Tranh của nguoihanoi.com






















LÀNG KHÔNG CÓ ĐÀN ÔNG



ĐỖ NGỌC THẠCH


1.

Những năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước tôi nhập ngũ vào ở binh chủng Ra-đa. Do tính chất đặc thù của một đơn vị Ra-đa chiến đấu phải cơ động liên tục (thay đổi địa điểm đóng quân) nên tôi đã đi tới hầu hết những làng quê của Trung du Bắc Bộ, đồng bằng Bắc Bộ và Khu Bốn Thanh – Nghệ - Tĩnh… Chúng tôi thường đóng quân trong nhà dân, cũng có khi ở trên một quả đồi trống, ngoài cánh đồng, trên con đê cũ dài rộng, v.v…nhưng do tính chất của quan hệ “quân với dân như cá với nước” cho nên cũng như là ở trong làng – giữa lòng dân! Nếu tôi là một nhà Dân tộc học thì tôi đã có thể tham gia vào đề tài nghiên cứu “Làng xã Việt Nam”! Một người bạn có tham gia đề tài nghiên cứu này nói với tôi: “Cậu có thể viết một cuốn tiểu thuyết về làng quê Việt Nam thay vì việc nghiên cứu làng quê Việt Nam như chúng tớ!”. Câu nói ấy của người bạn cứ ám ảnh tôi hơn chục năm nay song tôi chưa thể thực hiện được, có lẽ vì “vận số” chưa tới hoặc tôi không có “duyên” với thể loại tiểu thuyết! Thay vào đó, tôi đã viết gần chục cái truyện ngắn xoay quanh đề tài Làng quê Việt Nam này. Khi nào đủ 28 cái, tôi sẽ tập hợp lại thành “Nhị Thập Bát Tú”, cũng coi như một cuốn tiểu thuyết!

Nói tới Làng quê Việt Nam, ta nghĩ ngay tới câu nói “Phép vua thua lệ làng” . Nói tới “Lệ làng” là nói tới những đặc trưng cơ bản có tỉnh ổn định, bất biến của “Làng quê VN”, sẽ phải rất thận trọng và “tốn nhiều giấy mực”. Vì thế, trước khi đi vào những Làng quê đã tồn tại hàng trăm năm với những “Lệ làng” rất ổn định, chặt chẽ sau những lũy tre làng vững chãi như lũy thành, tôi muốn đi lòng vòng quanh những trường hợp “Ngoại lệ”, tuy chỉ là những dạng cá biệt, đơn lẻ nhưng lại rất độc đáo, rất phù hợp với kiểu viết “phá cách” mà tôi đang theo đuổi! Đó là những kiểu làng như “Làng ăn mày”, “Làng ăn cướp”, “Làng ăn trộm”, “Làng nói Láo”, “Làng không có đàn ông”, “Làng hủi”, “Làng buôn lậu”, “Làng làm hàng giả”,v.v…

“Làng không có đàn ông” không phải vì không có đàn ông như Vương quốc toàn đàn bà trong Tây Du ký muốn giữ thầy trò Đường Tam Tạng ở lại! “Làng không có đàn ông” lúc đầu cũng có đàn ông như mọi làng quê khác, nhưng chỉ một thời gian sau đàn ông đã biến mất! Vậy vì sao họ biến mất – những người đàn ông ấy -, và họ biến đi đâu? Bạn đọc sẽ tìm thấy lời đáp sau khi đọc hết truyện ngắn này!...

2.

Những năm 1968, 1969 tôi thường đóng quân ở mấy huyện Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Đô Lương, Nghĩa Đàn, Hưng Nguyên, Nam Đàn của tỉnh Nghệ An và các huyện Can Lộc, Đức Thọ của tỉnh Hà Tĩnh. Đi đến đâu cũng có hai hình ảnh dập vào mắt:
1/ Hầu như không thấy bóng dáng thanh niên trai tráng trong làng;
2/ Người bị thương khá nhiều, cả những đứa trẻ ba, bốn tuổi cũng cụt tay hoặc cụt chân như những chiến binh! Lý do rất đơn giản: Thanh niên trai tráng đều tòng quân ra trận (như chúng tôi vậy) và Khu Bốn bị máy bay Mỹ oanh tạc khá nhiều!
Tuy nhiên, Làng nào cũng còn lác đác dăm ba người đàn ông , dù đều là thương phế binh hoặc tật nguyền! Song, khi tôi đến một làng (tôi đặt tên Làng là Làng Mẫu hệ ) ở xã Diễn Tháp (huyện Diễn Châu) thì quả đúng là “Làng không có đàn ông”!

Có hai lý do để đàn ông ở Làng Mẫu hệ này từ từ “biến mất”:
1/ Làng có nghề gò đồng (hàn, vá đồ gia dụng bằng đồng và nhôm) từ rất lâu đời: nghề này đều do đàn ông thực hiện và đều phải đi xa với cái đòn gánh trên vai và hai cái bồ (đan bằng tre nứa) lủng lẳng hai bên;
2/ Thanh niên trai tráng cũng đều ra trận như các làng quê khác của đất nước có chiến tranh.
Ở Lý do thứ nhất, phổ biến là trong quá trình tha phương hành nghề, người đàn ông nào có “Số đào hoa” đều có vài “vợ bé” ở các nơi khác nhau, và thường chỉ đảo về “Làng gốc” vài lần, có khi mất tăm luôn! Ở Lý do thứ hai, có những đơn vị chiến đấu bị thương vong quá lớn, tới mức xóa sổ lại không may rơi trúng quân số thuộc một làng quê nào đó, thì Làng này coi như bị “Tiệt giống”! Làng Mẫu hệ mà tôi đang nói tới bị dính cái sự “không may” đó!

Khi đơn vị tôi đến Làng Mẫu Hệ, tôi và hai chiến sĩ là Khâm và Khang được bố trí ở trong nhà của bà Nghĩa, có cô con gái lớn là Ngãi và hai cậu con trai trên dưới mười tuổi, cậu anh đẻ rơi ngoài bãi cát được đặt tên là Cát, cậu em đẻ rơi ngoài rừng phi lao nên có tên là Lao. Ông bố của những đứa con nghe nói đã “đóng chốt” luôn với vợ bé ở ngoại ô thành phố Vinh, đã mở tiệm gò hàn đồ nhôm, cũng kiếm được khá tiền nên thi thoảng có gửi tiền về cho vợ con! Ngoài bốn mẹ con bà Nghĩa còn có bà Nghi, là em gái của ông chồng bà Nghĩa. Mới hơn ba mươi tuổi, là gái “Lỡ thì”, thành “Bà Cô” trong nhà!

Gọi là bà Nghĩa nhưng chưa tới bốn mươi tuổi, sức lực còn rất sung mãn. Sau hai ngày ở Làng Mẫu hệ, tôi chưa kịp đi dạo quanh Làng và tìm hiểu nhân tình thế thái ở đây như thế nào thì Khâm nói: “Nhập ngũ đã hơn hai năm rồi mà mày chưa vứt nốt mấy cuốn “Giải tích Toán học” ấy đi à? Sau này có trở về học lại thì tính sau. Còn bây giờ thì phải “sống cho ra sống” cái đã!”. Tôi nói: “Mày nói vậy là có ý gì?”. Khang cướp lời: “Còn ý gì nữa! Suốt ngày suốt đêm bom đạn đùng đoàng, biết đâu mà lần! Cái gì tới thì cho nó tới! Mày có biết là hiện nay chúng ta đang “chuột sa hũ gạo” không?” Tôi nói bừa: “Sa hũ gạo thì sơi luôn, ba thằng chúng ta đều tuổi con Chuột mà! Nhưng hũ gạo đâu?” Khâm ghé tai tôi nói nhỏ: “Thì đó, “gạo” là ba người đàn bà căng tròn trong nhà này đó! Chúng tao đã sơi được nửa hũ rồi, còn cái hũ phần mày là cô bé Ngãi đó! Nó cũng tuổi Tý, hết lớp Mười rồi, xã giữ lại chưa cho đi đại học, “ngon cơm” nhé!”. Thì ra là Khâm và Khang đã “dính đôi” với bà Nghĩa và bà Cô từ hôm mới đến! Thì ra là cái Làng mà chúng tôi đang đóng quân là “Làng không có đàn ông”, cho nên tất cả đàn ông đã trôi dạt đến đây đều bị bắt làm “Nô tài”! Thì ra là cô bé Ngãi còn ngập ngừng chưa tung “dây tơ nhện” ra trói cho nên tôi còn “vô chủ”!...

Quả nhiên, thời gian “vô chủ” của tôi không kéo dài thêm. Mới khoảng bảy giờ tối ngày thứ ba thì Ngãi gặp tôi nói: “Em nhờ anh giải giúp cho em mấy bài toán khảo sát hàm số, mới có mấy tháng rời sách vở mà như là quên hết!” Tôi nhớ đến câu nói của Khâm lúc trưa, nên trả lời: “Bao giờ cô có giấy gọi đi Đại học thì sờ đến sách vở cũng chưa muộn!...”.Tôi chưa kịp nói hết câu thì Ngãi cướp lời: “Nhưng thực ra khi còn đi học, em cũng hiểu lơ mơ lắm, giờ phải tranh thủ ôn luyện lại. May mà có anh là sinh viên Khoa Toán, phụ đạo giúp em đi! Em sẽ trả công xứng đáng!” Nghe nói đến chữ “trả công xứng đáng”, tôi thầm nghĩ có lẽ “hũ gạo” này sẽ cho tôi được thỏa chí tang bồng bèn nhận lời ngay. Trong khi Ngãi lấy mấy cuốn bài tập Toán lớp 10 ra, tôi nói với Ngãi: “Thực ra nội dung kiến thức Toán học ở chương trình Trung học Phổ thông rất dễ, ta chỉ cần nhớ kỹ những định lý, Tiên đề, những công thức quan trọng là có thể giải được tất cả các bài tập có trong sách giáo khoa!”. Ngãi cười cười, nói: “Nói như anh thì học Toán dễ hơn ăn kẹo! Nhưng làm thế nào để nhớ được những Định lý, Tiên đề, công thức Toán học quan trọng đó?” Tôi buột miệng: “Rất đơn giản! Khi mình thích nó, coi nó là hay, là đẹp thì sẽ nhớ mãi, như là nhớ từng ánh mắt, nụ cười, dáng đứng, điệu đi của người mình yêu vậy!” Ngãi nhìn tôi chăm chú, khẽ thở dài rồi nói: “Anh thích Toán học và yêu nó như người yêu của mình à? Vậy anh có người yêu rồi à?”. Tôi lúng túng, nói bừa: “Ấy là tôi ví dụ thế! Ngãi thấy không, những người học kém Toán là do sợ nó rồi ghét nó!...Tôi giải bài tâp Toán cũng thích thú như đánh cờ, đánh đáo nên chỉ nhoáng một cái là xong hết!”. Ngãi lại thở dài một cái rồi chỉ vào ba bài tập đã đánh dấu trong sách rồi nói: “Hôm nay anh giúp Ngãi giải ba bài này. Mỗi ngày chúng ta sẽ giải ba bài, sau ba ngày sẽ tăng lên năm bài, sau mười ngày sẽ tăng lên mười bài…Anh xem trước đi, năm phút nữa Ngãi sẽ trở lại!” Tôi nói ngay: “Không cần xem trước đâu, mấy bài này tôi còn nhớ như in vì đã giải cho cả lớp xem!” Và tôi liền lấy vở nháp ra vừa nói vừa viết liền một mạch hết cả ba bài!...

Tôi vừa giải xong ba bài tập cho Ngãi nghe thì Khâm và Khang đi lại gần, Khâm nói: “Tiểu đội và Trung đội có hỏi thì nói chúng tao ra bãi biển tập võ thuật. Còn mày thì xem “gạo nước” thế nào đi chứ, đây có phải là Khoa Toán của mày đâu mà cứ x, y mãi thế!”. Khi Khâm và Khang đi khỏi, Ngãi nói nhỏ với tôi: “Hai người ấy ra bãi biển “tập võ thuật” với mẹ và cô đó! Nghe mẹ khen lắm!...”. Tôi đang băn khoăn suy nghĩ xem Ngãi nói thế nghĩa là thế nào thì ngoài cổng có tiếng nói của Tiểu đội trưởng: “Số 1, số 2 , số 3 có nhà không?” Tôi nói vọng ra: “Có đủ!”. Tiếng TĐT vọng vào: “Đêm nay ba người gác đêm tới 1 giờ sáng!”. Tôi đáp: “Rõ!”… Ngãi ngập ngừng một lát rồi nói: “Vậy từ 10 giờ đến 1 giờ sáng chúng ta sẽ “giải bài tập” tiếp nhé! Giờ em phải đi giặt một chậu quần áo!”. Ngãi nói rồi nắm chặt tay tôi và bóp mạnh khi đứng dậy. Tôi nhìn đồng hồ: 9 giờ 30 phút!...

3.

Năm 1972, lúc đó tôi không học ở Khoa Toán nữa mà chuyển sang Khoa Văn. Lúc đó, không quân Mỹ tăng cường bắn phá miền Bắc , dọa sẽ đưa Hà Nội trở về thời kỳ Đồ Đá, nên các trường Đại học lại phải đi sơ tán. Lúc đầu, chúng tôi sơ tán về xã Châu Minh, huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang), thời gian sau lại đổi về Huyện Đồng Văn (tỉnh Hà Nam). Thật là bất ngờ khi tôi phát hiện ra rằng cả ở Hiệp Hòa và Đồng Văn, nơi chúng tôi ở đều là Làng Mẫu hệ gần giống như cái Làng Mẫu hệ mà tôi đã ở hồi tại ngũ ở Diễn Châu. Và điều kinh ngạc tiếp theo là ở cả hai nơi, tôi đều ở nhà có cô gái con chủ nhà đều tên là Ngãi. Đã kinh ngạc lại còn kinh ngạc hơn: cả hai cô gái tên Ngãi đều bằng tuổi cô Ngãi ở Diễn Châu và đều đã trải qua TNXP và đang ôn thi vào Đại học Khối A, và đến đây thì thật đáng sợ: cả hai cô đều nhờ tôi phụ đạo môn Toán, tức là mặc dù đã bỏ Khoa Toán mà sang Khoa Văn, tôi vẫn phải ngày ngày giải hoài mấy cái phương trình, khảo sát hoài mấy cái Hàm số, tức nói hoài x, y, z !...



Sài Gòn, Mùa Đông, 2009
© tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ Sài Gòn ngày 02.12.2009.
. Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com.