... HÀO HOA LÀ LÍNH KHÔNG QUÂN...


Buổi sáng ở phi trường quân sự Vũng Tàu, tôi tiễn vợ tôi theo chuyến máy bay quân sự C.130 về Đà Lạt. Đó là vào tháng 11 năm 1966, mà cách đây mười tháng, tôi lập gia đình với Khê ở Đà Lạt- đúng ngày 10 tết Bính Ngọ. Chỉ cuối tháng 11 này, vợ tôi sẽ sanh đứa con đầu lòng, nhìn nàng trong chiếc váy đầm rộng thùng thình, cái băng đô hồng cài trên mái tóc; tự dưng khi ngắm nàng bước lên máy bay, thì lòng tôi trùng hẳn xuống.

Còn phần tôi, khoảng tháng 12 này cũng phải buộc thôi làm việc ở Trung tâm Huấn luyện Xây dựng Nông thôn, để trình diện nhập ngũ.

Tôi đã làm việc ở đây từ đầu tháng 3 năm 1965, như vậy là gần hai năm ròng rã với chức vụ giảng viên chính trị cho khóa sinh. Đó là một trung tâm do Mỹ thành lập, gọi là Political Action Teams ( PAT, Toán Dân ý Sự vụ ) * , cố vấn là một người Mỹ, ông Red Winstead. Nơi đây có ba trại; trại Cát Lở, chuyên dạy về y tế, mà vợ tôi làm ở đây, vì đã theo học Đại học Y khoa Saigon được một hoặc hai năm gì đó rồi bỏ dở. Trại thứ hai: Ridge Camp (trại trên đồi cát) rất rộng , có thể chứa được trên dưới hai ngàn khóa sinh trong một hội trường . Trại thứ ba đầu não là Seminary Camp ( trại Phù Đổng) , vì người Mỹ thuê lại của nhà thờ Dòng chúa Cứu Thế.

---

* A Bright Shinning Lie, John Paul Vann and America in Vietnam by Neil Neil Sheehan , nxb Random House, Mỹ 1990).Trong cuốn sách này, tác giả đề cập các trại của Toán Dân ý Sự Vụ như sau:
..." Khoảng cuối năm 1965, khi Gordon Jorgenson, trùm tình báo CIA ,và Tom Donahue, sĩ quan thuộc cấp phụ trách các toán dân ý sự vụ, cần một người Việtnam để làm giám đốc chương trình cán bộ bình định, mà họ ( Mỹ) sẽ điều hành cùng với cơ quan AID(...) Vann nói:".. chương trình Biệt kích của CIA đã bị một người theo phái chính trị ngu dân ở Việtnam thâu tóm, và đang được dùng làm bình phong để bí mật tuyên truyền đường lối chống Cộng, nhưng cũng chống Saigon của phái ấy. Người đang làm đó là sĩ quan chỉ huy kiêm trưởng ban tuyên truyền tại trại huấn luyện Vũng Tàu, một đại úy trong Quân lực Việtnam Cộng hòa thuộc binh chủng truyền tin tên Lê Xuân Mai. Mai là một nhân viên CIA từ cuối thập niên 1950, Mai đang tuyên truyền với tất cả học viên, qua chương trình huấn luyện chính trị, một phần trong chương trình đào tạo, và đồng thời đang gài những tổ chức bốn người được nhồi nhét đường lối chính trị của phái ấy vào các Toán Dân Ý vụ sắp học xong khóa huấn luyện. Lê Xuân Mai thi hành mọi chuyện ngay dưới mũi Jorgenson và Donahue, cũng như cá thuộc cấp của hai người. Không có nhân viên CIA nào ở Trại huấn luyện nói được tiếng việt; còn Jorgenson ,và những thuộc cấp của ông lại chẳng có ai tò mò mà cho dịch các bài học chính trị ra Anh ngữ cả...( trang 281, 282, và 283- tập 2, bản dịch việt ngữ).
- Tôi đi dân vệ Mỹ, tác giả Đinh Bạch Dân, Đại Nam văn hiến, Saigon 1967. Cuốn truyện ký này tôi ký bút hiệu Đinh Bạch Dân mà trước đó đã đăng trên nhật báo Sống của Chu Tử, sau in thành sách. Vả đã được dịch sang Anh ngữ: The Ordeal of the American Militiaman ( bản in lần 2, Dai Nam Van Hien Books, Saigon 1970-, translated from Vietnamese by Đàm Xuân Cận - bản đầu : I was an American Militiaman ) Trong cuốn truyện ký này, tôi viết về những ngày sống ,và làm việc ở trung tâm.
Năm 1990. qua Google / Search; tôi phát hiện cuốn sách này là một trong 5 cuốn phổ biến trên mạng toàn cầu dạng ebooks - các cuốn khác do Amazon. com phổ biến:
- A brief glimpse at the Vietnamese literary scene, from 1900-1856, translated from vietnamese by Đàm Xuân Cận, Dai Nam Van Hien books, Saigon 1970, 1971/ bản việt ngữ: Tổng luận 60 năm văn nghệ Viêtnam 1900-1956, Saigon 1965, Dai Nam van hien xuất bản.- Amazon.com: Thephong by Thephong; : The writer, the work & the life, autobiography Thephong , Books( Bản viết ngữ: Thế Phong/Nhà văn/tác phẩm Cuộc Đời, ( Đại Ngã tái bản lần 2, Saigon 1970. ) www.amazon.com/Thephong-writer-work-life-autobiography / dp/B0007JUSLA-15k)
- The summing up of ten years of writing: Reminiscence and Reflections by Thephong( Unknown Binding- 1968). Out of Print- Limited Availability.
- Uplipting Poems by Thephong ( Unknown Binding- Limtite Availability ) . -Amazon.com . A brief Glimpse at the Vietnamese literary scene 1900-1956... Vietnamese literature ie: each book must be in subject, 1 AND, subject 2 AND..
www.Amazon.com/brief-glimpse-Vietnamese-literary-1900-1956/dp/B0007 AJ388-177k.
Cached- Similar pages.
vv...

------

Nhớ lại buổi cưới vợ, tôi lại thấy thật tức cười. Năm 1965, từ Vũng Tàu lên Đà Lạt chơi dịp Giáng sinh, ngoài việc rong chơi với máy bạn sinh viên trẻ tuổi; như Đinh Ngọc Mô, Nguyễn Nhật Duật.. học ban triết Tây, triết Đông ở Viện Đại học Đà Lạt.

Đinh Ngọc Mô có vóc dáng diễn viên rất tài tử, lại ham mệ hội họa, tôi quen anh vào năm 1962 khi họa sĩ Vị Ý lên Đà Lạt triển lãm. Đinh Ngọc Mô lại đây chơi và chúng tôi biết nhau từ đó. Theo học ban triết Tây, rồi học thêm với một nữ giáo sư Pháp, Mô lại có tài ăn nói lịch duyệt, và hình như anh và nữ giáo sư Pháp kia giao du quá thân mật trên tình thầy trò, nên chồng bà ta thường ghen bóng, ghen gió. Cậu sinh viên ngổ ngáo này gặp tôi lấn đầu , hỏi ngay:

-Người ta nói ông thắt cà vạt để rong chơi ngoài Lê Lợi Saigon, và túng tiền cới ra gạ bán cho người đi đường, phải vậy không?

Còn sinh viên Nguyễn Nhật Duật học triết ban Sư phạm đem theo cả vợ lên đây- cô Tâm. Hai vợ chồng thuê phòng ở đường Võ Tánh. Chồng đi học, vợ làm gì, thì tôi không rõ; nhưng trước kia, bốn năm năm về trước, cô Tâm làm thư ký văn phòng ở Đaị học Dược Khoa Saigon và quen với Khê, sinh viên. Khi gặp lại Duật, anh kể cho tôi nghe về Khê, đại để là tôi có quen ông bà giáo Bảo không? Cô Khê là con gái ông bà giáo Bảo, và hiện tại đang làm thư ký ở Phòng Đọc sách Báp Tít ở đường Minh Mạng.

Tôi không thể quên, vì từ năm 1950, ở Nghĩa Lộ ( tỉnh Yên Bái) , tôi ở nhờ ông bà giáo Bảo; lúc đó Khê vào khoảng 13 tuổi, tóc kẹp, khuôn mặt dễ thương, hiền dịu; hàng ngày cô bé cùng chị gái khiêng hàng hóa cho mẹ ra chợ Nghĩa Lộ. Ông giáo bảo khi ấy làm thông dịch viên cho quan đồn Pháp, và nhờ ông, tôi mới có giấy Laissez-Passer về Hà Nội học. Sau này tôi đi xuống đường Phan Đình Phùng tìm nàng, nhưng không biết số nhà; và lúc này tôi chưa hiểu Tin lành và Công giáo khác nhau thế nào; nên tôi lạc vào trường Trinh Vương cũng nằm trên đường Phan Đình Phùng .Gặp một bà sơ , tôi hỏi thăm Khê. Thật trùng hợp, khi nghe tôi hỏi thăm cô Khê, bà sơ rất sốt sắng trả lời là có, và bảo đợi một lát, sẽ cho gọi cô Khê ra gặp. Tôi mừng thầm, nhưng khi nhìn thấy một cô gái nhỏ. gầy đét đứng trước mặt, tôi biết ngay đã có sự nhầm lẫn- mặc dầu gần 20 năm, từ khi gặp nàng lần chót ở đường Gia Long Hà Nội năm 1954 (ông bà giáo Bảo thuê nhà ở 24 ter Gia Long thì phải) . Tôi còn nhớ rõ khi ấy Khê đang tập đi xe đạp, và hay lao vào gốc cây sấu.

Tôi cảm ơn bà sơ và trở về, một nỗi thất vọng nhẹ nhàng xâm chiếm trong lòng. Tôi lại đi ngược lên đường Minh Mạng để tìm Phòng Đọc Sách Báp Tít, số nhà 68; nhưng phòng đọc sách đã đóng cửa. Có lẽ Giáng sinh nghỉ lễ chăng? Thế là uổng công đi tìm nàng. Bỗng dưng gặp một thiếu nữ đi ngược chiều với tôi, sao cô này giống Khê quá! Dừng lại hỏi thăm, cô này không phải là Khê; nhưng lại là chị ruột của Khê- cô Thư. Tôi biết địa chỉ nhà ông bà giáo , và chiều hôm ấy tôi tới thăm nàng và gia đình. Ông bà giáo Bảo và bố mẹ tôi quen thân, bố tôi cũng dạy học như ông, song tuổi nhiều hơn một giáp cũng từng dạy học ở Nghĩa Lộ với nhau.

Lần này gặp Khê, một cô gần 30 (hai mươi tám đúng nhất) rất xinh, dưới mắt tôi- cô gái học thức, đeo kính trắng, và nhớ nhất là cái băng đô đỏ trên mái tóc dài. Dưới nàng, có ba đứa em trai; cậu gần với tôi nhất là Nguyễn Quốc Văn đang đi học, và cùng chị học Anh văn với các giáo sĩ Mỹ. Mùa Giáng sinh năm ấy, tôi mời nàng đi chơi, chụp ảnh cho Khê gấn ba chục cuộn phim, mỗi cuộn 72 pô. Ít ngày sau, tôi lien lạc với hãng máy bay Continental, rồi được cấp một chiếc Cessna 4 chỗ sẽ dưa tôi về Vũng Tàu. Tôi mời Văn cùng đi với tôi, hứa tìm việc làm ở Trung tâm, nhất là Văn cũng đang cần một việc làm; đồng thời thanh niên ai chẳng thích bay nhảy. Hai chúng tôi đến Vũng Tàu, sau một giờ bay.

Lúc này tôi ở Trại Seminary Camp, chỉ huy trương, đại úy Lê Xuân Mai, một người dáng gầy gò, nghiêm nghị, ít nói lại hay cười mỉm; nhưng rất kỷ luật. Một ngày trễ phép phải phạt lương, tôi không nhớ rõ là bao nhiêu; nhưng không ít- theo ông, phải áp dụng theo lối hành chính Mỹ, phạt tiền để làm cho người bị phạt nhớ lâu; phương pháp này rất hữu hiệu.
Ở trung tâm, tôi làm giảng viên chính trị, cơm trại nuôi ba bữa, quần áo có người giặt, mỗi tháng lương được trả 7000 đồng. Tôi không biết giá vàng lúc đó bao nhiêu một lượng, nhưng nhớ khi lãnh lương, nếu tôi mượn thêm một người bạn nữa khoảng 6000 đồng đủ mua một chiếc Mô-by-lét xanh mới cáo cạnh, bình xăng vuông, đen vuông lại còn dư bốn ngàn. Ngoài ra, tôi còn phụ trách một tờ nguyệt san Biệt Chính . Bài vở, truyện ngắn, dài; tôi bao hết. Thơ thì tôi trích theo các báo Saigon, thơ Nguyễn Quốc Thái, thơ Bùi Chí Vinh, thơ Bùi Khải Nguyên trích từ thi tập Thiết Tha (Đại Nam Văn Hiến , Saigon 1964). Thơ tác giả này mang nội dung ca tụng hòa bình, lúc đó tôi không biết đó là điều cấm kỵ với chủ trương của Trung tâm. Tôi bị kiểm điểm, sau khi báo ra được hai số, phải cải tổ lại. Anh Dương Cự được cử vào ban chủ biên, tôi không dùng bút hiệu nữa mà dùng tên thật: Đỗ Mạnh Tường & Dương Cự chủ biên, Hộp thư số 1 Vũng Tàu đăng trên manchette báo. Hàng ngày, ngoài giờ giảng dạy, tôi rong chơi, có khi cả tháng tôi không ăn cơm trại, mà ở ngoài tiệm ở Vũng Tàu, còn cà phê uống tại Aux Delices ở đường Phan Thanh Giản . Cô chủ quán, Vũ Thị Tỵ, trông rất bắt mắt- nơi này nhiều chàng thanh niên hào hoa lui tới. Còn nhờ một buổi tối, xẩm tối thì đúng hơn , lúc này chưa đông khách lắm; lợi dụng thời gian để tán chuyện gẫu với cô Tỵ. Bố mẹ cô ở ngoài Bắc vào Nam lâu, trước 1945 thì phải. Cô ở trạc tuổi trên dưới ba mươi; tôi đem tuổi mình so sánh, thì hơn cô ba bốn tuổi gì đó. Lần này, tôi vào quầy trả tiền, dưới ánh đèn có chụp abat jour , tôi nhìn rõ bức chân dung, nét vẽ màu đen rất sắc, mỏng; dưới ghi hàng chữ Pháp: la fille aux Délices, ký tên phía dưới cùng. Chữ ký rất khó đọc, sau này biết đó là Trịnh Cung , họa sĩ trẻ Hội Họa Sĩ Trẻ Saigon . Cô chủ nói với tôi, đại để nếu tôi thích thì cô sẽ tặng. Tôi nhận lời ngay, và nhớ lại những năm xưa, chàng họa sĩ này còn ở Đà Lạt rất lập dị, ngày ngày khóac áo măng tô đi dạo xung quanh Khu chợ Hòa Bình, tay lại chống can. Tất nhiên mặt mũi còn non choẹt, làm ra vẻ ông cụ, nên sinh viên Võ bị Đà Lạt gây sự với anh. Sau, anh không còn chống can nữa, lại cạo râu nhẵn nhụi. Trịnh Cung có bộ râu quai nón rất đàn ông, chỉ phải vóc dáng lùn tịt, mất uy nghi của tên đàn ông cao ráo. Chắc cô Tỵ có kể lại chuyện tặng tôi bức chân dung cô, sau này gặp anh ở Saigon- đôi lần tôi gợi ý anh vẽ chân dung một người nữ danh tiếng nào đó, anh lắc đầu, trả lời rồi ra tôi sẽ lại được tặng như bức chân dung cô Tỵ ngày nào thì sao? Anh hỏi tôi cô ấy bây giờ ra sao, lắc đầu trả lời tôi không rõ. và chỉ biết rằng hơn một lần tôi và cô ấy đi chơi với nhau từ Vũng Tàu đến Bà Rịa. Thế rồi tôi hỏi xin cưới cô, cô không nói gì - sau, tôi lên Đà Lạt gặp lại Khê- tôi cưới nàng làm vợ, sau ra Vũng tàu, tôi dẫn Khê ra uống nước ở Aux Délices. và vợ tôi cũng biết chuyện này, nàng bảo tôi hãy nhìn mặt cô chủ không mấy vui. Nghe vợ nói vậy, tôi nhận ra rằng mình chưa hiểu tâm lý phụ nữ là bao! Chẳng lẽ một khi bày tỏ xin cưới nàng làm vợ, nàng có thể nhận lời ngay sao? Nếu nàng không mấy cảm tình, hẳn là không nhận đi chơi tay đôi đôi lần; hơn nữa nàng còn tặng cả một chân dung do Trịnh Cung vẽ ư *?

-----

Tôi làm một bài thơ: Sáng Á đông, nhạc Tây phương đăng trên tạp chí Trình bày vào năm 1970( Thế Nguyên chủ nhiệm); sau được dịch sang Anh ngữ mang nhan đề Asian Morning, Western Music ( bản dịch Đàm Xuân Cận đăng trên tạp chí Tenggara , April 1968, Volume II, Number I, tờ tạp chí này là cơ quan ngôn luận của Dept. of English, University of Malaya., Jointly edited by Lloyd Fernando , Ismail Hussein, A. Bakar, Hamid. Wong Phui Nam. Editorial Consultant: LeeKok Liang. bài thơ này tặng Vũ Thị Tỵ, cô chủ quán Aux Délices ở Vũng tàu vào những năm 1965-66.
Giới thiệu tôi, tòa soạn tạp chí Tenggara viết:
"...The poems reprinted here are taken from a mimeographed collection of poetry by the Vietnamese poet, Thephong, entitled Vietnam:
The Sky Under Fire and Flames, published in Saigon in May 1967. The collection was obtained for Tenggara by the young Indonesian writer, Bur Rasuanto, who was on a visit therre recently.Thephong was born in 1932 at Nghia Lo, Yen Bai, and spent his childhood in the northernmost part of Vietnam. He took part in the Resistance at an early age and has been a farmer, soldier ( airman) , school teacher and editor, besides writing stories, poetry and critiques. X.H. (Dam Xuan Can) in presenting his English translations of Thephong's poems in Vietnam: The Sky Under Fire and Flames, wrote, " Thêphong's poems are particulary difficult to translate, and I have no illusion whatever about my command of English. I trust that one day a poet ot talent will revise this version and do more justice to the original". Readers are bound to feel that X.H. does not do himself justice. .
...and the same issue, Tenggara said:
"..In looking for the best work by Southest Asian writers, Tenggara plays it quite literally by ear. The 1967 number was much enhanced by amng such as other excellent work, the tragic simplicity of Taufiq Ismail's poems. Readers of that issue will know Taufiq's poems were obtained. For the present issue we were fortunate again in discovering the English translation of a bookof poems by the Vietnamese poet, Thêphong. The selection we publish here is a moving reminder of the spiritual devastation and waste his country has undergone for twenty years without respite. We hope to publish more of Thêphong's work in the near future.."
Sau bài thơ này được chọn in trong tập thơ bằng Anh ngữ: Asian Morning, Western Music, preface by Lloyd Fernando, Dai Nam Van Hien Books, Saigon, South Vietnam 1971.
Tạm dịch: Những bài thơ được in lại ở đây trích từ một tập thơ in rô nê ô của một thi sĩ Việtnam là ThếPhong, có nhan đề:
Việtnam, vùng trời lửa đạn in ở sài Gòn , tháng 9 năm 1967. Tập thơ ấy đến với tạp chí Tenggara do một nhà văn trẻ Indonesia, Bur Rasuanto mới đến thăm Sài Gòn mới đây.
Thế Phong sinh năm 1932 ở Nghĩa Lộ, Yên Bái. trải qua thời thơ ấu tại vùng cực bắc Việtnam. . Tham gia cuộc Kháng chiến rất sớm, từng làm trại vườn, dạy học, đi lính và làm xuất bản. Ngoải ra, ông cỏn viết truyện, làm thơ và viết phê bình văn học. X.H. ( bút hiệu tắt Đàm Xuân Cận) giới thiệu tập thơ dịch sang Anh ngữ của Thế Phong qua Việtnam vùng trời lửa đạn, dịch giả viết:"... Đặc điểm thơ thế Phong là khó dịch và dầu sao đi ữa, tôi cũng không có ảo tưởng rằng vốn tiếng anh của mình sâu nhiệm. Tin rằng có một ngày , một thi nhân tài năng nào đó sẽ đọc lại, hiệu đính để trả lại công bình nguyên tác". Chắc chắn độc giả cảm nhận được rằng X.H. nói vậy đã không bằng với chính mình và trong cùng số báo ấy, mục Tenggara Diary, tạp chí viết tiếp:
"...Đi tìm những tác phẩm xuất sắc của các nhà văn Đông Nam Á, Tenggara chỉ hoàn được nghe mà thôi. Tạp chí Tenggara xuất bản vào năm 1967 đã nổi bật hẳn lên qua những tác phẩm tuyệt vời, nói lên bi thảm mà giản dị ấy của Taufiq Ismail. Độc giả đọc số báo ấy rồi, và cảm nhận được thơ Taufiq Ismail đã được thừa nhận . Thì bây giờ đây trong số này, chúng tôi lại có cơ may là khám phá được tập thơ dịch sang Anh ngữ của một nhà thơ Việtnaml, Thế Phong. Tuyển thơ chọn đăngtrong số báo này gợi cho ta nhớ lại sự tàn phá, băng hoại tinh thần của một đất nước đã trải qua hai thập niên (chiến tranh) ròng rã. Chúng tôi hy vọng ngày gần đây còn được đăng tải những tác phẩm Thế Phong.
Trong thi tập Trước mắt nhìn thi sĩ của tôi, Đại Nam văn hiến xuất bản năm 1964, tôi viết những câu: ..." Tôi đi ngang đèo / cao hơn nóc nhà thờ và chân trời/ chắc chúng loan truyền tôi là kẻ vô đạo / bẩm sinh tôi con cầu tự chùa Quán Thánh / lớn lên không theo học nhà dòng làm dấu thánh / qua đèo Bảo Lộc cheo leo / gục đầu trươc Thánh giá / như người đạo Chúa nuôi tôi hai bữa cơm làm thơ / như tiếng chuông nhất / thức giấc tôi buổi sáng năm giờ... / như tiếng chuông chùa/ thu không chiều buồn Đà Lạt ..."

... Còn Tiếp ...










© tác giả giữ bản quyền.
.Tải đăng theo nguyên bản tác giả gởi ngày 22.12.2009.
. TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN THẾ PHONG CHỈ ĐĂNG TẢI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM.

. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com