AN SINH VÀ BẢO TRỢ XÃ HỘI
Cǎn nhà nhỏ bǎ̀ng bàn tay, nói quá đáng một tí để diễn tả diện tích nhỏ hẹp của nó. Ý muốn nâng cao đời sống vật chất của người dân đã khiến những nhà chǎn dân luôn tìm cách cải thiện và để tránh những trường hợp lọt sổ, người ta phải thiết lập một số lề luật cǎn bản, thí dụ như diện tích cư trú cho một gia đình. Trong một gia đình có nhiều thành viên thì số phòng ở phải được tính theo con số ấy: thí dụ bố mẹ một phòng, các con nếu còn quá bé có thể chung phòng nhưng khi chúng lớn lên thì bǎ́t buộc phải tạo phòng riêng cho mỗi đứa. Xét trường hợp chúng tôi, ít ra phải có ba phòng, phòng cho hai tôi, phòng cho hai đứa lớn và phòng cho bé út (hay ngược lại, phòng cho đứa lớn và phòng cho hai đứa nhỏ tùy cách xếp đặt sao cho thuận lợi). Vì chúng tôi mới đến, tạm thời chúng tôi đóng đô ngay tầng trên của tiệm ǎn, nơi nhà tôi làm việc. Cǎn gác có hai phòng. Gọi là phòng bởi có vách ngǎn, nhưng ngoài phòng chính, vách ngǎn chỉ có nhiệm vụ tạo một cái hành lang hẹp dẫn từ cầu thang ở dưới lên để đưa vào cửa phòng chính, chúng tôi buộc lòng tậu hai chiếc giường chồng lên nhau để hai đứa lớn nǎ̀m ở đấy; bé út nǎ̀m trong chiếc giường nhỏ kê bên cạnh giường chúng tôi. Phòng được dùng để vừa ngủ, ǎn, chơi, học của tất cả mọi người; nó bị khuyết đi một góc có màn che, nơi đó ngự trị cái douche, chỗ rửa mặt và chỗ đi cầu! Điều may mǎ́n là ngay đầu cầu thang có cánh cửa gỗ nặng nề và nghiêm trang chǎ́n giữ, nó có nhiệm vụ bảo vệ (và che dấu) cái cơ ngơi khiêm tốn (mà không ai biết) của chúng tôi; quan trọng hơn, nó mang lủng lǎ̉ng một chiếc hộp thư có ghi tên tuổi chúng tôi. Trong một quốc gia có luật có lệ rành mạch, địa chỉ của bạn đóng vai trò khá cần thiết: đó là chiếc cầu liên hệ bạn với mọi cơ quan nhà nước cũng như xã hội bên ngoài, mất nó hoặc thiếu nó tựa như mất giấy tờ tùy thân.
Vừa mới làm quen với đất lạ, chưa kịp thấu rõ đường ngang lối tǎ́t, chúng tôi đã gặp khó khǎn. Bé út ngã bệnh, lại nhè một sáng thứ bảy, ngày nghỉ cuối tuần. Tôi lật niên giám điện thoại tìm địa chỉ một ông bác sĩ nhi khoa xin khám. May mǎ́n được chấp thuận, tôi mang con đến. Vị y sĩ trung niên hiền lành vui vẻ khám cho cháu, cho toa và lúc đến chầu nhận tiền công thì phát giác ra rǎ̀ng chúng tôi mới đến chưa lập xong hồ sơ an sinh xã hội. Từ chối không nhận tiền khám bệnh, ông khuyên tôi phải nhanh chóng lập thủ tục để được bảo trợ. Tôi nài nỉ, ông thối thác và cuối cùng giỗ dành tôi nên yên tâm ra về chờ đến khi có giấy tờ hǎ̉n hòi thì đến thanh toán cho ông cũng chǎ̉ng muộn. Cảm động vì tấm lòng bác ái của vị y sĩ, tôi mang con về và hì hục thǎm hỏi lập hồ sơ. Tôi có tính khi gặp rǎ́c rối thì phải tìm hiểu cho ra đầu ra đuôi, nhờ vậy khám phá ra những điều sau đây:
Trong xã hội nông nghiệp, gặp khi tối lửa tǎ́t đèn, người ta cầu cứu nơi gia đình, nơi những kẻ thân thuộc hay chòm xóm, láng giềng; nhưng khi công nghệ phát triển, con người rời nơi chôn nhau cǎ́t rốn, lao về các đô thị để chen chúc tranh giành cái sống, mối liên hệ với chung quanh không đủ mật thiết để có thể cậy nhờ. Ở Tây phương, sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và nhất là sau cuộc khủng hoảng kinh tế nǎm 1929, đời sống vật chất xuống cấp, đói khổ thất nghiệp xảy ra khǎ́p nơi. Các chính quyền tỏ ra bất lực không giải quyết nổi tình trạng tồi tệ của xã hội trong khi mọi cố gǎ́ng đều nhǎ̀m việc ổn định kinh tế mà muốn ổn định kinh tế thì trước nhất phải ổn định xã hội đã. Thực ra ý niệm cải cách đã có từ lâu nhưng vì chưa có kế hoạch hữu hiệu nên việc đảm bảo đời sống con người vẫn còn là một câu hỏi hóc búa. Cuối thế kỷ thứ 19, người công nhân nếu lo xa sẽ, một là dành dụm đồng tiền bỏ vào quỹ tiết kiệm, hai là nương nhờ vào trách nhiệm của các chủ xí nghiệp (dưới hình thức thuế mà chủ nhân phải đóng cho mỗi công nhân trong xí nghiệp mình), ba là đóng góp vào các cơ quan bảo hiểm (quỹ tương trợ, các tổ chức bảo hiểm nghề nghiệp, tai nạn..) nhưng hồi đó đời sống công nhân còn rất thấp, họ không thừa tiền để tự lo cho chính mình. Trong số các quốc gia Tây phương, Đức và Anh là hai quốc gia đi tiên phong trong lãnh vực này. Ở Đức, thủ tướng Bismark tuy là một người hết sức bảo thủ, đã thiết lập các pháp chế đầu tiên nhǎ̀m đảm bảo tình trạng ốm đau, tai nạn nghề nghiệp, tàn tật và già yếu (1883-1889). Anh cũng có đạo luật áp dụng vào việc giúp đỡ cho kẻ nghèo khó (Poor law acts) từ thế kỷ thứ 17 nhưng được điều hành bởi giới tu sĩ tại mỗi giáo khu. Đạo luật này được áp dụng chặt chẽ cho tới khi bị bãi bỏ. Tại Hoa kỳ, cơn khủng hoảng 1929 kéo dài khá lâu đến nổi khi Franklin Delanoe Roosevelt đǎ́c cử, ông vội đề xướng đạo luệt Social Security Act và mãi đến khi tái nhậm chức tổng thống kỳ hai ông vẫn nhận thấy rǎ̀ng một phần ba nhân dân của xứ ông còn đói rách khốn khó.
Mặc dù những cố gǎ́ng, phải đợi đến sau khi chiến tranh thứ hai chấm dứt bài toán an sinh xã hội tại Tây phương mới được giải quyết thỏa đáng và thi hành đúng đǎ́n như điều 25 của bản tuyên ngôn nhân quyền đọc tại đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 10/12/1948. So với các quốc gia láng giềng, trong lãnh vực này Pháp cải tiến một cách khá chậm chạp. Mãi đến cuối thế kỷ 19, quốc hội Pháp mới bỏ phiếu chuẩn y đạo luật về tai nạn nghề nghiệp quy phần trách nhiệm cho chủ xí nghiệp (còn đạo luật liên quan đến bệnh hoạn vì nghề nghiệp thì phải chờ thêm vài nǎm sau nữa). Nǎm 1910, vấn đề hưu trí của công nhân và nông dân được thiết lập dựa trên sự đóng góp của chính họ, vì vậy tỷ lệ với lối đóng góp nhỏ bé, người lao động cũng chỉ có những thu hoạch khiêm tốn mà thôi. Ngày 11/3/1932, quốc hội chuẩn y luật trợ cấp gia đình cǎn cứ trên số con của mỗi cặp phối ngẫu. Sau khi chiến tranh thứ hai chấm dứt, ngày 22/5/1946, nguyên tǎ́c phổ quát của chế độ an sinh xã hội được thiết lập, từ đây mọi công dân dù có công ǎn việc làm hay không đều được hưởng quyền bảo trợ xã hội. Những sửa đổi kế tiếp có mục đích nâng cao hiệu quả và hoàn thiện chương trình chǎm lo cho đời sống mọi công dân, đại loại như quy định trợ cấp gia đình (22/8/46), luật về tai nạn nghề nghiệp (30/10/46), quy định chế độ cho công chức và nhân viên các đại xí nghiệp thuộc nhà nước (1/1/47) quy định chế độ cho sinh viên, cho binh sĩ hiện dịch (1/1/49), quy định chế độ cho các nạn nhân chiến tranh (1/11/50); dần dần mọi tầng lớp dân chúng đều có những quy định riêng: nhân viên phục vụ tập thể tại địa phương, nông dân, nghệ sĩ, nhà báo, thợ thủ công, các ngành nghề tự do ..v..v... Về sau, những cải cách chỉ nhǎ̀m vào phạm vi tổ chức và điều hành, vì theo truyền thống, những cơ quan này được quản trị bởi các nhà chuyên môn về bảo hiểm, quỹ tương trợ, đại diện nghiệp đoàn công nhân và giới chủ nhân.
Dù sao, trong bất cứ công tác nào, sự cải cách vẫn rất cần thiết để kịp thích ứng với hoàn cảnh mỗi ngày một đổi thay. Có điều đối với nhiều quốc gia Tây phương ngày nay, vấn đề an sinh xã hội đã trở thành bài toán nan giải trên bình diện tài chánh. Các kế hoạch gia, trước tình trạng gay go, đã đề nghị sự rút lui của vai trò nhà nước, có nghĩa là quay về công thức lúc khởi đầu: người làm việc trích một phần nhỏ lương góp vào quỹ và sau này sẽ hưởng hưu nhờ vào lợi tức đã đóng góp. Nếu vậy chế độ phổ quát nhǎ̀m phục vụ mọi người không phân biệt giàu nghèo, tuổi tác, nghề nghiệp và ngay cả những kẻ không công ǎn việc làm, sống đầu đường xó chợ (khốn thay, chính thành phần này là thành phần cần che chở hơn cả) sẽ có cơ bị bãi bỏ chǎng? Tốn bao nhiêu công sức, bao nhiêu thời gian, bao nhiêu nỗ lực để đạt mục đích chính đáng và cao đẹp đó, giờ đành bỏ cuộc sao? Vì sao vậy ? Để trả lời câu hỏi này chúng ta phải phân tích tình trạng xã hội hiện nay, với tất cả những bài toán phức tạp của nó. Trước nhất, chúng ta nên tìm hiểu nguồn tài chánh của các quỹ xã hội nhờ đâu mà có. Hai lực lượng đóng góp quan trọng: người đi làm và chủ nhân xí nghiệp; sau đó là nguồn tiền được xuất ra từ ngân sách nhà nước. Những tỷ lệ đó thay đổi, tùy chính sách của từng quốc gia. Tại các nước Bǎ́c Âu, tỷ số đóng góp của ngân quỹ nhà nước chiếm phần lớn; tại Hòa Lan, ngược lại, việc đóng góp của hộ gia đình là quan trọng; tại Pháp, phần tham gia của giới chủ nhân xí nghiệp khá nặng nề. Tuy nhiên, cho dù cách phân chia có khác nhau nhưng khó khǎn thì vẫn là một: quỹ an sinh càng ngày càng thiếu hụt bởi chi tiêu càng ngày càng lớn. Trên đây chúng tôi đã trình bày về nguồn tiền an sinh xã hội của Pháp phần lớn là do đóng góp của giới chủ nhân, nhưng ngân quỹ quốc gia cũng bị trích ra một phần đáng kể. Theo số liệu của cơ quan thống kê quốc gia, vào nǎm 1959 chính phủ Pháp đã dùng 10,4% tổng sản lượng quốc gia (PIB) hàng nǎm, đến nǎm 1974 con số này đạt 15,3% và nǎm nay (1980) đến quá một phần tư (25,5%) vốn liếng! Không phải người dân Pháp đau bệnh nhiều hơn trước (có lý nào với một quốc gia có mạng lưới y tế phục vụ rộng rãi, với tỷ số chuyên viên y sĩ cao, với kỹ thuật chǎm sóc tân tiến?) nhưng có lẽ họ đòi hỏi được chǎm sóc kỹ hơn và nhất là con số người già cả càng lúc càng nhiều, người ta sống thọ hơn ngày xưa cùng một lúc vớí nạn thất nghiệp tǎng cao, tỷ lệ sinh sản xuống thấp (dù xuống thấp nhưng phụ nữ Pháp vẫn duy trì được mức độ trung bình xấp xỉ hai con) người đi làm ít đi tức đóng góp ít đi, ngược lại phải cấp tiền cho kẻ thất nghiệp nhiều thêm, mọi yếu tố bất lợi hội đủ khiến ngân quỹ cạn dần.
Sự già nua của cả một dân tộc đã làm tê liệt bộ máy sản xuất và làm kiệt quệ tài chánh quốc gia là tình trạng chung của các cường quốc kinh tế ngày nay. Những thay đổi với hậu quả bất lợi đó, tuy vậy, không được nhận thấy ngay tức khǎ́c; phải chờ từ ba mươi đến nǎm mươi nǎm sau như trường hợp ở Pháp hiện giờ. Lúc cuộc chiến tranh thứ hai kết thúc, nhân dân Pháp bǎ́t tay xây dựng lại xứ sở, trùng tu và phát triển guồng máy công kỷ nghệ, nâng cao mức sống vật chất và tập ...hưởng thụ. Người ta bǎ́t đầu nhận ra việc lập gia đình và nuôi dạy con cái là một bổn phận trở nên nặng nề nên tìm cách kéo dài thời kỳ son trẻ. Người đàn bà, ngoài cách áp dụng phương pháp ngừa thai, còn đòi hợp pháp hóa sự phá thai vì nàng không muốn có con sớm và cũng ngại có nhiều con. May thay, y khoa tiến bộ, tỷ lệ tử tuất xuống thấp nhưng dù vậy sinh xuất vẫn không lấp kịp lỗ hổng: lực lượng trẻ ít dần trong khi tuổi thọ kéo dài thêm. Giá lực lượng trẻ vẫn đủ số để thay lớp già hưu trí thì còn đỡ, vì ít ra khi gia nhập lực lơợng hoạt động, họ nhận được đồng lương và cùng một lúc đóng góp vào công quỹ; như vậy cũng vớt vát được phần nào khoảng thiếu hụt do phải trả hưu trí cho lớp già, khốn thay, ngày nay sống thọ hơn xưa rất nhiều. Vì thiếu sức người, nhà nước đành phải mở ngõ đón ngoại nhân.
Tại Hoa-Kỳ cái gọi là DINK trở nên mục tiêu lý tưởng của đa số người trẻ tuổi: double income+no kid , đôi vợ chồng cùng làm thu hai lợi tức thêm vào đấy vì không có con nên không phải nuôi dưỡng! Thế hệ trẻ không muốn có con, thế hệ già thì sống thọ, tiền của nào đài thọ nổi? Người ta đọc thấy lời cảnh cáo mà những người hưu trí có ý thức đã viết lên xe họ như một cách cảnh báo tương lai: "Chúng ta đang phung phí di sản của đám con cháu chúng ta!" (We are spending our children’s inheritance)
Giải pháp, dù sao cũng phải tìm ra nhưng không thể bǎ̀ng bất cứ giá nào. Cơ quan an sinh xã hội chia thành ba bộ phận; bộ phận đảm bảo đau bệnh, bộ phận đảm bảo thất nghiệp và bộ phận đảm bảo già yếu, ba cơ quan riêng biệt về điều hành tài chánh nhưng vẫn có những tương quan sinh tử với nhau. Trên đây chúng tôi có nói về vấn đề thiếu thốn nhân lực; nếu nhân lực không đủ để cung ứng cho nhu cầu thì tại sao có nạn thất nghiệp? Phải nói rǎ̀ng hai vấn đề này có những rǎ́c rối tế nhị của chúng. Khi ta bảo thiếu thốn nhân lực có nghĩa là sự thiếu thốn ấy chỉ giới hạn trong một phạm vi đặc biệt nào đó thôi, chǎ̉ng hạn trong hoạt động xây cất nhà cửa và đường sá, đòi hỏi người công nhân lao động nặng nhọc, chịu đựng mưa gió lạnh lẽo, đã khiến người dân Pháp ngần ngại trong khi những kẻ từ xứ khác đến chỉ mong tìm được bất cứ việc gì quí hồ có được miếng cơm manh áo. Hậu quả là trong ngành này nếu thiếu thành phần dân di cư sẽ không chạy việc. Cũng có những lãnh vực chuyên môn mà sự khan hiếm nhân lực là điều có thật do lẽ thế hệ trẻ ngại khó không muốn theo như trong ngành y tế thiếu y sĩ giải phẩu (muốn trở thành chuyên viên giải phẩu phải chịu sự huấn luyện khó khǎn và dài ngày), thiếu y tá (vì người y tá phải học ba nǎm sau khi đỗ tú tài nhưng lương ít và địa vị xã hội thấp kém)... và một số ngành nghề đặc biệt khác, như ngành khách sạn quán ǎn, số cung không đáp ứng được số cầu. Những điều trên sẽ gây ra khó khǎn cho nhà cầm quyền trên nhiều mặt liên hệ đến vấn đề đào tạo và kế hoạch phân bổ lao động. Nhưng vấn nạn nát óc vẫn là ngân quỹ quốc gia: một mặt đài thọ cho lớp hưu trí càng ngày càng kéo dài vì tuổi thọ, một mặt khác thế hệ trẻ không đủ việc để làm, nghề nghiệp bấp bênh nên không thể đóng góp bù vào những chi phí khổng lồ vì đau bệnh và thất nghiệp. Người ta đã đề nghị những biện pháp "thất nhân tâm" mà có lẽ trước sau gì cũng phải áp dụng, thí dụ, kéo dài thêm vài nǎm hạn tuổi hoạt động, tǎng cao khoản tiền đóng góp vào các quỹ đau bệnh và thất nghiệp phía công nhân cũng như phía chủ nhân, khuyến khích và tạo thuận lợi cho việc để dành tiền lúc về già... Nhưng còn một điều tệ hại đã đóng vai trò lớn trong những thất thoát ngân quỹ dưới nhiều hình thức khác nhau thí dụ như việc man khai để được hưởng tiền xã hội nhiều hơn, nạn hành nghề chợ đen (đồng tiền thu vào của người đi làm không chịu thuế) và cùng lúc hưởng trợ cấp thất nghiệp, hoặc "trong sạch" hơn là nǎ̀m nhà không chịu kiếm việc và bǎ̀ng lòng lãnh món quà mọn của xã hội để sống qua ngày.
... CÒN TIẾP ...