nói trại ý muốn bảo những kẻ hàng tôi tớ ít học nhờ phục vụ ngoại nhân lâu ngày nên cũng biết được một số từ và sử dụng chắp nối đơn giản trong đối thoại) –cũng tựa những kẻ sính nói tiếng Tây tiếng Anh mà không đủ vốn ngữ vựng và văn phạm thì bị cho là nói tiếng Tây bồi, tiếng Anh bồi; kiểu cuivre lac , cuivre là đồng, lac là cái hồ, vậy cuivre lac là đồng hồ! Do đó mà phải dịch nghĩa để người ta còn hiểu được là mình muốn nói gì: Khán xuân phường là phường Khán xuân, nữ nhân là người đàn bà, ngoại truyện là chuyện thuộc loại truyền miệng không chắc là sự kiện có thật chép đàng hoàng trong sách vở; tóm một câu, chuyện nghe kể về người đàn bà ở phường Khán xuân. Tôi đang băn khoăn không biết có nên thêm chữ “đích” giữa nữ nhân ngoại truyện không đây, nhưng hình như đấy là văn bạch thoại cải cách chớ còn hồi xưa thì người ta không đặt tiền trí từ (préposition d’agent/d’auteur) vào chỗ này. Thật ra không phải tôi sính xổ Nho mà có ý muốn xây dựng ngoại cảnh thích hợp cho câu chuyện kể về một người đàn bà phi thường, ngõ hầu bạn đọc nhờ đó mà nhảy một cái phóc vào không khí của thế kỷ mười tám mười chín chăng. Các nhà nghiên cứu cũng như phê bình văn học đã chúi những cặp kính trắng dày cộm của họ trên trang giấy soi ngắm, trích cú tầm chương, mong làm sáng tỏ thân phận nàng, những cuộc tình duyên mà nàng đã kinh qua, điểm danh những khuôn mặt đàn ông từ kẻ hào hoa phong nhã đến trang tài tử văn nhân trong từng lời từng câu nàng nhắc nhở đến, dù bùi ngùi, dù đôi khi còn nhuốm cả mầu cợt nhã nhưng vẫn thấm đẫm chất tình. Văn học sử là công tác tuy có ích vẫn rất nhàm chán, vậy nhưng nó đòi hỏi chẳng những sự nghiên cứu hết sức bác học của những đầu óc đầy chữ nghĩa mà còn vụ tinh thần vô tư rất mực; đừng nên mon men vào chỗ ấy mà e có khi bị tẩu hỏa nhập ma chứ chẳng phải chơi. Bởi tôi yêu nàng quá mà lại không vào được nên đành đứng ngoài và lại được lãi thêm cái quyền nói hươu nói vượn mà chẳng ai thèm bắt bẻ.

Câu chuyện nào cũng bắt đầu bằng gốc gác của nó, nhưng chỉ nội xuất xứ của nàng đã phải làm nên nghi vấn. Nếu ông bố nàng là ông nào cũng đã chẳng được khẳng định thì thử hỏi thân phận chính nàng sao lại chẳng lao đao hỡi người đàn bà mang tên hoa mai bay trên hồ ? Phải chăng nàng là nhân vật tưởng tượng mà cả một tập thơ dày kia cũng chỉ là cách đùa cợt của một văn tài cắc cớ nào đấy thác lời nàng và lỡm dài hơn hai trăm năm bọn hậu thế chúng ta? Trong văn học Việt Nam cận đại cũng đã có lần mọi người thắc mắc về nguồn gốc một TTKh tác giả dăm bài thơ khóc người tình lỡ trong khi đã có sự hiện diện trên văn đàn nhà khảo cứu văn học nghiêm túc Hoài Thanh nếu không muốn kể đến những bậc tiền phong từ Phạm Quỳnh, Dương Quảng Hàm, Thiếu Sơn, Trần Thanh Mại, Lê Thước ..v..v… tại sao đội ngũ hùng hậu ấy đành bỏ qua một trường hợp ly kỳ mà không thử soi ngắm qua chiếc loupe cầm sẵn trên tay? Phải đợi đến khi đọc Long Biên Trúc Chi Từ của ông hoàng Miên Thẩm kẻ hậu sinh mới biết quả thật nàng đã từng hiện hữu và khổ đau. Nếu không khổ đau quằn quại thì làm sao Tùng Thiện vương lại ta thán dường vậy?

Trụy phấn tàn chi thổ nhất dinh
Xuân Hương qui khứ thảo thanh thanh
U hồn đáo để kim như túy
Kỷ độ xuân phong xuy bất tinh

Một nhà thơ thương cảm cho một nhà thơ khác, ta cũng nòi tình thương người đồng điệu. Nhưng chưa đủ đâu. Thương chưa đủ, phải uất hận dùm nàng. Quả nhiên người nghệ sĩ có cái nhìn thấu bốn cõi, có cái biết vượt thế nhân thường tình, có cái khắc khoải của sợi tơ li ti run rẩy nơi con côn trùng cảm nhận được những đổi dời mưa nắng. Ngày ấy xã hội Việt Nam còn quá khép kín, tư tưởng Việt Nam còn quá câu nệ, thành thử tư tưởng cùng cách thế nổi loạn của nàng đã không được chấp nhận; cũng may riêng thi ca thì còn được truyền tụng đến giờ. Nhưng hiểu nàng qua văn tự chưa đủ; phải hiểu nàng qua tư tưởng và qua cuộc sống thực kia.

Người đàn bà Mỹ da đen một ngày 1 tháng 12 năm 1955 sau khi tan tầm, trèo lên chiếc xe buýt tìm một chỗ ngồi chỉ trông chóng về đến nhà; xảy có anh da trắng cũng lên xe và người tài xế yêu cầu bà nhường ghế cho anh ta, bà từ chối và như thế bà bị bắt giam mở đầu cho cuộc đấu tranh bất bạo động do mục sư M. L. King khởi xướng kéo dài đến tháng 11 năm sau mới chấm dứt khi tòa án phán quyết rằng xe buýt có phân chia chỗ ngồi cho người da trắng và người da đen là bất hợp hiến. Đó là chuyện xảy ra vào nửa thế kỷ hai mươi và trên đất Hoa Kỳ được xem là một trong những quốc gia có tinh thần dân chủ của thế giới ngày nay, nhưng Hồ nữ sĩ của chúng ta ở xứ phong kiến và vào giữa thế kỷ mười chín thì dù tranh đấu chỉ cho cá nhân nàng cũng chưa được còn mong gì cho người phụ nữ nói chung đang chịu sự đè ép của giới đàn ông. Nói nào ngay, tranh đấu cho đám đông dễ đạt chính nghĩa hơn là tranh đấu cho cá nhân mình; Rosa Park nhờ vậy trở nên bộ mặt tiêu biểu cho cuộc tranh đấu cho quyền bình đẳng màu da mà chưa chắc khi bước lên chiếc xe buýt và từ chối không chịu nhường chỗ cho anh đàn ông da trắng bà đã tưởng tượng ra hậu quả …hoành tráng dường ấy! Còn Simone de Beauvoir ở xứ Tây thì lại hoành tráng cách khác. Chữ nghĩa um sùm, đầu óc thông thái, viết hàng ngàn trang sách triết lý cao xa chỉ để xác nhận có một điều: “người ta không sinh ra đã là đàn bà mà người ta sẽ trở nên !” Trời ơi, nếu hồi xưa không có chút chút Nguyễn văn Trung, không có chút chút Trần Văn Hiến Minh, Lê Tôn Nghiêm… dằn bụng thì khó mà biết bà ta muốn nói gì. Rõ ràng bố mẹ chúng ta khi đưa bà vợ vào nhà hộ sinh xảy nghe tiếng trẻ khóc oe oe thì ông bố liều lĩnh xông vào mặc kệ cho bà mụ la ó phản đối, giật lấy trẻ sơ sinh giằng cái háng nó ra mà nhìn thử xem đó là thằng cu hay cái hỉm, tại sao còn phải chờ bà Beauvoir phán quyết? Nhưng xứ Tây khác xứ mình, nội bà Beauvoir ho lên một tiếng hay khạt đờm trong cuống họng ra là đủ cho quần chúng vỗ tay rào rào. Càng nói thì càng thương cho người mình, cho nữ sĩ tài hoa xứ Mít. Hôm nọ vào nhà sách thấy bày bán những tác phẩm của Françoise Sagan bèn xông đến dòm ngó, thấy cuốn nào cũng trịnh trọng mang một cái băng ngang quảng cáo nào là tác phẩm chưa xuất bản nào là tác phẩm đầu khi tác giả mới mười tám tuổi nào là vở kịch bao trùm triết lý muôn thuở muôn nơi nào là những giòng viết trong cơn đau sau tai nạn xe hơi phải nằm bệnh viện chịu giải độc vì dùng quá nhiều morphine. Mỗi sự việc dù nhỏ nhít của nhà văn cũng làm nên cơn chấn động nhiều con số trên bậc thang Richter. Kẻ hèn này mua về đọc thử mới thấy rằng mình bị lỡm. Không phải hễ là thiên tài thì khạt nhỗ đờm giải cũng phải gom cất trong rương đâu. Nghiệm ra bất bình đẳng xã hội không chỉ gồm chất và lượng của bát cơm ta ăn mỗi ngày. Từ chỗ no cơm sẽ đến ấm cật và rồi còn những chuyện khác nữa. Nhà văn xứ người vài ba năm rặn ra một cuốn sách đã đủ để sống phè phởn trăm năm còn ta suốt đời cày cuốc “An nam nhất thốn thổ” như ông bạn Ngô Phan Lưu của tôi chỉ đủ để uống café!

Kể chuyện người chỉ thêm buồn cho số phận mình hẩm hiu. Thôi thì sẵn hươu sẵn vượn ta cứ thừa thắng mà xông lên. Căn cứ theo những tìm tòi “chân chính” thì nàng kém nhan sắc, có vị lại bảo nàng rỗ hoa mè. Theo ý ta thì ba phải hơn: cái đẹp tùy thuộc mắt nhìn, còn hoa mè có khi cũng duyên dáng; mà thêm nữa, thông minh là một thứ nhan sắc đấy. Thông minh là một thứ duyên ngầm; bạn cứ thử trò chuyện với người thông minh một lát rồi sau đó hãy phán xét: có phải bây giờ ngắm lại người ấy đẹp lên bội phần không? Vả cái nhà ông tổng Cóc (tên xấu chứ hẳn người không xấu) là tay tài tử hào hoa, giàu có lại văn chương đầy mình, dễ gì theo đuổi một Thị Nở trong khi bà vợ lớn chắc chắn là một Hoạn Thư sẵn sàng ăn thịt ông? Liều nó phải có giá của chữ liều chứ. Điều đáng nói là đời nàng lao đao, lao đao như dân tộc Việt lao đao. Bởi anh chàng quá phong lưu nên phải nợ, mà vì nợ nên phải bỏ nhà trốn đi bỏ lại người vợ lẻ bơ vơ bụng mang dạ chửa. Sống với ông phủ Vĩnh tường thì cũng chỉ sống đời tổng Cóc nối dài thôi, nhưng nhầm lẫn của người đời thuộc về sự nhầm lẫn phiên dịch (hay dùng ngôn ngữ thời thượng: nhầm lẫn trong cách giải mã). Họ bảo rằng nàng thiếu nhan sắc nên đành nhận phận làm lẻ, sao không xoay ngược lại phương trình? Nàng bất chấp chuyện lẻ hay chẳng nhưng đáng kể là đối tượng, liệu đối tượng có đáng để chung giường chăng. Lại nữa, căn cứ trên những bài thơ ẩm ướt xác thịt mà kết luận vội vã rằng nàng bị ám ảnh bởi bị đạn rủ quai đen, thì xin cãi lại rằng một đời ta loanh quanh tìm kiếm không phải chỉ tìm đến cuộc cờ người mà còn những gì cao xa hơn đằm thắm hơn sâu thẳm hơn hang cắc cớ nhiều. Lập luận về tác giả Lưu Hương Ký , lý kẻ phủ nhận cho rằng nàng chỉ quen làm thơ rất là trữ …dục trong khi hơi thơ Lưu Hương Ký điềm đạm nghiêm minh. Nói thế là giản lược cá tính nàng, phong cách nàng đến độ cuối rồi. Con người có nhiều mặt của nó chứ. Lựa chọn một loại hình văn học, nuôi dưỡng một văn phong chỉ là tìm phương cách diễn đạt mà người viết cho là thích hợp; (chứ cứ theo cách lập luận ấy e có ngày người ta tìm núp sau …chuồng heo nhà văn nữ Lê thị Thấm Vân để xem coi bà xử sự có khác người chăng), huống chi người ta cũng tìm thấy bút tự nàng ở Vĩnh phú, chẳng hạn trên đôi bình bằng gỗ bốn câu thơ hán văn: Thảo lai băng ngọc kính/Xuân tận hóa công hương/Độc bằng đan quế thượng/Hào phóng bích hoa hương như vậy cũng có khi nàng chững chạc chứ, chẳng lẽ cứ chớt nhã trêu chọc mãi! Mà ngay khi chớt nhã đùa vui không phải người ta không tìm thấy nàng bổng nhiên trang nghiêm mà van lơn chua chát: Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi/Này của Xuân Hương đã quệt rồi/Có phải duyên nhau thì thắm lại/Đừng xanh như lá bạc như vôi. Đã đọc bài ấy thì xin đừng nhếch mép mỉa mai cười đểu nữa, hãy nghiêm trang lại coi nào! Điều quan trọng hơn, trong Lưu hương ký có bài gửi “Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu, Hầu Nghi xuân, Tiên điền nhân” thì không chối cãi được đấy là chàng Nguyễn hào hoa tác giả truyện Kiều. Bây giờ, vấn đề là sự thật thì tài hoa có gặp và có dan díu với tài hoa không? Trời, thiên lý năng tương ngộ mà, biết đâu được!

Người đàn bà đứng tư lự bên hồ tựa mình vào gốc cổ thụ nhìn sang bên kia vời vợi nơi có chiếc cầu dẫn đến ngôi cổ miếu. Con hầu mười lăm tuổi ngây thơ đuổi theo đàn bướm nhởn nhơ trên mấy chòm hoa. Thẫn thờ khá lâu rồi sực tỉnh, nàng gọi khẽ nó: “Ta về thôi, trời ngả chiều rồi đấy. Mi đã sang nhà mụ Bảo lấy thêm rượu về chưa? Đêm nay là đêm rằm trung nguyên, e người ta sẽ kéo đến chơi đông. Khéo lại không đủ rượu cho khách”. Nó đáp: “Bẩm đã”. Chủ tớ thủng thỉnh ra về.

Trời Thăng long vào tiết thu vừa đẹp vừa buồn. Mặt nước như sánh lại, mấy rặng liễu cơ hồ ủ rủ hơn, những chiếc lá thon hình thuyền uốn cong khép vào nhau e dè không còn muốn reo vui theo cơn heo may làm ngả nghiêng cành, cong cớn sợ phải nhúng mình xuống giòng nước băng giá. Đôi sâm cầm lượn một thoáng qua mặt hồ rồi mất dạng về phía xa nơi đám mây xám giăng ngang có chấm vạch son hồng của tia mặt trời yếu ớt. Con đường lát gạch gập ghềnh bởi hàng vạn bánh xe lại qua nghiến lên đè xuống khiến lòng đất bên dưới tưởng như đang cắn chặt đôi hàm chịu đựng. Chất đất sét ngấm nước lâu ngày dãi nắng dầm mưa trở nên khô cứng như đá tảng. Rải rác đã thấy những đôi nam thanh nữ tú bên nhau dạo phố. Chốn kinh kỳ về chiều người người, ngựa xe qua lại đông đúc nhưng đến đêm thâu khi cuộc chơi giọng hát tiếng đàn đã vãn, tiếng vó ngựa cô đơn của dăm ba kẻ giang hồ nện xuống mặt lộ nghe nhói buốt cả tâm can đối với người nơi cô phòng. Là nàng đấy, chẳng biết đã bao nhiêu đêm phòng không gối chiếc –khi người khách cuối cùng rời quán và con hầu ra ngả liếp phên che cùng thổi tắt dãy đèn trên những chiếc bàn rượu– đã dấu tiếng thở hắt chờ đợi những trằn trọc đêm dài và tự hỏi mình như câu thơ Giả Đảo:

Thế gian hà vật thôi nhân lão ?

Điều gì trên cõi đời này đã khiến nàng bạc tóc? Tuổi xuân qua vội và vườn Cổ Nguyệt vẫn vắng bóng đàn ông để người sương phụ trẻ đêm đêm nằm đếm tiếng gà eo óc và tiếng vó ngựa gõ lên mặt đường. Tuy đã hai ba đời chồng, thiếu phụ vẫn hãy còn trẻ, còn hừng hưc xuân tình. Có một thân xác đầy sức sống, chẳng lẽ đó là một cái tội? Mặc cho thiên hạ diễn dịch nhầm lẫn qua những vần thơ nàng gieo, nàng cũng chỉ là một thiếu phụ như trăm ngàn thiếu phụ khác, chỉ ao ước có người cận kề bên gối; có điều không phải bất cứ con đực nào mà là đấng trượng phu– nếu không là một Kim Trọng văn vẻ thì ít ra cũng đừng Thúc sinh run rẩy bạc nhược. Trong hồn nàng còn giữ nguyên hình bóng người năm ấy, chàng văn nhân đất Hồng lĩnh một lần ghé vườn Cổ nguyệt cùng vài người bạn. Chàng rụt rè ít nói có lẽ vì quen sống nơi thôn dã, cũng có lẽ bởi cuộc sống quá thanh đạm hay vì …“danh tiếng” nàng (liệu đối với chàng là phương danh hay xú danh ?). Khi được biết đấy là tác giả Thanh hiên thi tập thì lòng nàng đã bị choáng ngợp, nàng luýnh quýnh gọi khẽ con hầu bảo ra vườn moi hủ rượu chôn lâu ngày kề bên gốc bưởi mang vào đãi khách quý. Rượu cất đã nhiều năm lại trộn bằng chất the của loại cam sành, những quả cam không ai nhá nổi vì nghét đắng nhưng lại là chất xúc tác tuyệt vời giữa nồng nàn của mầm gạo đã lên men hòa cùng vị nhân nhẩn the the để khi một lần chảy qua cửa miệng, mùi ngọt ngào chen cùng vị đắng chát bốc lên khiến môi thêm mềm và mắt ai thêm long lanh. Ba người bạn thì đã hai mềm oặt gục xuống bàn. Họ say thật hay say vì lịch lãm? Kẻ đã được chàng nhận làm bạn hẳn cũng phải là kẻ hào hoa tài tử, có lẽ như vậy nên họ đủ tế nhị nhận ra nàng choáng váng. Không vì hơi rượu đãi đằng mà vì niềm hân hoan gặp người đồng điệu. Nguyễn vẫn ung dung tỉnh táo nhấp từng hớp rượu nhỏ. Bây giờ chàng đã bạo dạn hơn và hoạt bát hơn tuy cử chỉ đối xử vẫn không vượt khỏi vòng sơ giao nam nữ. Họ đọc thơ cho nhau nghe. Không ngờ chàng biết khá nhiều những bài thơ nôm nàng viết.

Nguyễn thuộc lớp sĩ phu trưởng thành khi tình trạng đất nước nhiễu nhương tột độ mà ý thức trung quân ái quốc học trong sách vở khó bề áp dụng vào thực tại xã hội. Trung thành với ai? Với nhà cựu Lê khi mọi thực quyền đã nằm trọn trong tay anh em chúa Trịnh hay tìm về đất Bình khê ngả theo chúa mới? Mọi đầu óc tự do đều có thể đi đến kết luận đó nhưng nền giáo dục Khổng Mạnh như căn bản tri thức tạo nên tinh thần Nguyễn vẫn không cho phép chàng dứt khoát. Chàng đang đứng giữa ngả ba đường. Khi chàng đã không thi thố được bổn phận làm trai với đất nước thì chàng rất dễ ngã vào đôi mắt giai nhân, như một chọn lựa giữa hai đường xuất/xử. Yêu người đàn bà nhan sắc chỉ mới là dục vọng thỏa thuê; yêu người đàn bà bởi tâm hồn nàng thì mới thật sự là một hòa hợp nam nữ. Nguyễn lãng mạn đa tình nhưng vẫn là một nhà nho “qua vườn dưa không cúi mình sửa dép, qua vườn đào không đưa tay vin giải mũ”. Nàng lại khác. Khi tiếng gà eo óc gáy sang canh và những ngọn hồng lạp leo lét tàn trong gian quán bổng dưng thênh thang hoang vắng, nàng cầm tay Nguyễn săn sóc: “Hẳn quân tử đã thấm mệt, vườn Cổ nguyệt tuy là chỗ thô lậu quê mùa nhưng chắc cũng có thể xoay xở được nơi cho người ngơi nghỉ. Liệu tiện thiếp có được cái hân hạnh rước người ngả mình giây lát trước khi ngày rạng?”

Quá trưa hôm sau, ba văn nhân vái chào nữ chủ ra đi. Thiếu phụ tiễn họ, dừng chân bên rặng liễu, nhìn với cho đến khi ba chiếc bóng vừa người vừa ngựa chỉ còn là ba chấm nhỏ như ba dấu phẩy xạm mầu mực tàu như khi cụ đồ vung bút trên mặt giấy bản. Vườn Cổ nguyệt lại trở về với hoang vắng, có lẽ còn hoang vắng tiêu điều hơn trước khi “Tiên Điền nhân” một buổi ghé lại. Tùy góc nhìn của những kẻ trong cuộc, tình yêu đến với họ theo như cách họ muốn đón nhận. Có thể người nọ chỉ xem như một sẩy chân bất ngờ trong khi kẻ kia ôm ấp nâng niu; cũng có thể nó được chôn dấu không phải vì ta coi thường mà vì một ngăn chận nào đó. Kẻ hậu sinh vẫn quen thói soi rọi khám phá bằng chính tâm tình mình mà quên mất lề thói tập quán cùng lối suy nghĩ của người xưa. Quả thực Nguyễn đã thương vay khóc mướn khá nhiều; chàng đã có lần tự cười mình “khéo dư nước mắt khóc người đời xưa” nhưng liệu có ai giải thích rằng khóc người cũng chỉ là để khóc mình đấy thôi? Cách trao gửi tâm sự kín đáo của nhà nho đã được tìm thấy nhan nhản trong nhiều tác phẩm của chàng qua tình cảm vay mượn đối với những người đàn bà, từ cô gái đánh đàn, cô gái hái sen, kẻ có tên có họ người lại vô danh tính, chung quy vẫn là những phút giây chạnh lòng mà chỉ người nghệ sĩ với nguồn cảm xúc nhậy bén mới bắt chợp được.

Không ai biết mối tình ấy có thật hay không. Nhưng chắc chắn mọi người khi tưởng tượng rằng chàng Nguyễn tài hoa nếu có cơ hội gặp nữ sĩ họ Hồ chắc khó thể cưỡng lại những cuống hút kéo lôi giữa hai tâm hồn giàu sang phong phú ấy. Còn hạnh phúc nào hơn khi người đàn ông và người đàn bà có tâm hồn vừa phóng khoáng vừa nhậy cảm gặp nhau và được nằm trong vòng tay nhau? Trong Lưu Hương Ký người đời sau tìm thấy bài thơ gửi “Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu -Hầu, Nghi xuân, Tiên điền nhân” Bài thơ ấy như sau:

Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn
Giấc mộng rồi ra nữa khắc không
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập
Phấn son càng tủi phận long đong
Biết còn mấy chữ sương siu mấy
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong

Tên người nhận thì rõ ràng rồi không ai chối cãi được. Danh hiệu, chức tước, gốc gác có đủ. Nhưng người gửi là ai? Không biết! Phải chi tìm được anh phắc-tưa mà truy cho ra mọi lẽ. Cụ Nguyễn kín đáo, khiêm tốn quá, ngược lại với tâm lý con người ngày nay. Khi quần chúng đặt dấu hỏi về TTKh thì có ít nhất vài ba ông vỗ ngực nhận mình là người yêu của nàng, kẻ mà nàng dấu trong tim. Ông nào cũng nhắc tới vườn Thanh, tới hoa ăng-ti-gôn. Còn cụ Nguyễn vì sao cụ không chịu khai (hồi ấy cụ bà qui tiên rồi cụ còn ngại ngùng nỗi gì hở cụ?) để câu chuyện giờ này trở thành vấn nạn? Xét thân thế và sự nghiệp nhà thơ, mọi người đều rõ là sau nhiều năm bôn ba Tố Như tiên sinh đã tìm về dưới trướng nhà Nguyễn. Lúc đầu làm tri huyện, sau lên tri phủ, chỉ là những cấp bậc hành chánh nhỏ nhưng quan trọng là được vua chọn gửi đi sứ và tiếp sứ Tàu nhiều lần. Tinh thần bài thơ cũng rất hợp với hoàn cảnh của Nguyễn, có lẽ là lúc ông đi sứ. Hai câu đầu rất rõ ràng: chàng đi xa, nàng mong nhớ . Câu thứ ba nói về mối tình giữa họ đã kéo dài ba năm. Ba năm không có nghĩa là trong ba năm ấy họ ở với nhau hoặc gặp nhau đều đều (để có thể có chứng cớ rõ ràng); có thể chỉ là một thoáng gặp gỡ và ba năm nhớ thương (tính đến ngày chàng đi sứ). Rõ ràng là trong ấy tâm tình người viết tỏ ra thất vọng: Giấc mộng rồi ra nữa khắc không. Đã vậy tại sao các nhà nghiên cứu còn sục sạo chứng cớ? Càng về sau, hoàn cảnh vật chất và tinh thần của đôi bên càng xa cách: Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập, nàng cam đành với tình cảnh đó: em (kín đáo) mừng cho anh nay sống cuộc sống kẻ đón người đưa, và cũng buồn tủi cho thân phận mình: liệu nàng sẽ phải kéo dài mãi cuộc sống lẻ loi như thế này ư?

Đấy, cái nói hươu nói vượn của tôi như vậy đấy. Truyền thuyết là giấc mơ của tập thể. Tôi là thành phần của tập thể nên có quyền thừa kế và phát triển theo chiều hướng nào đó. Xin hãy cho tôi được phép kể ra giấc mơ nối dài ấy như một lối lộng ngôn… “Vui thôi mà!”












© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ miền Nam Pháp ngày 01.02.2010.
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.