... HÀO HOA LÀ LÍNH KHÔNG QUÂN...

Kỳ thứ 6


Câu hỏi thăm của họa sĩ về cô Vũ Thị Tỵ bây giờ ra sao, ở đâu, làm gì? tôi chỉ mang máng biết rằng nàng đã lập gia đình với một người Phi Luật Tân (Philipppines) . Và hình như đã hơn một lần nàng theo chồng bước xuống sân bay Clark.
Cũng như chỉ đi chơi vài lần với Khê ở Đà lạt vào mùa Giáng sinh; tôi viết thư cho nàng, rồi tự định đoạt ngày hỏi, ngày cưới, tự in thiệp cưới; xong đâu đấy rồi tôi bảo Nguyễn Quốc Văn:

-Cậu là đại sứ của tôi, cậu hãy đem thiệp cưới này về Đá lạt, rồi báo cho cậu mợ , chị ấy biết- kết quả thế nào cậu đánh điện tín cho tôi.

Văn đứng về phía tôi, rất nghe lời, tin tôi, nhất là sau khi từ đà lạy bay về Vũng Tàu chơi với tôi. Ở đây cậu gặp lại nhạc sĩ đàn anh Phạm Duy- lúc này nhạc sĩ mặc bà bà đen,sáng tác ca khúc chính trị, gọi tâm ca , ( có thể hai chữ tâm ca này cũng được thầy Nguyễn Đức Quỳnh mớm ) như ca khúc Áo mầu đen chẳng hạn. Pham Duy , và hai ca sĩ trẻ người Mỹ cũng mặc bà ba đen Biệt chính hát cách nhiệt tình, sôi động. Nguyễn Quốc Văn quen biết Phạm Duy qua Nguyễn Đức Quang, bạn học, bạn nhóm du ca được Phạm Duy hướng dẫn, bây giờ Văn gặp lại Duy nên rất vui, bầy tỏ với tôi ,Văn hài lòng chuyến đi Vũng tàu này.
Kể cho Văn nghe, có lần tôi , Phạm Duy, Thanh Hùng ( hồi chánh viên đàn hay, ngâm thơ giỏi, từng là nhân viên Đài Hà Nội vượt tuyến vào Nam). đi chung xe díp dạo quanh vòng Núi lớn- Phạm Duy kể chuyện tại sao anh sáng tác ca khúc Tiếng đàn tôi cho ai, vì ai, vv..- bởi cái cô tên Cầm? trước khi là chị dâu ( vợ của Phạm Duy Nhượng, tác giả Tà áo văn Quân) đã là bạn gái của Duy từ trước . Khi chị dâu qua đời, Duy làm ca khúc này tặng . Chẳng biết đúng hay không , sau này gặp Trần Thị Bông Giấy, nhà văn nữ, cho xem một bài viết khá dài lên án P.D. đạo nhạc thân sinh cô, ( khi P.D lang thang ở Huế, nhạc sĩ , bố cô đưa về nhà cung phụng, rồi D. chớp mấy ca khúc bản thảo của Trần Mưu; trong đó có Tiếng đàn tôi. Chuyện này được xếp lại, (theo Bông Giấy kể ) vì bà cụ thân sinh can, không cho làm to chuyện ,khi bà còn tại thế. Hiện tôi còn giữ tài liệu P.D đạo nhạc bản thảo Trần Mưu , tuy vậy vẫn bán tin, bán nghi; vì lần đầu nghe chuyện một nhạc sĩ đa tài cỡ P.D., tác giả rất nhiều ca khúc như vậy , lại liên lụy đến vụ cầm nhầm ca khúc bản thảo một ai sao?

Những ngày cuối tháng 12/1965, khi sống ở trung tâm Seminary- mỗi khi nhân viên ra Vũng tàu để lấy thư, báo ở Hộp thư Số 1 Vũng Tàu - tôi luôn săn đón thăm hỏi xem có thư, điện tín của tôi từ Đà lạt không?
Lần này tôi nhận được thư bố vợ tương lai từ Đà lạt, cầm thư đã rất lo lắng, hồi hộp. Không sao được, ngay cả thiệp cưới đối với người xem, đọc cũng là tin giật gân, tạo sự hồi hộp khác thường rồi; huống hồ tôi ?
Thiệp cưới in một màu đen, chữ Véronèze 12, tấm ảnh nhỏ 2x2 chụp chung ở sân bay Cam Ly in ở giữa thiệp , ảnh chụp khi Khê tiễn tôi. Họ, tên nhà trai in phía tay phải, nhà gái bên trái. Thiệp in làm hai loại, một nửa số thiệp này đề tên thật; nửa còn lại in bút danh Thế Phong, nhà văn. Tư Cao, chủ nhà in Nguyễn Trọng ở Gia định, gần Lăng Ông- Bà Chiểu in ấn; nói cho oai, nhà in chỉ là loại nhà in nhỏ ví như hộp quẹt ( hộp diêm) có hai cíiếc máy, một máy pédal in từng tờ, dùng tay đặt giấy in; chiếc kia tám bát chữ in sách, thơ. Sa Giang-Tuấn Kiệt có in tập nào ở đây không, tôi không nhớ rỡ- hình như anh ta quảng cáo Tư Cao in rẻ, giúp đỡ văn nghệ sĩ, có khi còn cho chịu tiền ( dầu chủ vợ, con nheo nhóc). Do vậy, tập thơ Mưa Nguồn ( 1962) , bịên khảo về Heiddeger của Bùi Giáng in ở đây, cả thơ đầu tay Du Tử Lê cũng vậy ( tôi gặp nhà thơ trẻ Du Tử, qua sự giới thiệu của Kiệt, rồi làm hai câu thơ gọi là tựa cho thi tập đầu tay của anh. ( đến nay tôi quên tựa tập thơ rồi) .
Sau đảo chính 1963, đọc nhật báo Chính luận, tôi mới biết Nguyễn Văn Cao đã bị tống giam vào Khám Chí Hòa, vì anh làm kinh tài cho Việt Cộng. Thời thế đổi thay, ông xuống thằng, thằng lại lên ông. Thế là ông Nguyễn Văn Cao, tự Tư Cao, thằng tù ngày nào khốn khổ, nay là giám đốc nhà in báo Sài Gòn giải phóng . Đã nghe nhiều lấn, nhà văn Thế Nguyên ( được gọi là tứ trụ cách mạng - Vũ Hạnh, Thái Bạch ( tức Phạm Văn Giao) , Nguyễn Nguyên ( tức Nguyễn Ngọc Lương, Thế Nguyên ) ngồi kế bên nhạc sĩ bộ trưởng Lưu Hữu Phước , cầm cân, nẩy mực, chấm, phá tên trong danh sách văn nghệ sĩ ngụy Saigon , ai được đi học tập dài, hoặc ngắn hạn) mời tôi lại chơi; nhưng không tới, và sau ít năm anh qua đời; tôi có đi qua căn nhà của nguyên giám đốc được cấp nhà đúc, số nhà mặt tiền nằm trên đường Lý Thái Tổ, quận 10. Tôi đi qua để viếng anh, nhưng không vào nhà làm gì.
Ngày xưa Tư Cao in thiệp cưới cho tôi, lại cực lực phản đối in một màu đen- theo ý anh thì chưa ai làm vậy, vì nó không phải là thiệp hồng. Tuy không nói ra, nhưng theo thói thường đoán, hậu vận không tốt. Tôi bảo anh, là do tôi suy nghĩ thôi, đây là loại thiệp cưới trang trọng in một màu đen nghi thức bậc nhất đấy.
Thư của ông giáo Bảo ( bố vợ tương lai gần ) cho biết, nên hoãn lại đám cưới dự định ngày đã in trong thiệp; với lý do bất ngờ quá, và chưa kịp chuẩn bị bất cứ thứ gì, vả lại tết ta lại đến rất gần rồi. Nhưng tôi viết thư trả lời, trước sau gì cũng cưới thôi; hơn nữa đã gửi thiệp cưới cho bạn bè, trong số ấy đa số là nhà văn, thơ, ký giả, giáo sư, và chẳng mấy ngày nữa , các báo đăng Tin Mừng. Chỉ cần hai bác đồng ý, nhất là Khê. Sau Tết, trong vòng năm ngày, tôi sẽ lo đủ đám hỏi, đám cưới một lần đủ. Quả đúng như vậy, hôm nay vài tờ đăng tin ; mai vài tờ đăng; rồi nhất loạt báo chí Sài Gòn đăng tin mừng tới tấp.
Ít ngày sau, tôi nhận được tin báo từ Đà lạt; Khê và gia đình bác Bảo đồng ý với điều kiện như tôi hứa- tổ chức đám hỏi và đám cưới cùng một lần, theo đúng nghi thức , thủ tục.

Hai vấn đề cấp thiết được đặt ra trong việc tổ chức đám cưới của tôi.

Về phía nhà trai chỉ có hai người; cô ruột, bà Đỗ Thị Thảo đứng tên trên thiệp đại diện nhà trai, thay bố mẹ tôi không còn nữa; hai là một người anh nuôi mấy năm rồi nuôi tôi cơm áo, nơi ăn, chốn ở. Ấy là công ơn từ anh Cao Thế Dung, một lần đến thăm tôi ở nhà thuê khu xứ đạo Tân Chí Linh, thấy bị xiết đồ đạc, vì sáu tháng không có tiền trả tiền nhà; lại bị báo Tiếng dân ( cơ quan Cục Tâm lý chiến, chủ nhiệm trung tá Nguyễn Văn Châu) loan tin trang nhất: kịch sĩ Năm Châu & nhà văn trẻ Thế Phong bị đưa đi Trung tâm cải huấn Vĩnh Long , nên anh giới thiệu tôi với anh Phạm Quang Huyến ở xóm đạo, vừa an toàn mọi mặt, cả về an ninh cá nhân; ít khi quân cảnh, an ninh nhòm ngó xóm đạo cha xứ đồng đạo Tổng thống Diệm. Khu Tân Chí Linh nằm ở khu Ông Tạ, dân bắc di cư là bảo đảm trăm phầm trăm. Bây giờ người đại diện thứ hai nhà trai, ngoài cô ruột, đó là anh nuôi tôi, Phạm Quang Huyến.

Vấn đề thứ hai là TIỀN. Cứ như nhà thơ Jules Supervielle( 1884-1960) gốc xứ Nam Mỹ , kiếm miếng cớm tấm chữ văn chương lưu lạc tới sông Seine, tác giả đôi ba tập thơ, vở kích xuất sắc, có kinh nghiệm máu xướng về TIỀN , ông ta gọi thế lực kim tiền: le fétichisme de l'argent, hệt nhà văn tiền chiến Lê Văn trương của ta, ấn tượng đồng tiên xiết từng giọt máu đào( đỏ, hay tím bồ quân) nhà văn đổ ra, vậy là Đồng tiền xiết máu, tác phẩm mới nhất của Lê Văn Trương được nhà xuất bản Tia sáng Hà Nội trước 1954 in, phát hành.

Ai cho tôi vay tiền? Thằng viết văn như tôi, đít nhẵn, chơn, như đít ếch, lấy gì đảm bảo để có thể trả được? Cũng may, hiện tôi là giảng viên chính trị cho một trung tâm do chú Sam đài thọ, có lương tháng, vậy chắc cứu có một chút đởm bởo rồi ! Với đám cưới này, tôi phải có ít nhất 150.000 ngàn đồng, nôm na số tiền có thể mua được khoảng gần 8 chiếc Mô by lét xanh, bình xăng vuông, mới cáo cạnh - như cái tôi đang xài.
Anh Phạm Quang Huyến góp ý :

-Hay ta đến vay anh Phú Nhẩy dù, được không?

-Ý kiến hay, thế mà không nghĩ ra?

Nguyễn Hữu Phú, trung sĩ Nhẩy dù, nhà ở xóm Hà Nội gần xóm đạo An Lạc ( dân di cư Bắc hà đặt tên xóm ) , người bạn của chúng tôi hay lại chơi, và hai chúng tôi ( có cả Đinh Xuân Cầu, con rể Vũ Đình Long, cha đẻ báo Tiểu thuyết thứ bẩy tiền chiến) cũng từng có kỷ niệm với nhau từ 1964 đồng lao cộng tác đi đào mỏ vàng ở Phi Nôm, gần đèo Prenn Đà lạt.
Chẳng thế mà báo Sống của Chu Tử, mang tên Kha Trấn Ác trong mục Ao thả vịt ong ỏng báo tin cho đọc giả hay, nhà văn Thế Phong ( vua chửi) và kịch tác gia Đinh Xuân Cầu ( cùng một vũ nữ tài danh số I vũ trường Tự Do, Minh Phụng) đi đào mỏ vàng ở Đà Lạt. Đọc rồi, tôi chẳng hiểu anh ( cũng là vua chửi nghĩ gì khi al5i phong tôi vua chửi trong làng văn, làng báo Sài Gòn? Khi ấy còn một Thương Sinh (Duyên Anh) cũng thuộc loại chúa chửi (mục Sống Sượng trên trang 2 báo Sống ).

Đến Đà lạt tay không, chẳng đồ sính lễ, áo cưới cô dâu chưa có, mà 10 tết ta là ngày cưới- chỉ còn bốn ngày làm sao sửa soạn cho kịp đây?

Đà lạt còn đắm trong sương mờ mịt, không khí xuân tràn đầy, hoa anh đào nở hai lần, phố xá đông người, tấp nập- nhưng các cửa hiệu cửa đóng im ỉm ăn tết.
Cũng may trong số khóa sinh Biệt chính học ở Trung tâm Vũng tàu mãn khóa về Đá lạt khá đông. Gặp lại một nữ khóa sinh Biệt chính, cô tên Đa thì phải (nhớ rõ , gọi trưởng lớp Tám 3 Đoàn Chim bằng cậu ruột.) Cô này thẳng thắn phát biểu ngay đêm mãn khóa: " Bao giờ thầy lên Đà lạt cưới vợ, thấy mà không cưới cô Kh. là em không thèm nhìn mặt thầy nữa đâu?" .( bởi cô biết tôi quen con chủ quán Aux Délices ) Gặp tôi lên đây cưới vợ, cô bé rất mừng, giới thiệu tôi nhà Giăng ở 33 Hoàng Diệu làm phù rể là nhất( cậu tây lai cao ráo, sáng sủa, bảnh trai làm phù rể cho thấy thì chẳng ai hơn ) . Tôi đoán gia đình Giăng ( Jean )có quốc tịch Pháp. Và cô bé cỏn giới thiệu một khòa sinh khác( tôi quên tên, nhà ở cưối đường Hai Bà Trưng , gần Cầu số 4) có người cậu ruột, tiệm thợ may Túy cũng ở trên đường Phan Đình Phùng. Nhà may Túy chuyên may áo dài các bà, các cô rất đẹp.
Và gia đình bác giáo Bảo ( bố vợ tương lai gần ) quen một gia đình làm bánh ngọt trên đường Hàm Nghi, vậy tất cả tiệm quen ,chúng ta có thể gõ cửa để họ mở cửa hàng sớm đầu năm. Tiệc cưới đặt ở Khách sạn Nam Đô, còn phòng cưới đón dâu về thuê ở khách sạn Dalat Palace- phòng A 1, một trong 4 phòng đắt tiền nhất đều trông ra hồ Xuân Hương.
Cô dâu , tín hữu Báp tít Ân điển nên giáo sĩ Bill Robertson làm chủ lễ hôn phối tại thánh đường tại 68 đường Minh Mạng. Chú rể chưa tin chúa, nên trước ngày cử hành hôn lễ phải tới tư thất của giáo sĩ học giáo lễ. dấy cũng được coi như đặc ân, đúng là chú rể phải tin Chúa trước, làm báp têm xong, mới được gọi là cơ đốc nhân thì mới được phép kết hôn với một Cơ đốc nhân khác. Khi hai chúng tôi đến nhà giáo sĩ Bill Bobertson lại gặp một nữ giáo sĩ, bà Betty Merrell, bà này là người đàn thánh ca ở nhà thờ. gặp chúng tôi, bà nói ngay:

-Một là, Chúa có thêm một tín đồ; hai là Chúa mất đi một . Đây là đám cưới đầu tiên đôi nam, nữ Việtnam là tín hữu Báp tít, Chúng tôi sẽ quay phim đem về Mỹ quảng bá, và Báp tít ở miền Nam nước chúng tôi tôn giáo này rất lớn.

Ngày 30 tháng 1 năm 1966, hôn lễ được cử hành xong, rước dâu về khách sạn Dalat Palace. Một số giáo sĩ nhìn vào phòng A, có 4 giường, hai lò sười kiểu tây rất lớn, điện thoại, phòng tắm, sa lông, một giáo sĩ nói với bạn, đại để hỏi xem chú rể làm nghề gì, ở đâu, mà lại dám thuê phòng cưới rất sang trọng ở Dalat Palace, mỗi phòng 2000 đồng/ ngày.
Thật ra, sau ngày cưới, vợ chồng tôi đã phải đem một vài chiếc nhẫn mừng bán cho tiệm vàng lớn Bùi Thị Hiếu để có tiền chi dụng công việc thường ngày. Rồi ba ngày sau, chúng tôi lên phi trường Cam Ly, đợi chiếc máy bay Cessna bốn chỗ đưa chúng tôi về Saigon. Ngày hôm sau đi Vũng tàu, và trên đường về trại Seminary Camp, vợ tôi nhắc chuyện bà cô bỏ về nửa chừng, nhất định không làm chủ hôn phía nhà trai- chỉ vỉ một chuyện nhỏ, bà cô ngủ tại nàh bố mẹ vợ tôi, bà đọc một cuốn sách có nhan đề: Năm sắc diện, năm định mệnh của Du Tử Lê: (*)

----

(*) Năm sắc diện, năm định mệnh của Du Tử Lê (Du Tử Lê xuất bản, Saigon 1985) , nói đến năm người: Đinh Hùng, Thanh Tâm Tuyên. Tô Kiều Ngân, Bùi Giáng (?) và Thế Phong. Trong phần nói về Thế Phong, có đoạn :

"....Ông vừa nói chuyện với tôi vừa đánh máy Thế Phong, nhà văn , tác phẩm, cuộc đời. Nghĩ tới đâu ông đánh máy tới đó, không viết trước. Bên cạnh chiếc máy đánh chữ là một ly cà phê to ( loại ly sành) cùng hai bao Bastos xanh, gu đặc biệt của ông. Ông uống cà phê như uống nước trà, và hút thuốc liên miên, ngay cả lúc đánh máy. Ngồi một lát, ông rủ tôi ra quán cà phê. Sau một thời gian giao tiếp, tôi cũng không biết ông lấy tiền đâu để sống ! Vì ngoài việc viết sách, ông không hề làm gì khác, cũng không hề viết báo. Chỉ biết về sống tại đây nhờ một người anh họ .( Du Tử Lê nói đến Phạm Quang Huyến. Cũng cấn nói thêm , anh Cao Thế Dung đến thăm tôi ở xóm đạo Tân chí Linh, đúng lúc chủ nhà xiết nợ, buộc tôi phải rời nhà, để lại đồ đạc, bới 6 tháng chưa trả tiền thuê. Thêm nữa, (1962) nhật báo Tiếng dân - báo của cục Tâm lý chiến, chủ nhiệm trung tá Nguyễn Văn Châu (đảng Cần Lao Nhân Vị của Tổng thống Diệm) loan tin ' "nhà văn trẻ Thế Phong và kịch sĩ Năm Châu bị đưa đi Trung tâm Nhân vị Vĩnh Long cải huấn" . Theo anh Dung, anh giới thiệu đến ở với một gia đình xóm đạo Tân Chí Linh gần chợ Ông Tạ ( chủ góa vợ, có ba con, hai trai, một gái nhỏ) sẽ rất an toàn cả đới sống áo cơm, nơi ở, lại an ninh; đây là xóm đạo mà cha xứ đồng đạo Tổng thống Diệm thì chẳng ai tới hỏi han đâu. - TP chú thích)

Điều lạ hơn nữa là không bao giờ thấy ông than phiền về các vấn đề tiền nong, hay kêu ca về những đau khổ mà cuộc đời đã dành cho ông. Không phải đời sống ông đầy đủ, không phải cuộc đời hậu đãi ông. Dĩ nhiên là thế ! Hay ông là con người vô tư, đang sống trong hạnh phúc trong tình yêu tràn đầy? Tôi biết chắc chắn cũng không phải. Thơ văn và thái độ của ông đã chứng tỏ hùng hồn điều đó. tất cả những chuyện ông nói với tôi, tuy có chua chát, đắng cay, nhưng ông kể lại với một giọng hài hước, dí dỏm, không một chút hậm hực, không một chút oán hờn, than trách. Bất cứ ở đâu, chỗ nào, ông cũng chỉ có một vẻ mặt: tươi cười, vui vẻ, một giọng nói vang động, vỡ nát. Nhưng tôi không tin. tiếng cưới, giọng nói đó phản ảnh mặt thực của tâm hồn ông.
Ở quán về, đêm đã khuya lắm, ông còn cố giữ tôi lại. chúng tôi ra ngồi ở một chỗ bàn gỗ ngoài sân dưới giàn hoa hồng giấy. Chiếc transistor để bên cạnh, phát ra những âm thanh kích động của một bản nhạc ngoại quốc. Chúng tôi im lặng hút thuốc. Mỗi khi đốm lửa xòe lên , lại một lần soi sáng khuôn mặt nhăn nheo, dữ tợn. lì lợm của ông. Nhưng không như mọi lần, ở đây mỗi khi liếc nhìn, tôi thấy ẩn sau những nét nhăn, có vẻ hung hãn kia, có một cái gì rất mỏng manh, rất khó nhận, nhưng cảm được. Một nỗi buồn, một vẻ ưu tư trầm kín, cái cảm gíac mơ hồ về một đớn đau, một khắc khoải quằn quại, một chán chường, khốn nhục...Tôi không biết trong thâm tâm lúc đó ông nghĩ gì? hay không nghĩ gì cả? Tôi bỗng thấy buồn, Bỗng thấy một niềm thương tiếc không đâu dâng lên rào rạt trong tâm hồn tôi. Xa xa tiếng súng đại bác từ miệt Phú Lâm vọng tới. Ông thở dài như nói một mình" ... tôi không còn gia đình thân thích nào ở đây. Trong đời tôi chỉ qúy mến và nghe lời một người, đó là mẹ tôi. Nhưng mẹ tôi kho6ngco1 ở đây, bố tôi cũng vậy. Tôi không anh em ruột thịt, một thân một mình, chả cần. Sống theo những gì mà mình muốn, làm những gì mà mình thích làm. Vợ con chưa có,lỡ có chết, các tai tiếng, điều gì, cũng chỉ một mình mình gánh chịu...".Dừng lại một lát, ông tiếp, giọng thật nhẹ, xa xôi, khác hẳn bình thường., khiến tôi có cảm tưởng như tiếng nói đó không phải của ông mà của một ai xa lạ. Tôi không muốn để ai biết tôi buồn, nỗi buồn của tôi chỉ có tôi biết mà thôi, tôi cũng không muốn nhận hay mang ơn ai cả..."

trích Năm sắc diện, năm định mệnh/ Du Tử Lê) .


(Chú thích của Thế Phong)

" Có lẽ bà cô tôi đọc tới đoạn này khiến bà nổi giận, tự ý bỏ về Saigon, không đứng chủ hôn đám cưới chúng tôi. Gia đình bên vợ thông cảm, chấp nhận cho anh Phạm Quang Huyến đại diện nhà trai. Ở truyện ngắn " Khu rác ngoại thành" ký Thế Phong- truyện ngắn tôi viết về gia đình anh Huyến nằm trong tập truyện ngắn Con chó liêm sỉ (Đại nam văn hiến, Saigon 1961). Năm 1966, Nhà xuất bản "Trình bày "của Thế Nguyên tái bản , đổi tựa thành" Khu rác ngoại thành" , bỏ truyện ngắn "Con chó liêm sỉ "nói về chuyện Hoàng trọng Miên đạo văn Nguyễn đổng Chi. Truyện ngắn này được Cao Giao-Huỳnh văn Phẩm dịch sang pháp văn, rồi ký giả Jean-Claude Pomonti đưa về đăng trên báo Le Monde Diplomatique, Paris 1970- không đề tên dịch giả. Sau Nxb Trình bày in "Khu rác ngoại thành' do Lê Văn Hảo dịch ( Lê Hào) trong tập truyện "Crépuscule de la violence"- nhiều tác giả. (Saigon 1969).và Đàm Xuân Cận dịch sang anh ngữ " The Rubbish Outside The City" (Dai Nam Van Hien Books, Saigon 1971). Năm 2006 Chi nhánh Nxb Thanh niên tại tp Hồ Chí Minh (trưởng chi nhánh: Thái Thăng Long cấp phép & Doanh nghiệp Thành Nghĩa in, phát hành) cho ra mắt KHU RÁC NGỌAI THÀNH/ THE RUBBISH TIP OUTSIDE THE CITY (song ngữ) . In đủ 4 truyện ngắn đầy đủ như ấn bản đầu tiên (1961).

... Còn Tiếp ...

(Đồng Văn xb & Nhà Văn Nghệ Cali phát hành, 1995)









© tác giả giữ bản quyền.
.Tải đăng theo nguyên bản tác giả gởi ngày 05.01.2010.
. TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN THẾ PHONG CHỈ ĐĂNG TẢI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM.

. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com