Chương 12


Cevallos nhận ra nỗi buồn đau trên vẻ mặt âu sầu của Mai Hoa công chúa. Chàng ướm hỏi:

-Có điều chi làm nàng kém vui? Nàng có thể tâm sự cùng tôi cho khuây khỏa?

-Tôi thường bị nỗi buồn ám ảnh. Buồn vô cớ. Buồn không có lý do cụ thể để mà nói ra. Tôi không buồn riêng cho mình mà là nỗi đau buồn chung của Đại Việt. Nói như vậy có vẻ ba hoa, nhưng thật sự nỗi đau do cuộc nội chiến dai dẳng này, luồn lách vào từng nhà, từng người, dù là dân thường hay quan tướng, cả ông vua, bà chúa nữa, trong đó có tôi. Cha cố có nghe thấy không? Ngoài chiến trận đêm đêm hồn tử sĩ gió ngàn cuộn thổi, mặt chinh phu trăng lẻ cô liêu, trong này chinh phụ ngóng chồng tiếng dế nỉ non bên vách nhà tranh lạnh…

-Nàng có chờ đợi ai ở chiến tuyến không?

-Không. Tôi chỉ mong sơn hà xã tắc trở lại an bình. Nhà Mạc giết vua Lê, tiếm ngôi năm 1527, nhà Trịnh giúp nhà Lê lấy lại ngôi báu, nội chiến nổ ra đã sáu mươi năm có lẻ, máu chảy đầu rơi chất đầy sông suối, còn ai được sống nữa mà mong hạnh phúc với tình yêu. Kinh đô Yên Trường thường bị tấn công không ngớt. Quan quân thế yếu, chỉ biết đắp lũy cao, hào sâu, giữ chỗ hiểm chờ thời. Dân Thanh Hoa dắt già, cõng trẻ, nhớn nhác chạy dọc sông Lam, khói lửa mù trời, không biết nương tựa vào đâu, chết rơi rụng, bao nhiêu tiền của, bao nhiêu đàn bà, con gái đều bị các loại lính vây cướp giết, hãm hiếp… Vậy mà vua Lê vẫn đốc thúc :” Các tướng tá họ Trịnh đều phải theo mà đánh giặc để yên thiên hạ, cho thỏa lòng mong đợi của trẫm”. Tôi là dòng dõi nhà Lê, đứng trên lợi ích của dòng họ, ghê tởm cuộc chiến tranh này, vì tôi yêu thương dân chúng. Tôi không muốn trăm họ rơi vào cảnh đầu rơi máu chảy, đói rách, lầm than, vì mục đích xấu xa của một số người, tranh giành nhau quyền cai trị… nhưng thân phận đàn bà, không làm gì được, chỉ thấy đau buồn không nói thành lời.

-Công chúa, tôi xin nàng hãy hiểu, chiến tranh là định mệnh của thế gian này. Không ai có thể ngăn cản được các cuộc chiến tranh, trừ khi người cầm đầu cuộc chiến từ bỏ vũ khí, tìm đến giải pháp hòa bình. Nhưng có kẻ cầm quân nào lại ngu dại thế. Họ quyết đánh đến cùng để giành ngôi vua. Công chúa phải vượt lên hoàn cảnh, chiến thắng nỗi buồn. Phải sống quả cảm và bình tĩnh để làm việc có ích cho đời mình, trả ơn Thượng đế đã cho ta làm người.

-Nhưng tôi sẽ làm được cái gì bây giờ? Thân xác tôi bị giam trong cung cấm này, đọc sách thánh hiền, tìm ra lẽ phải trái, mơ giúp dân lành, nhưng chẳng có ông vua, ông quan, ông tướng nào nào chịu nghe lời nói phải của tôi.

-Nàng đừng phó mặc đời mình vào các ông vua quan đó. Nàng phải sống với chính mình, làm chủ lấy mình, tự mình hành động theo lẽ sống đẹp của đời mà mình chọn lựa.

-Tôi không hiểu vua chúa ở Tây phương họ làm gì? Họ có thương yêu dân chúng không?

-Vua là hiện thân của quyền lực và tham vọng cá nhân. Làm gì có chuyện vua thương yêu dân chúng. Vua làm bất kể việc gì, miễn là chiếm được quyền lực tối cao và giữ nó đến cùng. Và khi có được quyền lực rồi, tham vọng ngông cuồng liên tiếp nổi lên như lửa cháy. Tham vọng đó có thể đốt trụi, thiêu sống những đại ngàn và muôn loài do Thượng đế đã sinh ra. Tôi kể cho nàng nghe chuyện ông vua Philip II đang trị vì xứ Tây Ban Nha của tôi nhé.

-Vâng tôi sẵn sàng nghe ngài, hết ngày này qua tháng khác. Tôi muốn nghe những điều mới lạ. Tôi muốn thay đổi. Tôi đi tìm con đường sống mới của riêng mình.

-Đầu thế kỷ này, người châu Âu bắt đầu tìm kiếm niềm tin cho riêng mình, thì vua Philip II cũng rơi vào tâm trạng đó. Lúc này Tây Ban Nha hầu như cai quản toàn bộ đất đai của châu Âu và nhiều miền thuộc địa khác trải dài từ châu Mỹ sang châu Á. Philip II muốn mặt trời không bao giờ lặn trên đế chế của mình. Ông đã tận dụng hết sức mạnh của tòa thánh Rôma và tòa án dị giáo Tây Ban Nha để cai trị Tây Ban Nha và các vùng thuộc địa. Kẻ thù của ông chính là những người theo đạo Hồi và đạo Tin lành. Ông luôn nhớ lời trăng trối của cha ông: “ Phải chiến đấu đến cùng với những người dị giáo và phải xây dựng cho được lăng mộ của hoàng tộc Tây Ban Nha.” Năm 1516, Philip II đến vùng núi đá granite thuộc thị trấn nhỏ mang tên Escorial. Ông muốn xây dựng nơi đây thành một kỳ quan thứ tám của thế giới, hơn những điều mà cha ông mong đợi và kỳ vọng vào ông. Ông sẽ xây không chỉ lăng mộ cho hoàng gia Tây Ban Nha, mà trong đó còn có nhà thờ và cung điện nữa. Theo lệnh ông, hơn một triệu tấm đá granite đã tạo nên một tòa nhà lớn nhất thế giới, có tới bốn nghìn căn phòng và những hành lang dài hàng trăm dặm. Ông vờ nói với những người thợ và những ai tham dự vào công việc: “ Hãy vì Chúa mà xây dựng cung điện, còn tôi, tôi chỉ là một con chiên làm theo ý Chúa”. Ông ta đã lừa đảo mọi người bằng những lời có cánh. Thế mà rất nhiều người cúi đầu hô:” Đức vua vạn tuế” và liều mình chẳng tiếc thân làm việc theo lệnh vua. Sau gần hai mươi năm xây dựng, cung điện Escorial gần như hoàn tất. Nơi ở của Philip II rất yên tĩnh, giống nơi ở của một nhà tu hành, hợp cho ông suy nghĩ chuyện quốc gia. Ngai vàng của ông ngồi chỉ là một chiếc ghế đẩu bằng gỗ mà cha ông thường ngồi trong các cuộc viễn chinh. Hàng ngày ông phải phê chuẩn hơn bốn trăm văn bản. Ông muốn trị vì đế chế của mình bằng những việc nhỏ nhất. Các nhà tu hành được phép sống trong cung điện để hàng ngày cầu siêu cho dòng họ hoàng gia và trông giữ kho báu. Tài sản vô giá của ông là những pho tượng Thánh đạo Thiên chúa bằng xương, cùng nhiều báu vật khác. Ông thích thú, đam mê sưu tập. Bộ sưu tập của ông có tới bảy nghìn báu vật làm bằng xương, được xem là lớn nhất thế giới. Cung điện Escorial là pháo đài tinh thần của Philip II chống lại dị giáo, mà lớn nhất là những người Anh theo đạo Tin lành. Năm 1553, nước Anh đã đập bỏ những nhà thờ theo kiểu La Mã, xây dựng những nhà thờ theo kiểu Anh. Người trị vì nước Anh là nữ hoàng AliZabeth I. Bà kiêu ngạo cho rằng nước Anh không mạnh, nhưng ngôi báu của bà là một thách thức, và bà không sợ hãi sức mạnh của Tây Ban Nha, khiến Philip II muốn lật đổ bà. Bà ủng hộ những người Anh theo đạo Tin lành sống ở Hà Lan, thuộc địa của Tây Ban Nha. Philip II cất quân sang Anh hỏi tội bà, nhưng thất bại. Những tên hải tặc người Anh liên tục chặn cướp những con tàu chở đầy vàng bạc từ châu Mỹ về Tây Ban Nha, làm của cải của Tây Ban Nha cạn kiệt. Ở Tây Ban Nha tòa án dị giáo đang rình mò tận gốc những người dị giáo. Dưới sự cai quản của Philip II, cha cố biến thành những tên mật thám. Ông muốn nhà thờ Rôma trở thành trung tâm của thế giới. Riêng nữ hoàng Anh không muốn thế. Philip II nổi giận, ông thuyết phục thần dân Tây Ban Nha dùng vũ lực để khuất phục nữ hoàng. Năm 1588, Philip II hạ lệnh cho một trăm ba mươi chiến thuyền Tây Ban Nha nhổ neo và thề rằng sẽ ngồi trên ngai vàng của nước Anh. Chiến hạm của vương quốc Anh đã đánh tan hạm đội Tây Ban Nha ở vùng kênh nước Anh, một số tàu sống sót gặp bão lớn ở vùng biển Bắc. Sóng to, gió lớn đã nhấn chìm chiến thuyền Tây Ban Nha trên bờ biển nước Anh, lính sống sót trôi dạt vào bờ bị dân Ailen chém chết. Philip II gào thét trả thù trong tiếng sóng. Sự thất bại này đã làm cho nền tài chính của Tây Ban Nha suy sụp, làm tiêu tan sức mạnh và tham vọng lớn của Tây Ban Nha…

Công chúa thấy Cevallos kể về tình cảnh của vương quốc mình bằng thái độ lãnh đạm, đầy bản lĩnh, nên rất khâm phục. Hình như cha cố đã tách mình ra khỏi cảnh ngộ đó. Ngài đã làm chủ được mình, không để cho hoàn cảnh xã hội lôi kéo. Nàng thở dài khẽ hỏi:

-Vậy là ngài đã trốn chạy vua Philip II?

-Tôi không trốn chạy cá nhân ông ta. Tôi đứng trên ông ta mà quan sát, không biến mình thành lính đánh thuê, hoặc cúc cung tận tụy, hiến thân cho tham vọng cá nhân mù quáng của ông ta. Tôi đi tìm cuộc sống của riêng mình để sống và sống có ích cho đồng loại.

-Nghề linh mục của cha có ích gì cho mọi người?

-Để trả lời câu hỏi này, công chúa phải học Kinh Thánh, tôi sẽ giảng và nàng sẽ hiểu.

-Vâng, từ nay tôi gọi cha cố là thầy. Tôi sẽ ghi chép và chỗ nào không hiểu, tôi hỏi lại thầy.

Santa cảm thấy nhẹ nhõm vì chàng đã quen thuộc với việc dịch Kinh Thánh. Cevallos trở nên trang trọng như đang đứng trước hàng trăm con chiên đang chăm chú nghe giảng đạo trong nhà thờ:

-Kinh thánh gồm sáu mươi sáu sách, được viết ra bởi hơn bốn mươi tác giả, trong thời gian gần hai nghìn năm. Những tác giả này thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, học thức khác nhau, địa vị cũng khác, học vấn khác nhau. Mỗi tác giả khi viết sách của mình, họ không hề biết rằng sách được kết hợp thành quyển Kinh Thánh. Mỗi sách đều có vai trò độc lập của nó và hòa hợp với những sách kia. Kinh Thánh là quyển sách hợp nhất mà không hề mâu thuẫn. Người ta bảo Kinh Thánh là do Đức Chúa Trời khải thị. Những người được Chúa lựa chọn đã tự động viết ra, giống như Chúa đọc cho mà viết. Kinh Thánh gồm cả Cựu ước và Tân ước đều được soi dẫn bởi Đức Chúa Trời, chứa đựng tất cả những sự khải thị cần thiết và ý chỉ của ngài cho nhân loại. Có hàng trăm lời tiên tri trong Kinh Thánh. Các sách về tôn giáo khác không thể sánh với Kinh Thánh về lĩnh vực tiên tri.

Trong khi các dân tộc xung quanh còn kính cẩn, sợ hãi tôn thờ mặt trời, mặt trăng, ngôi sao, sông, núi, lửa, hay những hiện tượng siêu nhiên, thì những tác giả trong Kinh Thánh đặc biệt kêu gọi con người từ bỏ những hình tượng, quay trở về thờ lạy Thượng đế toàn năng, là Đấng Tạo Hóa, Đấng Yêu Thương, Đấng Cứu rỗi. Kinh Thánh là sự nhận thức khoa học tự nhiên và khoa học về thần học, là cuộc hành trình không ngưng nghỉ của con người trên trái đất từ hoang vu đến nay…

Thùy Dung dâng trà, công chúa ngắm cuốn Kinh Thánh dày được Cevallos nâng nui trong tay, khẽ thưa:

-Thưa thầy, đọc Kinh Thánh như thế nào?

-Các tác giả Kinh Thánh mong ước hướng dẫn, chỉ bảo cho dộc giả của mình biết Thiên Chúa đang chờ đợi họ những gì, và hoa quả tốt đẹp là con người theo lời Thiên Chúa để soi sáng trí khôn, tự mình trả lời được ba câu hỏi quan trọng của đời người: - Con người từ đâu mà đến?- Con người sống ở trên đời này để làm gì?- Sau khi qua đời, con người sẽ đi đâu? Ba câu hỏi này được các tác giả Kinh Thánh trình bày bằng những câu chuyện kể rất sinh động. Về câu hỏi “Con người sinh ra từ đâu?” tôi đã kể cho công chúa nghe câu chuyện Chúa dựng nên vũ trụ và tạo ra loài người trong sáu ngày… Còn câu hỏi ” Chúng ta sống trên đời để làm gì?” Công chúa đã nhìn thấy đời sống của con người trên trái đất hình cầu này rồi đấy! Con người luôn phạm nhiều tội lỗi, ganh ghét, thù hận, tranh giành rồi chém giết lẫn nhau… Kinh Thánh kể rất nhiều câu chuyện như vậy. Môi-se, một lãnh tụ vĩ đại của nước Do Thái đã viết trong Kinh Thánh: “Các năm tháng chúng tôi kết thúc trong tiếng khóc than. Đời chúng tôi dài lắm là bảy mươi tuổi, còn nếu khỏe mạnh thì được tám mươi, nhưng các năm tháng ấy đều đầy lao khổ”.
       Ý nghĩa cuộc đời là thế sao? Có phải con người đơn thuần chỉ là cơ thể vật chất, sống để chạy theo tiền tài, địa vị, hưởng lạc thú, mê gái đẹp, thích ăn ngon… rồi ai cũng giành phần hơn, nên đã gây chiến tranh, cướp đoạt, giết nhau không thương tiếc…? Thượng Đế tạo nên con người từ bụi đất và thổi vào nó một linh hồn. Ngài muốn con người sống cả phần vật chất và phần linh hồn, nên đã ban các luật thờ phụng và các luật lệ con người sinh sống với nhau trong sự công bình và tình yêu thương( Kinh Thánh, phần Cựu Ước). Ngoài ra, trách nhiệm của con người là:” Quản trị mọi loài ngài đã tạo dựng”. Ngài muốn con người cải thiện thế giới đã bị băng hoại bởi tội lỗi, nâng con người đến sự hoàn hảo và đầy tình yêu thương như hình ảnh của ngài: ” Hãy thực thi công bình cho kẻ cô thế và mồ côi; bảo vệ quyền lợi của người thấp kém và kẻ khốn cùng”.
      Đó là ý nghĩa cuộc sống, là lý do để chúng ta sống trên đời này, chứ không phải để chém giết nhau hay hại nhau. Sau khi qua đời con người sẽ đi đâu? Từ ngày có vũ trụ này, biết bao nhiêu tỉ người đã sinh ra, sống tạm trên đất rồi qua đời, không một ai trở về bảo cho chúng ta biết bên kia cái chết có gì? Kinh Thánh viết: ” Theo như đã định, mọi người phải chết một lần và chịu xét xử… Tất cả chúng ta phải trình diện trước Chúa Cứu Thế để chịu xét xử. Mỗi người sẽ nhận lãnh điều mình đáng lãnh do những việc mình đã làm trong thân xác, dù tốt hay xấu cũng vậy”. Kinh Thánh viết về số phận những người bị Thượng đế trừng phạt: ” Những kẻ hèn nhát, kẻ vô tín, kẻ làm ác, kẻ giết người, kẻ dâm dục, kẻ phù phép, kẻ thờ thần tượng và những kẻ nói dối thì chỗ ở của chúng là hồ lửa diêm sinh. Đó là cái chết thứ hai.”
       Như thế, Kinh Thánh cho chúng ta biết có hai cái chết: cái chết phần xác trên trần gian; cái chết thứ nhì là đời đời chịu thiêu đốt trong hỏa ngục. Đối với những người thuộc về Chúa thì không bị xét xử, bởi họ đã nghe lời Chúa, sống tốt đẹp trên mặt đất, sẽ được sống vĩnh viễn trên thiên đàng: ” Rồi tôi thấy trời mới, đất mới… Tôi cũng thấy thành Giê- ru- sa- lem mới từ Thiên đàng của Thượng đế xuống…Thượng đế sẽ lau hết nước mắt khỏi nước mắt họ; sẽ không còn chết chóc, buồn thảm, khóc lóc hay đau đớn nữa… Thành cũng không cần mặt trời, mặt trăng chiếu sáng nữa vì vinh hiển của Thượng đế là ánh sáng cho thành.”.
       Niềm hy vọng vào đời sống mai sau trên thiên đàng làm tăng thêm những động lực mới giúp cho con người thân xác sống hiền lành, không làm điều ác ở thế gian. Con người luôn mắc tội lỗi, Kinh Thánh nói: ” Kẻ lành sai lỗi một ngày bảy lần”. Ngay cả thánh Phaolô đã rèn luyện mình trong bao nhiêu năm cũng phải tự thú:” Những cái tôi muốn làm thì xác thịt cưỡng lại không muốn làm, còn những cái tôi không muốn làm , xác thịt lại cứ lôi kéo tôi làm”. Kinh Thánh dạy ta phân biệt phần linh hồn và phần thể xác của con người. Phần linh hồn có phẩm chất tinh khiết của Thượng đế, phần xác thịt là những ham muốn thỏa mãn vật chất. Kinh Thánh dạy ta hướng tới linh hồn để tránh hành động tội lỗi, chấp nhận chân lý và thực hành những điều thích hợp để đạt được những phẩm chất hoàn hảo của Thượng đế, tách mình ra khỏi thế giới vật chất hữu hạn luôn làm ta đau khổ. Khi ta cầu nguyện Thượng đế, là người cha thương yêu, ngài rót đầy những đức tin vào ta. Người có câu trả lời cho mọi câu hỏi, mọi lời khuyên cho mỗi lúc cần, tháo gỡ ra những bí hiểm của tạo vật, để dẫn dắt ta hành động, sống trong ý nghĩa cuộc sống cao cả. Ngài dẫn dắt ta ra khỏi những đau buồn và chịu đựng… cho ta những cảm giác tự do, hạnh phúc. Ngài cho ta tình yêu thương vô tận, vô cùng, cuốn linh hồn ta về với thế giới vô biên và trong sáng…
      Tôi mong công chúa hãy đọc Kinh Thánh và cầu nguyện hằng ngày. Thượng đế luôn ở bên ta. Nàng hãy cùng tôi đọc kinh Lạy Cha để chúng ta cùng cầu nguyện nhé: ” Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như ở trên trời.
      Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày, và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha người có nợ chúng con, xin chớ để chúng con sa trước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Amen.”

Chương 13

Cevallos ướp hồn chàng nơi những bông hoa bưởi ngan ngát thơm trong khu vườn của công chúa. Hồn chàng là cả một không gian đầy ắp những yêu thương. Chàng sợ một ngày kia, hương thơm hoa bưởi trên cổ áo của nàng sẽ vương trên mái tóc bạch kim của chàng. Và niềm yêu đương sống lại dưới nắng vàng, mây trắng xứ sở này… Đêm Yên Trường. Bầu trời xa thăm thẳm đen mượt như nhung. Tiếng ếch nhái râm ran, tiếng côn trùng rỉ rả, đồng điệu phát ra những âm thanh tạo thành bản nhạc đồng quê êm mịn. Cevallos quì trước bàn thờ Chúa:” Ôi! Lạy Chúa, con thương nhớ nàng. Tình yêu bỗng đến như mưa nắng. Người ngọc trao con ánh mắt hiền quấn quýt ái ân. Và con như một kẻ sa lầy trong ánh mắt lấp lánh một vì sao giữa đêm dày. Con yêu nàng như muốn thờ riêng một vị thần linh là nàng. Lạy Chúa con có tội. Từng hồi chuông ngọ đổ chơi vơi nhắc con về với Chúa. Xin Chúa cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi! Nàng thơm như hương bưởi. Nàng trắng như mây. Chúa ơi! Vẫn biết lòng con tin Chúa, mà đêm qua, con vẫn mơ, giấc mơ ái ân nhung lụa giữa kinh thành rừng núi. Lạy Chúa con là vật phàm hèn. Chúa đã dựng nên con, thì con xin dâng Chúa linh hồn và xác cùng mọi sự trong ngoài con ở trong tay Chúa”…

Cevallos tặng công chúa một cây thánh giá chiều cao chừng nửa mét, bằng đồng, khắc hình chúa Giê su bị đóng đinh, mà một linh mục ở Ninh Bình vừa gửi tặng ngài. Công chúa xúc động nhận cây thánh giá. Nàng ngắm kỹ hình ảnh người đàn ông khỏa thân, hai tay, hai tay chân giang rộng bị đóng đinh vào thánh giá nét mặt vẫn bình an, thanh thản. Người đàn ông trên thập giá như hiện thân của một cơ thể cường tráng, tinh khôi, chứa chan sức sống. Nàng thầm ngợi ca người thợ Đại Việt biết chạm khắc hình ảnh Chúa giê su khéo léo, tinh tế, có hồn đến thế. Nàng hỏi Cevallos về câu chuyện cuộc đời Chúa Giê su:

-Thưa thầy, Chúa Giê su sinh ra trong đêm Giáng Sinh huyền diệu và tỏa ánh sáng xuống thế gian, làm cho cả cõi trời và cõi người hân hoan đàn ca thánh thót, thành kính tôn thờ như vậy, sao lại ra nông nỗi Chúa Giê su phải bị đóng đinh trên cây thánh giá như thế này?

-Câu chuyện đức Chúa Giê su giáng sinh trên đất, cứu rỗi tội lỗi cho loài người, được kể trong bốn sách Phúc Âm của phần Cựu Ước trong Kinh Thánh. Chúa rao giảng tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại. Giê- su xả thân cứu loài người khỏi tội lỗi. Ngài sẻ cả phần máu thịt của mình cho con người. Nhưng chính con người lại giết Chúa Giê- su và đóng đanh trên cây thập ác. Chúa chết trên thánh giá, đã được chôn cất, rồi sống lại để cứu độ loài người. Bốn sách Phúc Âm( có nghĩa là tin mừng, tin lành cho nhân loại) các thánh không có ý viết tiểu sử Chúa Giê- su, chỉ ghi lại những bài giảng của các tông đồ, nói về cuộc đời công khai, về sự rao giảng Kinh Thánh, sự chết và sự sống lại của Chúa. Chúa Giê su vừa là Thiên Chúa vừa là nguời. Chúa Giê- su thực hiện nơi bản thân Chúa mọi lời tiên tri đã chép trong sách Cựu Ước. Người Do Thái là dân được Chúa chọn trong Cựu Ước, trở lại đạo Chúa Giê su Ki-tô không phải từ bỏ kho tàng thiêng liêng của dân được chọn. Họ vẫn tìm được trong Phúc Âm những gì làm cho dân tộc mình thêm vinh quang, trong sạch và hoàn hảo. Chúa Giê su đã đem tin mừng cứu độ đến cho dân I-xra-en trước hết. Đức Chúa Giê su đã dùng Kinh Thánh( Cựu Ước) để giảng đạo. Đối với ngài Kinh Thánh có uy quyền tuyệt đối. Ngài tuyên bố: ” Các người đừng tưởng ta đến đặng phá luật pháp hay là lời tiên tri. Ta đến, không phải để phá song để làm cho trọn”. Ngài cho biết nếu con người không tin Kinh Thánh thì không một phép lạ nào có thể thuyết phục được con người.

- Có thể liệt Phúc Âm vào loại sách lịch sử được không thầy?

- Không hoàn toàn đúng. Phúc Âm thuật lại nhiều việc Chúa Giê- su đã làm, lời người đã giảng. Đạo lý ngài truyền lại rất mực uyên thâm. Mục đích là để di dưỡng và khai sáng đức tin trong tâm hồn những người muốn và có thể lĩnh thụ được. Tuy vậy, những câu chuyện kể trong Phúc Âm không phải là không có thật. Các thánh ký không cốt viết lịch sử, nhưng những điều các ngài viết ra có giá trị lịch sử lớn lao. Những ai đến viếng Thánh địa còn được nhìn tận mắt cái hang Chúa Giê- su sinh ra, sông Hòa Giang nơi chịu phép rửa, con đường đi Jericho, nhà tiệc ly, núi câu Dầu, Núi Sọ, nơi Chúa chịu chết, mồ thánh nơi chôn Chúa… ghi nhận cuộc âm mưu giết ngài, và tên tông đồ phản bội đã dâng nộp thầy chỉ vì tiền.

-Ôi! Sao trên đời này lại có kẻ phản thầy?

-Có đấy công chúa ạ. Các tác giả Phúc Âm kể chuyện này với giọng kể chầm chậm, từ tốn, như một linh cảm dần dần… kể đến tội phản Chúa. Hình như họ không dám kể trực tiếp, sợ độc giả quá đột ngột. Vì tội ác này lớn quá. Phúc Âm kể rằng trước đó, Chúa truyền dạy các tông đồ phải tỉnh thức như người gác cửa hãy thức canh. Và Chúa cùng các con chiên đã linh cảm Chúa sẽ bị giết vì kẻ phản thầy. Một người phụ nữ ở làng Bê- ta- ni- a đã tiến vào nhà ông Si- Mon hủi, mang một bình ngọc đựng dầu cam tùng rất quí đến, đập vỡ bình ra, đổ dầu thơm trên đầu Chúa. Mọi người oán trách chị phung phí, Chúa bảo: ” Chị đã làm cho ta việc tốt lành. Chị đã xức xác ta trước, chờ ngày mai táng ta” . Bấy giờ, Giu- đa I-xca- ri-ốt, một trong mười hai môn đệ đến gặp các đại tư tế để hẹn dịp tốt sẽ nộp Chúa Giê- su cho họ. Hắn được họ vui mừng đón tiếp và hứa cho tiền… Ngày lễ Vượt Qua, tuần ăn bánh không men để kỷ niệm ngày dân Do Thái thoát khỏi làm nô lệ dân Ai Cập, buổi chiều Chúa ngồi ăn tiệc với mười hai môn đệ. Trong bữa ăn, Chúa rửa chân cho các tông đồ để dạy các ông đức khiêm nhường và bác ái, Chúa bảo họ: ” Ta nói thật với anh em, có một người trong anh em đang ăn cùng ta, sẽ nộp ta” . Các tông đồ rất buồn phiền và lần lượt hỏi Chúa: ” Thưa thày, có phải tôi không?” . Chúa đáp: ” Trong mười hai người đây, ai để tay vào cùng một đĩa với ta thì là chính người ấy.

Con Người ra đi đúng như lời đã chép về người, nhưng khốn thay cho kẻ nộp Con Người, thà rằng kẻ ấy đừng sinh ra thì hơn”.

Và Chúa lập phép Thánh Thể:

Kinh Thánh ghi: ” Đang khi ngồi ăn, Chúa cầm lấy bánh, đọc kinh tạ ơn rồi bẻ bánh ra và đưa cho các môn đệ mà rằng:” Hãy ăn, đây là Mình ta”. Rồi Chúa cầm lấy chén tạ ơn, đưa cho các môn đệ và tất cả đều uống. Chúa bảo họ:” Đây là Máu của ta, máu của Giao Ước, sẽ đổ ra cho nhiều người. Ta nói thật với anh em, ta không còn uống rượu nho này nữa, cho đến ngày ta sẽ uống thứ rượu mới trên Nước Thiên Chúa” .

Đức Giê- su tuyên bố ngài là chiên thật, ngày mai sẽ đổ máu ra để cứu con người khỏi điều ác, sự tội, để làm hòa nhân loại tội lỗi với Thiên Chúa. Ngài ban cho các tông đồ được quyền làm việc tế lễ qua mọi thời đại. Sau đó, ngài truyền cho các ông luật bác ái: ” Thầy truyền cho các con một giới luật mới là các con hãy yêu nhau như thầy đã yêu các con. Người ta cứ theo dấu các con yêu nhau mà nhận ra các con là đệ tử của thầy”.

Công chúa cảm động cùng câu chuyện, rơm rớm nước mắt. Nỗi xúc động dâng đầy trong mắt hai người, Cevallos đọc kinh cầu nguyện : ” Lạy Đức Chúa Giê su, con Đức Chúa Cha hằng có đời đời. Trái tim Đức Chúa Giê su bởi phép Đức Chúa Thánh Thần đã dựng nên trong lòng rất thánh Đức Mẹ Đồng Trinh. Trái tim Đức Chúa Giê su là đền thánh Chúa Trời. Trái tim Đức Chúa Giê su là lò lửa mến hằng cháy. Trái tim Đức Chúa Giê su gồm sự công chính và sự thương yêu. Trái tim Đức Chúa Giê su đầy sự nhân lành cùng sự yêu dấu. Trái tim đức Chúa Giê su là vua lòng mọi người cùng là chốn phải hướng về thay thảy. Trái tim Đức Chúa Giê su là kho mọi sự khôn ngoan thông thái. Trái tim Đức Chúa Giê su hay ở rộng rãi cùng những kẻ nguyện xin. Trái tim Chúa Giê su ban cho chúng con sự bằng yên và làm lành cùng Đức Chúa Trời. Amen.”

Chiều chậm rơi theo gió thơm hương trầm. Công chúa ngắm nhìn cây thánh giá thật lâu( Thập giá tượng trưng cho con người đứng trên trái đất với hai tay giang ra, hướng lên trời, như những chữ thập trên các ngôi đền ở Mễ Tây Cơ cổ xưa). Câu chuyện về cái chết bị đóng đinh của Con Người trên cây thập giá mà dân Do Thái sáng tạo, đã làm chấn động tâm trí nàng. Công chúa muốn mặt trời đừng lặn khỏi sườn non để không phải chia tay với cha cố đêm nay. Nàng muốn chàng ở lại trong ngôi nhà gỗ thơm này. Nàng cầm tay Cevallos nhìn sâu vào mắt chàng. Cái nhìn như gọi, như mời, như cầu cứu một nơi ẩn náu của tâm hồn. Cevallos nâng bàn tay nhỏ của nàng đặt lên trái tim mình. Chàng thầm nghĩ:” Sẽ ra sao đây, lạy Chúa, người biết rõ nỗi đau mà chính người đã ban cho tôi đó. Tình yêu vẫn ấp ủ bên tôi. Người hãy thương, nơi tôi, lý trí đã suy yếu dần trước con tim tội nghiệp vẫn đập đều đều và tình yêu đón đợi”.


... CÒN TIẾP ...

© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 18.01.2010.

TÁC PHẨM CỦA MAI THỤC CHỈ PHỔ BIẾN
DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART Ở HẢI NGOẠI