Chương 9


Đêm giao thừa Tân Mão( 1591). Cevallos và Santa được mời tới biệt dinh của công chúa Mai Hoa đón Tết theo cách của người dân Đại Việt. Tối ba mươi, trời tối đen như mực. Hai người đàn ông phương Tây dò từng bước đến nhà công chúa. Không gian tăm tối và giá lạnh do mặt trời đã đi quá xa xứ sở này, nhưng trong ngôi nhà gỗ thơm hôm nay đặc biệt ồn ào, vang lên tiếng nói của nhiều người, gian bếp lửa đỏ bập bùng, nồi bánh chưng sôi sùng sục. Mấy người đàn bà chụm đầu bên nhau quanh bếp lửa. Họ trò chuyện sôi nổi. Họ đón đợi hai chàng khách quí Tây phương.

Cevallos và Santa cùng ngồi sưởi ấm. Công chúa chỉ vào nồi bánh chưng và nàng kể chuyện sự tích bánh chưng, bánh dầy cho cha cố nghe:

- Ngày xửa ngày xưa, sau khi đánh phá được giặc Ân, quốc gia vô sự, đất nước thanh bình, vua Hùng muốn truyền ngôi cho con, bèn triệu hai mươi hai người con trai và công chúa đến phán rằng:” Ta muốn truyền ngôi cho kẻ nào làm ta vừa ý, cuối năm nay mang trân cam mỹ vị đến để cúng tiến Vương, cho ta được tròn đạo hiếu thì ta sẽ truyền ngôi”. Các con đều đua nhau đi tìm của ngon vật lạ, khắp trên cạn, dưới bể về dâng vua, nhiều không kể xiết. Riêng có người con trai thứ mười tám là Lang Liêu, mẹ chàng trước kia bị vua ghẻ lạnh đã chết vì cô đơn, nay chàng sống nghèo khổ, ít người giúp đỡ, rất khó xoay xở lễ vật, nên chàng buồn rầu, lo lắng, đêm ngày bất an. Một đêm, chàng nằm mộng, thấy có thần nhân tới nói rằng:” Các vật trên trời đất và mọi của quí của người không gì quí bằng gạo. Gạo có thể nuôi người khỏe mạnh và ăn không bao giờ chán. Hãy đem gạo nếp làm bánh, cái hình vuông, cái hình tròn để tượng trưng cho trời đất, ở trong cho mỹ vị rồi dùng lá bọc ngoài để ngụ ý công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ”. Lang Liêu tỉnh dậy, mùng rỡ nói:” Thần nhân đã giúp ta”. Chàng theo giấc mơ, chạy ra đồng cắt lúa nếp về xay, giã, giần sàng, chọn hạt tròn đều, vo sạch, ngâm nước, rồi vào rừng hái lá rong xanh biếc, mềm mại, rửa sạch, cho thịt lợn ướp tiêu muối, đỗ xanh đãi vỏ vàng óng vào giữa gạo nếp và cẩn thận gói thành những chiếc bánh hình vuông, cho vào nồi luộc chín. Chàng lại lấy một ít gạo nấu chín cho vào cối giã mịn, nặn thành bánh hình tròn tượng trưng cho trời, gọi là bánh giày. Chờ đến đêm ba mươi Tết, đúng thời khắc giao thừa, chuyển sang năm mới, Lang Liêu cùng các anh em dâng lễ vật lên vua. Vua xem kỹ tất cả. Không thiếu thứ gì. Sơn hà hải vị, đắt và hiếm quí. Riêng Lang Liêu chỉ dâng hai thứ bánh chưng, bánh dầy rất giản dị của đồng quê, của đời sống hằng ngày. Vua lấy làm lạ hỏi:” Tại sao con lại dâng ta hai thứ bánh quê mùa này?” Lang Liêu cung kính thưa vua cha về ý nghĩa của hai chiếc bánh tượng trưng cho trời tròn, đất vuông . Vua nếm thử thấy ngon mà lại có ý tôn công ơn cha mẹ xứng ngang trời đất, bèn truyền ngôi cho Lang Liêu. Từ đó vua tôi đất nước Đại Việt thường lấy hai thứ bánh này dâng cúng cha mẹ vào thời khắc thiêng liêng của Tết Nguyên Đán, hay Tết Cả. Chúng tôi tính thời gian trong một năm theo tuần trăng tròn, trăng khuyết, hợp với thời tiết gieo mạ cấy lúa, trồng rau hoa quả.

Những người đàn bà và trẻ con Đại Việt thường kể cho nhau nghe câu chuyện bánh chưng, bánh giày bên bếp lửa nồi bánh chưng mỗi dịp Tết về. Với cha cố thì chuyện này mang lại một cảm xúc thú vị về cách nghĩ thơ ngây của con người về hình dạng và kích thước trái đất và bầu trời. Chàng tự hào vì người châu Âu và Magenllan bằng hành động vĩ đại của mình, đã khám phá trái đất hình cầu chứ không phải hình vuông. Chàng mỉm cười. Công chúa đã nhận ra nụ cười của chàng hồng rực bên ánh lửa. Nàng nói:

- Cảm ơn ngài đã dạy cho tôi biết rằng trái đất của chúng ta hình cầu. Tôi sẽ truyền lại kiến thức đó cho đồng bào của tôi. Bây giờ sắp sang giờ ngọ, xin mời ngài và mọi người vớt bánh, dâng lên bàn thờ cúng tổ tiên, cha mẹ…

Chiều Mồng Một Tết. Những cây hoa đào phai nở hoa tô hồng góc vườn của công chúa Mai Hoa. Năm cánh hoa đào rung nhè nhẹ trong gió xuân. Mưa xuân phủ bụi mờ những ngọn núi mờ xanh. Cevallos bước vào nhà. Một mùi hương là lạ, nhẹ nhàng dâng lên. Cevallos trầm tĩnh phút giây. Không phải hương hoa lạ. Hương hoa thủy tiên. Thứ hoa từ quê hương xứ sở của chàng sao bỗng xuất hiện ở nơi đây? Hương thơm ơi! Thủy tiên ơi! Đừng làm ta ngây ngất. Làm máu trong tim bỗng dồn lên mặt. Ta như nhớ, như thương… như tình yêu dồn nén sâu đáy ngực, lại bùng lên, ôi quả đúng ta yêu. Hãy cho ta cánh hoa dù bé nhất, hỡi thủy tiên. Để tim ta được ve vuốt, dù chỉ một lần…

Công chúa nâng chén trà nhị thủy tiên thơm dìu dịu mời cha cố. Bốn bàn tay nâng chén trà. Hương thủy tiên quyện giao cùng ánh mắt. Không lời… Santa cứ đứng ngây ra nhìn họ. Một lát sau Cevallos nói rất nhỏ:

- Tôi là du khách chỉ mơ về quán trọ, là bụi gai trên sa mạc mênh mông, giữa sóng lớn lăn vật vờ theo gió. Sao bỗng nhiên tôi lại gặp thủy tiên? Thủy tiên thường nở hoa vàng nắng vào mùa thu trên nền đất lạnh châu Âu. Tôi từng miên man trong nắng hoa vàng với thủy tiên. Hương vị thơm tho của thủy tiên như bóng dáng thiên thần hiện về hôm nay trong ngôi nhà của công chúa, gợi cho tôi nhớ lại những ngày đẹp tươi, rực rỡ, tôi cưỡi con ngựa hiền lành đi trên con đường trải đầy hoa lá, hy vọng tràn đầy, lòng can đảm dâng lên, mà hành động cùng ước mơ cứu người thiếu nữ đẹp bị quỉ satan vây bắt.

- Vâng. Đúng là hoa thủy tiên, loài hoa của xứ lạnh đã lên ngôi vương giả ở đất này.

Cevallos ngắm dò thủy tiên đặt trong chiếc cốc lớn bằng thủy tinh, được tạo hình rồng. Vỏ cùi của củ được tỉa uốn công phu, tạo mắt, mũi, trán rồng. Vẩy rồng là những cánh hoa trắng, nhị vàng đan xen. Bộ rễ thủy tiên dài trắng muốt tạo thành bộ râu rồng đẹp hiếm thấy.

Nàng công chúa Đại Việt không được sinh ra và sống ở Thăng Long, nhưng nét ăn chơi quí phái của kinh kỳ thấm sâu trong huyết mạch cha ông, đã truyền đến cho nàng. Mai hoa kể ông thầy dạy nàng biết cắt gọt tỉa củ thủy tiên thành bông hoa nghệ thuật:

- Tôi vui như Tết khi được đứng xem thầy ngồi tỉ mỉ gọt tỉa củ thủy tiên mang đầy vẻ nghệ thuật. Tay trái cầm củ thủy tiên, tay phải cầm con dao trổ thon dài, đầu dao hình mũi mác rất sắc. Nhẹ nhàng thong thả, thầy lách nhẹ mũi dao trổ các lớp mô dày, tách cho mầm của mỗi nhánh củ ló ra, giúp cho nhánh nảy mầm, đâm lá. Nếu hấp tấp, vụng về, đưa mũi dao chạm vào nhánh sẽ hỏng. Củ thủy tiên cắt gọt xong đặt vào cốc thủy tinh to đựng nước mưa hoặc nước trong. Khi lá non bắt đầu nhú, thầy lại lấy mũi dao tách khẽ lớp mô nhánh của củ cho là mọc theo ý định thẳng cong sao cho hài hòa. Dò thủy tiên đâm nụ, thầy đặt vào rốn củ một miếng vải trắng sạch, giữ cho thủy tiên không bị thối, tối phải đem ra đặt ở bể nước ngoài trời để hứng sương lạnh. Vì thủy tiên nhớ châu Âu xứ lạnh của mình. Sáng sớm phải rửa nhẹ rốn củ cho hết nhớt tiết ở trong củ ra, lau sạch lòng cốc, thay nước mới rồi dem vào nhà. Tôi nhớ mài đêm giao thừa năm ấy, mấy củ thủy tiên đếu nở đúng giao thừa, thơm tinh khiết như sinh khí của đất trời ùa cả vào hồn tôi. Sáng mồng một Tết hoa nở tưng bừng. Mẹ con tôi rất vui. Mẹ bảo:
” Điềm lành cả năm”. Bên những lá thủy tiên xanh dày, cong cong, hoa thủy tiên nở trên cành mềm mại. Hoa đơn sáu cánh trắng muốt, nở xòe căng, nhị hoa ở giữa là một lớp cánh nhỏ như cái phễu sáu cánh màu vàng, chứa một chùm nhụy phấn hương thơm nhè nhè rất quí phái phô tươi cùng tạo hóa…

Những phút giây được sống bên công chúa Mai Hoa thánh thiện thế này, Cevallos như lạc vào một thế giới khác. Cảm giác bình an và niềm tin dâng trào. Hình như có phép nhiệm mầu của Chúa. Hồn chàng như tách rời khỏi phần thân xác. Chàng dịu dàng thổ lộ:

- Nàng và ta đang sống trong vườn Ê- đen thuở Chúa Trời mới tạo dựng thành trời đất.

- Ngài nói gì tôi không hiểu.

- Nàng phải học Kinh Thánh. Nàng sẽ hiểu những điều ta nói và cả những gì ta nghĩ. Chúng ta chỉ nhìn nhau là thấu những khát vọng chứa chan và tình yêu thương ngập tràn mà chẳng có ngôn ngữ nào diễn tả nổi.

- Có thể khi được sống gần ngài, tôi sẽ học Kinh Thánh và sẽ hiểu.

- Nàng sẽ hiểu rằng mọi tội lỗi của loài người bắt đầu từ khi A-Đam và E-va bị con rắn dỗ dành, đã ăn trái cấm. Chúa Trời thương xót và nổi giận, đuổi họ ra khỏi vườn Ê-đen, vì đã không giữ được trinh tiết. Ngài phán cùng người nữ rằng: “-Ta sẽ thêm điều cực khổ bội phần trong thai nghén, ngươi sẽ chịu đau đớn mỗi khi sinh con, dục vọng ngươi sẽ hướng về người chồng, và chồng sẽ cai trị ngươi”. Ngài lại phán cùng A-Đam: “-Ngươi nghe lời vợ mà ăn trái cấm, đất sẽ bị rủa xả vì ngươi, trọn đời ngươi phải chịu khó nhọc mới có vật đất sinh ra mà ăn… cho đến ngày ngươi phải trở về với đất, nơi đã sinh ra ngươi, vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về với bụi”.

- Chúa Trời sao độc ác thế? Ngài không cho nam, nữ được ân ái với nhau.

- Biết làm sao? Sự thật là A-Đam và E-va ăn ở với nhau, sinh sản dòng giống con người, là thủy tổ của loài người. Con cháu họ, đời này qua đời khác, luôn phạm tội tổ tông. Họ ăn nằm với nhau, sinh sản đầy rẫy mặt đất và chém giết nhau. Sự gian ác của loài người ngày càng cuộn lên như sóng, như bão, như nước, như lửa… phá tan mặt đất, tiêu diệt nhau, hận thù, dối lừa, tranh giành, hãm hại, cướp phá… Chúa Trời buồn rầu, thất vọng bởi loài người chỉ là xác thịt thôi. Ngài bỏ đi nhưng vẫn lập giao ước với loài người. Dấu hiệu của giao ước là cái mống cầu vồng bảy sắc vàng, đỏ, lam, tím, đen, trắng xanh ở trên mây. Nơi đó Đức Chúa Trời nhân từ và thương xót, đầy ân huệ và thành thực ban ơn đến ngàn đời, xá điều ác, tội lỗi cho kẻ biết ăn năn hối cải, soi sáng tình yêu thương và công lý để duy trì sự sống. Lời ngài dạy trong Kinh Thánh “Hãy làm điều công chính và lẽ phải”. NHững ai tin tưởng ở Đức Chúa Trời, luôn hướng tâm hồn lên cao, nhận tình yêu thương, công lý, sự khôn ngoan và quyền năng của ngài, để sống và cải thiện cái thế giới đã bị băng hoại bởi tội lỗi…

Công chúa ngắm vẻ suy tư của Cevallos, vầng trán cao rộng và uy nghiêm của chàng trở nên cao cả vì sự trầm tư. Nàng thấy xúc động như đứng trước một thiên thần tươi trẻ, phúc hậu, bao dung. Một niềm yêu mến khó tả dâng lên trái tim, nàng đã nhìn thấy một tâm hồn mãnh liệt, từng trải, đầy những ý nghĩ tốt lành, những lời nói đầy ắp niềm tin, những hành động bác ái, trung thực… Nàng nghĩ đến cái vô biên, huyền ảo, nối với sự sống và sự chết. Nàng từ từ đưa bàn tay nhỏ nhắn, ngón tay búp măng mềm mại của mình đặt vào bàn tay trắng ấm êm, thanh tao của chàng. Đó là một hành động táo bạo, một niềm tin, một tín hiệu, nàng muốn nói với chàng rằng:” Cảnh tượng của thế gian giả dối và đáng sợ; ngoài kia, người ta đang đánh giết nhau. Chẳng có cái gì chắc chắn ở trên đời, khiến lòng ta đau buồn nghiêng ngả. Ta muốn trốn vào ẩn náu trong bóng đêm của tôn giáo uy linh, nhưng ta lại cần tình yêu để sống. Một tình yêu trần thế mang hơi thở của thánh thần. Ta tin tưởng ở sức mạnh suy tư và cả sức mạnh bản năng của chàng. Ta sẽ sống cùng nhau, yêu cho thỏa thích. Yêu cho đến ngày hai ta cùng chết trong huyền bí, nhiệm màu.”

Chương 10


Thùy Dung dậy sớm vào trong chợ xóm mua một ít bánh tráng khoai lang về làm quà nhâm nhi cho đám thị nữ. Bánh làm bằng khoai lang nấu chín, bóc sạch vỏ, trộn đường, gừng, cho vào cối giã nhuyễn, cán thành từng tấm mỏng, cát thành từng chiếc bánh tròn, mặt bánh rắc một ít vừng đen, đem phơi nắng. Khi ăn người ta nướng bánh trên những lò than đỏ hồng. Chợ quê, có các cụ bà bỏm bẻm nhai trầu, tay quạt lò than, tay thoăn thoắt trở bánh cho bánh chín vàng đều, giòn mà không gãy. Thùy dung đang ngồi xúm xít quanh lò lửa nướng bánh, chờ mua vài chiếc thì có tiếng một thanh niên léo xéo trêu chọc:

- Ả này rỗi việc nhỉ? Giờ này còn ngồi đây, mau về thu dọn nhà cửa. Hãy nhìn lên trời kìa, mặt trời có hai quầng, khí trắng lồng khí đen ở ngoài quầng. Điềm xấu đấy. Trộm cắp, giặc giã vây tứ phía. Con gái hơ hớ ra thế kia, không sợ bị cưỡng hiếp hay sao?

Thùy Dung đỏ mặt, sợ hãi ngồi nép sâu vào phía bà cụ bán bánh. Chờ cho gã đi khuất cô mới dám nhìn lên trời. Bầu trời hôm nay thật kinh dị. Mặt trời bị quầng đen lờ mờ liếm vào, trông lem nhem như quái vật. Nó không còn màu đỏ hồng tỏa nắng rung ring nâng bước chân của Thùy Dung nhảy nhót trên mặt đất. Không có nắng vàng đưa dẫn những đám mây trắng bay lượn Nhởn nhơ theo gió. Mặt đất nhập nhòe như ma trơi, lúc sáng, lúc tồi mờ. Nỗi sợ hãi xâm chiếm tâm trí cô. Lại thêm lời dọa” cưỡng hiếp” làm nàng kinh hồn bạt vía. Nàng không hiểu hết ý nghĩa thực của từ đó, nhưng rất hoảng. Nàng nhớ lại thuở lên năm, buổi tối có một chú lính triều đình sang nhà nói với mẹ cho cõng Thùy Dung đi xem hát chèo ở làng bên. Hắn cõng con bé tóc đỏ hoe đi qua cánh đồng, rồi đặt cô nằm xuống đám rạ khô, hắn đè cả thân hình to sù sụ lên bé. Cô dãy giụa đến ngạt thở. May cô không bị chảy máu trên thân mình. Tối hôm sau hắn lại sang đòi cõng cô đi. Cô bé nằng nặc khóc, không theo hắn. Cô ngập ngừng mấy lần định kể với mẹ chuyện ấy. Cái chuyện kinh khủng mà cô chẳng hiểu là chuyện gì. Nhưng do bản tính nhút nhát, cô lại im bặt... Từ đó đến tận bây giờ, cô mắc bệnh sợ hãi đàn ông. Chẳng hiểu vì sao cô sợ…

Thùy Dung muốn chạy ngay về nhà, nàng lo công chúa buồn và sợ hãi trước cảnh sắc ghê rợn này của đất trời. Nhưng nàng sợ không dám về một mình. Từ chợ về phải đi qua một mảnh ruộng thấp và một con suối. Cô nhìn bà cụ bán bánh tóc bạc trắng phau ẩn dưới vành khăn vuông đen vấn hình mỏ quạ, tưởng như bà mình sống lại. Bà đang bổ cau, têm trầu cánh phượng và kể chuyện cổ tích Tấm Cám cho bé Dung nghe… Bỗng nhiên cô thầm thì:

- Bà ơi! Cháu muốn về nhà với công chúa Mai Hoa.

- Nhưng cảnh trời đất thế này, cháu sợ lắm.

- Thì ra cháu là thị nữ của công chúa à? Sợ gì cảnh trời đất. Nắng mưa, sáng, tối, mưa, gió, bão, sấm chớp, mặt trời, mặt trăng bị ma ăn, là chuyện của ông trời, chúng ta sống hiền lành, có gì phải sợ. Cháu chờ tí nữa có thím Dậu ở bên kia suối đi bán cám, sắp về đường ấy cùng cháu đấy.

Bà cụ vừa nói xong thì thím Dậu tong te cắp cái thúng qua hàng bà, mua chiếc bánh đa về làm quà cho cu Tý. Bà cụ dặn thím:

- Nhổ lấy cái cây làm gậy, đưa cô bé này qua suối hộ bà với nhé.

Thùy Dung cảm ơn bà cụ và bước rất nhanh theo người đàn bà vạm vỡ, da đen cháy, dáng đi hùng hổ như đàn ông, tay cầm chiếc gậy tre vừa bẻ bên đường.

Về đến gần cổng, Dung đã gọi công chúa, mừng như vừa thóat hiểm trở về. Công chúa không ra đón Dung. Trong nhà có khách. Dung đi vòng vào gian bếp ngó lên nhà trên. Một người đàn ông cao lớn, vai cọp, lưng gấu, râu quai nón, da đen mai mái, mắt xếch, lông mày rậm hình lưỡi mác, giọng ồm ồm, đang thao thao bất tuyệt kể chuyện quân Trịnh đánh nhau với quân Mạc:

- Tôi lâu không về thăm công chúa được vì mải theo Chúa đích thân đốc xuất đại quân đi đánh dẹp quân Mạc ở các huyện đàng ngoài tận vùng Ninh Bình. Họ Mạc sai Mạc Đôn Nhượng thống suất vệ sĩ và quân bốn trấn, định ngày cùng tiến đện địa phận Yên Mô, hẹn giao chiến với quan quân ta. Tiết chế Trịnh Tùng bàn với các tướng:” - Nay họ Mạc đem hết đại binh tới, chỉ cốt giao chiến với ta để quyết một trận sống mái. Quân địch nhiều. Quân ta ít. Thế mạnh yếu khác nhau. Nhưng ta đã ở vào đất hiểm. Hẳn giặc không làm gì được. Binh pháp có nói” Một người giữ chỗ hiểm, ngàn người không địch nổi” là thế đó. Ta nên giả cách rút quân, để dắt chúng vào chỗ hiểm. Nó tất khinh ta, đem quân đuổi theo. Ta dùng trọng binh đánh úp, ắt sẽ phá được…” Canh ba đêm ấy, Trịnh Tùng sai Nguyễn Hữu Liêu đem một vạn năm nghìn quân tinh nhuệ và hai trăm cỗ khinh kỵ, đi ngầm trong đêm tối, tới vùng chân núi tìm các hang động, khe suối và những nơi có lau sậy mà mai phục để đợi giặc. Hẹn nghe thấy ba tiếng súng lệnh thì quân phục nổi dậy hết. Hữu Liêu đem quân đi rồi, lại sai Trịnh Đỗ, Trịnh Đồng, Trịnh Ninh đem quân chặn hậu. Hạ lệnh các quân cứ theo như trận đồ mà lần lượt rút lui. Nếu thấy giặc đuổi tới, thì vừa đánh, vừa chạy. Đến chỗ quân mai phục, nghe thấy ba tiếng súng lệnh, thì chuyển quân hậu thành quân tiền. Mỗi cánh quân chia đội ngũ, cờ xí ra hai bên tả, hữu, theo đúng thứ tự trong trận đồ.

Các tướng nhận lệnh xong, đều trở về doanh trại của mình, chỉnh đốn binh tướng để đợi giặc. Lại sai Ngô Cảnh Hựu đem quân chở lương thực, thu nhặt rút trước vào núi Tam Điệp thì đóng quân lại. Tiết chế Trịnh Tùng cũng đốc xuất đại quân lên đường. Hôm ấy tướng Mạc sai người lên đỉnh núi quan sát, thấy quan quân kéo về, cười mà nói rằng:” Nó thấy quân ta tới, tự biết là ít không địch nổi nhiều, đã rút về trước, tất để lại Hoàng Đình Ái chặn hậu. Các tướng sĩ của ta, người nào có thể dấn mình ra sức đuổi kịp quân địch, nếu bắt sống tướng giặc hoặc bắt được voi là công hạng nhất, khi về triều, ta sẽ tâu cho thăng trật và trọng thưởng. Tướng Mạc tự cậy quân nhiều, hăng hái tranh nhau tiền trước, không nghĩ gì đến người theo sau, đua nhau đuổi đến chỗ hiểm ở núi Tam Điệp. Nghe thấy ba tiếng súng lệnh, phục binh nhất tề nổi dậy. Tiết chế Trịnh Tùng tung đại quân ra, bốn mặt hăng hái đánh vào, chém được hơn một nghìn thủ cấp, bắt sống hơn sáu trăm người. Quân giặc tan vỡ, chạy dài. Các tướng Mạc run sợ, thu nhặt tàn quân chạy về kinh đô Thăng Long. Quân ta toàn thắng, reo hò nhảy múa, đem quân về Thanh Hóa… Theo suy tính của tôi, chẳng lâu nữa đâu, quân ta sẽ tiêu diệt gọn quân Mạc, chúng ta sẽ trở về kinh thành Thăng Long, làm vua thiên hạ…

Viên tướng họ Trịnh hả hê với chiến thắng, luyến láu khoe khoang, thể hiện sự oai hùng của mình trước người đẹp. Chàng đâu ngờ công chúa nghe chuyện, mặt tái dần, trái tim xao xác. Nàng đau, nỗi đau nhìn thấy cảnh người cùng một giống chém giết lẫn nhau để một kẻ giành được ngôi vua. Nàng không dám nhìn thẳng vào mặt viên tướng họ Trịnh. Mặt chàng dính đầy máu và những linh hồn bị giết oan đòi trả máu vây quanh đầu chàng. Hình như có những tiếng kêu khóc đòi chồng, đòi con của những người đàn bà trắng khăn tang… Công chúa ôm đầu choáng váng. Lúc này viên tướng họ Trịnh mới chú ý đến nàng. Chàng giơ tay đỡ nàng, nhưng nàng vội đẩy ra. Bàn tay chàng lạnh, đầy tà khí… Viên tướng thấy vậy bèn lật đật mang từ trong chiếc túi vải ra một chiếc hộp sơn mài hình chữ nhật to bằng cuốn sách, chàng nâng hai tay dâng công chúa:

- Đây là chuỗi vòng ngọc trai quí nhất của Đại Việt tôi xin dâng tặng nàng để cầu hôn. Tôi đã ta lệnh cho người dân chài tài giỏi nhất, dũng cảm nhất của vùng biển Thanh Hóa, ba năm liền lặn xuống chỗ đáy biển sâu nhất để mò những con trai sống đã ngàn năm, tinh luyện trong miệng nó viên ngọc trai nghìn năm tuổi, mang về kết thành vòng ngọc cho ta làm vật báu cầu hôn. Hôm nay có vòng ngọc vô giá này, ta chính thức xin đức vua, cưới nàng về làm vợ. Ngọc này có màu nắng của trời, màu xanh của nước biển, có cát vàng và đá quí trầm tích dưới đáy đại dương, biểu trưng cho khối tình son sắt rộng lớn như biển rộng, trời cao, như kim cương trong lòng đất của ta đối với nàng. Vậy nàng tính sao?

Công chúa bất ngờ trước những diễn biến như vũ bão của lời cầu hôn. Ba năm nay, viên tướng này thường đi lại thăm nàng. Song chẳng lúc nào nàng nghĩ đến chuyện sẽ làm vợ chàng. Nay, chàng có vẻ quả quyết đến thế, nàng trù liệu chối từ ra sao đây? Không đời nào nàng lại sống chung với tướng lĩnh họ Trịnh. Nàng rất sợ máu. Nhưng nàng cũng không dám phản ứng mạnh. Thân nàng mỏng manh như cánh hồng trước bão. Nàng phải cầu đến vua anh… Nàng trầm tĩnh khôn ngoan trả lời viên tướng:

- Xin cảm tạ tấm lòng của tướng quân đã đoái thương đến tôi. Nhưng cha mẹ tôi đã qua đời, chuyện tình duyên của tôi do đức vua thay tiên đế định đoạt. Tôi xin chàng hãy chờ đợi ý đức vua.

- Nàng bắt ta chờ đợi? Ta đợi đã ba mùa xuân. Ta đau đớn từng ngày trong đợi chờ. Mỗi lần ta ra trận, bóng hình nàng lại hiện lên. Và ta vung kiếm tơi bời. Ta chém. Ta giết. Ta đâm ngang dọc. Ta hô quân chém chặt đầu người, càng nhiều càng tốt. Ta muốn lập công với đức vua. Ta mong cuộc chiến tranh này mau kết thúc, quân ta sẽ kéo về kinh thành Thăng Long, lấy lại quyền cai trị đất nước. Ta sẽ xây dinh thự riêng cho nàng và ta hưởng hạnh phúc ái ân. Thăng Long bát cảnh, nàng muốn xây biệt dinh ở cảnh nào? Ta sẽ dẫn nàng đi xem từng cảnh một. Nào Ngự lâu quan đài( lầu ngự xem sóng), Khán sơn tịch chiếu( nắng chiều chiếu vào quán sơn), Thanh Trì vấn tân( thăm bến Thanh Trì), Bồ Đề viễn diễu( xa trông Bồ Đề), Báo Thiên hiểu chung( chuông sớm chùa Báo Thiên), Bạch Mã sấn thị( cảnh chợ ở đền Bạch Mã), Nhị hà hải phàm( buồm biển ở sông Nhị), Lãng bạc ngư ca( tiếng hát người đánh chài ở hồ Lãng Bạc( Hồ Tây)… Hay nàng muốn xây dựng chùa chiền? Ta sẽ xây một ngôi chùa Hương Tích gần Thăng Long để nàng đi lễ mùa xuân, không phải lặn lội, thuyền bè vào Nghệ An leo lên ngọn Thứu Lĩnh xa xôi, nguy hiểm…

Viên tướng nói nhiều, nói hay, lại còn thông thạo cả cảnh đẹp Thăng Long. Công chúa không thể tin chàng lại đến nỗi lịch lãm, am hiểu văn hóa, kiến trúc, cuộc sống hào hoa của Thăng Long- Kẻ Chợ như vậy. Nàng cười thầm chua chát. Nàng vờ vui vẻ và hỏi viên tướng:

- Chàng thạo cảnh đẹp Thăng Long thế, chàng có biết thành Cổ Loa với câu chuyện tình Mỵ Châu- Trọng Thủy không?

- À, đó là cô công chúa trái tim lầm lẫn để trên đầu, nỏ thần vô ý trao tay giặc, để nỗi cơ đồ đắm biển sâu chứ gì? Vâng, tôi có biết cô Mỵ Châu ngây thơ đó. Cô ta chỉ biết yêu đương. Nhưng cô đã không hiểu bọn đàn ông chúng tôi. Đàn ông sống vì tham vọng chiếm được quyền lực, họ muốn có uy quyền trong cả chuyện cướp đoạt phụ nữ, chứ họ không coi tình yêu, tình đương là cái gì đâu. Họ muốn tỏ tình với ai, kể cả cưới làm vợ, cũng là để chiếm lấy người đẹp mà thôi. Họ mê sắc đẹp lõa thể. Họ say đắm cái cơ thể uốn lượn, mềm mại những đường cong khỏe mạnh, những đôi môi gợi tình, những đôi mắt bướm, lưng ong lơi lả. Thỏa mãn tình dục xong với cô này, họ chán ngán, lại tìm cảm giác mới lạ với cô khác. Đàn bà chỉ là trò chơi thân xác của đàn ông. Người càng có nhiều quyền lực xã hội, càng dễ kiếm vui trên thân thể phụ nữ… Tôi mộng làm vua cũng một phần muốn tự do nếm mùi trinh tiết của thiếu nữ đẹp khắp non sông Đại Việt. Vua chúa muốn bắt cô nào về cung chẳng được. Làm vua, tôi sẽ tung lính đi khắp hang cùng xóm vắng, rước người đẹp về cung hưởng hoan lạc…

Viên tướng họ Trịnh nói như kẻ say rượu quên cả trời đất.

Công chúa nghe chàng ta nói, giận sôi sục, nhưng để giữ hòa khí, nàng chuyển giận thành mỉm cười mai mỉa:

- Ta khen chàng đã dám nói ra sự tối tăm, tàn bạo tận đáy sâu lòng dạ của đám đàn ông say quyền lực. Ta đã hiểu điều ấy từ lâu lắm rồi. Bởi thế, ta không bao giờ để trái tim ta lầm lẫn. Ta đã chối từ lời cầu hôn của nhiều kẻ có quyền lực đang xun xoe quanh ta và đức vua. Nay lại đến lượt chàng tới cầu hôn. Ta ngờ rằng chàng sẽ chinh phục được đức vua vì chiến công giết đồng loại của mình. Chàng đợi đấy, xem đức vua phán thế nào. Chàng hãy mang vòng chuỗi hạt ngọc trai này về đi. Ta không dám nhìn thấy nó. Trông kìa, những viên ngọc trai ánh lên màu đỏ, màu máu từ trái tim tình yêu của Mỵ Châu chảy ra, thấm vào ngọc trai, hàng nghìn năm được sóng đại dương ấp ủ, vỗ về mà máu vẫn chưa khô…

Viên tướng từng nghênh ngang trên lưng ngựa, vượt rừng rậm sông dài, mỗi đêm chém hàng trăm cái thủ cấp nhẹ như không, mà giờ phút này sao bỗng run rẩy trong lòng… Chàng thật không ngờ, nàng công chúa mà chàng muốn chiếm đoạt, tâm hồn lại rắn hơn cả đá kim cương… Thì ra, bọn đàn bà, họ cũng có trí óc suy nghĩ và cũng có cả tâm hồn nữa ư?... Chàng cảm thấy trước mặt người đàn bà này, chàng thấp bé như đang đứng trước một ngọn núi gập ghềnh mà con chiến mã của chàng không cõng chàng vượt qua nổi… Chàng bối rối xin phép công chúa ra về.

Thùy Dung lắng nghe câu chuyện, thấu lòng công chúa. Nàng không dám làm cho công chúa bị tổn thương, bèn bày trò chơi trốn tìm trong vườn. Nàng bảo công chúa nhắm mắt lại và chạy trốn dưới gốc cậy thị già. Một lúc sau, công chúa mở mắt ra, đi tìm Dung khắp vườn không thấy. Qua cây nhãn đang nở bông đầu mùa, hoa nâu, thơm mát dịu dàng gọi đàn ong về hút nhụy hương hoa làm mật, mấy chú ong vo ve, làm công chúa sợ hét lên, Thùy Dung chạy vội đến:

- Đừng sợ, công chúa lúc nào cũng có em bên cạnh, vả lại loài ong mật này hiền lành lắm, rủi có bị nó đốt, có khi lại là châm huyệt chữa bệnh đấy.

Công chúa mắng yêu Thùy Dung:

- Em để cho ta tìm mãi. Em hứa với ta đi, từ nay đừng để ta phải ở một mình nhé. Ta sợ lắm.

- Công chúa sợ cái gì?

- Ta sợ ma. Nhiều đêm ta mơ thấy ác mộng. Có kẻ kéo ta xuống vực sâu, nhưng ta quẫy đạp mãi rồi cũng thoát. Song tim ta đập thình thình, tim đau lắm.

- Vậy thì từ đêm nay, em sẽ kê giường gần cửa phòng của công chúa để trông chừng cho công chúa ngủ yên. Ngày xưa bà em bảo phải lấy con dao gối ở đầu giường nữa.

- Không ta sợ dao. Chỉ cần em ở gần ta là đủ. Có em ta sẽ thấy ấm áp như ngày xưa thơ bé ngủ trong lòng mẹ.

Chương 11


Công chúa Mai Hoa bồng bềnh trên những lớp sóng đục ngầu, nàng đang bơi. Nàng gặp một người thiếu nữ quần áo trắng tinh khiết, tóc rủ trâm vàng óng ánh, bơi đi, bơi lại như một linh ảnh bay dưới nước. Trông gương mặt thiếu nữ hao gầy, mắt buồn sâu thẳm, lông mày lá liễu, đôi môi mấp máy như đang kêu cứu.

Mai Hoa bơi lại gần thiếu nữ và hỏi:

- Nàng là ai? Cớ sao nàng theo ta đến cung vua Thủy Tề?

Thiếu nữ nhìn Mai Hoa chằm chằm, cái nhìn vừa yêu thương vừa cầu cứu, nàng cất tiếng hát:” Cho con một tấm quan tài, vừa rộng vừa dài lại vừa cao, nẻ hoa bốc cỏ bỏ vào cho con.”

Mai Hoa nghe tiếng hát lòng đầy kinh hãi, xót xa bởi lời hát thảm thiết quá, nhưng giọng hát âm vang lại có cái vẻ quen thuộc một thuở xa mờ:

- Hình như ta đã gặp nàng ở đâu?

Thiếu nữ cất giọng nhỏ nhẹ:

- Vâng, kiếp trước ta là chị em với nàng. Nhưng hồi đó nàng còn nhỏ tuổi lắm, nàng không thể nhớ nổi ta đâu. Ta là công chúa Đào Hoa, con vua Lê Anh Tông.

- Vậy sao… lâu nay em chẳng bao giờ gặp chị?

- Ta có còn được sống ở trên đời nữa đâu mà nàng gặp được ta. Nhưng linh hồn ta vẫn quấn quýt bên nàng đấy.

- Tại sao chị trẻ đẹp thế này mà phải chết?

- Không, ta không chết. Ta đã thoát nợ trần gian. Cái trần gian ta sống ấy là địa ngục. Vua cha làm vua, nhưng là bù nhìn để anh em nhà họ Trịnh nó giày xéo lên đất đai, giòng giống của các tiên đế. Nó còn giày đạp lên cả tấm thân ngà ngọc, kiễu diễm của con gái đức vua, bức bách ta đến cái chết.

- Sao lại đến nỗi thế? Em không hiểu được.

- Em làm sao mà hiểu nổi lũ người đầy thú tính, lại huyênh hoang đạo đức giả ấy. Ta là con vua có nhan sắc tuyệt vời. Tuổi mười lăm, ta giỏi cầm , kỳ, thi họa, do mẹ dạy cho. Mẹ ta gẩy đàn nguyệt dưới trăng khuya và dạy ta hát:” Tay cầm đàn nguyệt xênh xang. Muôn hàng thảo mộc lai hàng tay ta”. Một ngày kia, tiếng hát ấy lọt vào tai chúa Trịnh. Mỗi lần đi đánh trận về, chúa lại vào cung vua báo công và bắt vua cha phải đưa ta ra gẩy đàn và hát cho chúa nghe. Vua thưởng công chúa, bằng tiếng hát ngọt ngào, êm dịu của ta. Chúa mê tiếng hát và sắc đẹp của ta đến điên cuồng.

Ta biết chúa là một tên đồ tể say máu người và say cả sắc đẹp của đàn bà. Bao nhiêu thôn nữ trắng trong, trinh tiết của các làng quê đã bị hắn làm nhục rồi bỏ rơi họ. Ta mấy lần xin đức vua thôi không hát hầu chúa nữa. Vua nói:” Nhà chúa đang giúp ta lấy lại kinh thành Thăng Long, giữ ngôi vua cho ta, không lẽ ta chối từ ý thích của chúa. Con hãy làm vui lòng chúa”. Ta như ngậm bồ hòn, đắng cay tràn ra tiếng hát, càng làm cho mặt sắt ngơ ngẩn, đắm say. Chúa say mặt hoa da phấn tươi trẻ, nhưng chúa cũng say cả vẻ u sầu, đẫm lệ của ta. Chúa cầu hôn, đòi cưới ta làm vợ. Ta sợ hãi chối từ. Chúa ép vua cha gả con cho chúa. Ôi! Vua cha yếu hèn mà mộng đế vương lại vô cùng lớn, nên cam tâm cúi đầu vâng lời hắn như một tên nô lệ ngoan ngoãn. Vua hỏi ta:” Con có vì ta mà vâng lệnh hay không? Chúa nắm trong tay mọi quyền bính, số phận cha con ta trong tay nhà chúa.” Ta trả lời:”- Trăm lạy vua cha, con thà chịu mắc tội với cha, con không thể để chúa chạm đến thân mình con. Con sợ cái thân hình quỉ vương của chúa lắm”. Vua cha vừa giận ta, lại vừa buồn. Vua cứ để cho chúa tự do đi lại trong cấm thành. Rồi một hôm, chúa cưỡng bức ta. Ta không chống cự nổi. Tiếng kêu của ta tắc nghẹn dưới cái thân xác to đầy thịt, đầy máu đó… Ta bị chúa làm ô nhục. Ta uất ức đến hóa câm. Từ đó chúa không vào cấm thành nghe ta hát nữa. Nhưng, cái thai trong bụng ta cứ lớn dần. Nó quẫy đạp. Nó điên cuồng lồng lộn trong tấm thân ta. Ta cứ ngỡ nó là quỉ con, con của quỉ, ngự trong mình ta, mà hoảng hốt từng ngày. Vua cha biết chuyện ta hoang thai. Cung đình biết chuyện con vua hoang thai. Chuyện tầy đình. Đức vua xỉ nhục ta và hậm hực căm thù tên bạo chúa dâm ô. Hoàng phi, cung nữ thỏa lòng ghen ghét, xấn sổ bủa vây ta bằng những ngôn từ độc ác và những lời giả vờ đạo đức. Có kẻ tâu với vua cha:”- Phải đem công chúa ra gọt đầu bôi vôi, làm gương giáo dục cho xã tắc”. Có bà hoàng phi giở giọng giả trá, xảo quyệt, đến bên ta lời lẽ ngọt nhạt mà rằng:”- Tôi thương công chúa quá. Ai lại khôn ba năm dại một giờ. Công chúa hãy nói thật đi. Công chúa ăn nằm với ai? Cứ nói thật ra đi, tôi sẽ tâu vua, cưới người đó làm chồng, để cho công chúa thỏa lòng mãn nguyện”. Bà cô già trong họ thì tru tréo lên: ”- Tôi không ngờ cô lại đổ đốn ra như thế. Cô làm mất mặt cả hoàng gia. Cô biến khỏi cung đình cho chúng tôi nhờ”. Chỉ có mẹ tôi là không nói gì. Bà nhìn tôi nước mắt chứa chan. Bà hiểu thân phận đàn bà, không có quyền sống tự do, hạnh phúc. Cả đời bà không biết đến hai chữ tình yêu. Một đêm giông tố, bà cựa quậy trong tay đức vua, mặt bịt khăn kín mít. Chín tháng mười ngày, bà sinh ra ta…lại là con gái. Thế là từ đó vua chẳng bao giờ vời tới bà. Bị ghẻ lạnh trong cung phòng tăm tối, bà tưởng không ai còn nhắc tới mình nữa. Bà suốt ngày ngồi lỳ trong bóng tối cầu kinh, niệm Phật. Nay con gái bà hoang thai, cả cung đình đổ xô, té tát vào mặt mẹ con bà… Bà muốn sổ lồng dẫn ta ra khỏi cung cấm. Nhưng các cửa đều đóng kín. Hai mẹ con ta rơi vào đường cùng. Đêm Yên Trường, tối đen khủng khiếp. Ngày nhật thực. Mặt trời bị che lấp. Trời đất đen ngòm và lạnh giá. Ta nhảy xuống vòng hào bao quanh hoàng thành tự vẫn, để lại lời cầu xin vua cha cho ta một tấm quan tài rộng đủ chỗ cho ta và hài nhi. Ta vùng vẫy, ngạt thở dần và chìm xuống. Còn cái thai, vẫn giãy đạp liên tục trong bụng ta, vài ngày sau mới chịu chết theo ta…

Sau cái chết của ta, vua cha ân hận lắm. Ngài lập đàn và thâu đêm khấn nguyện:

- Con gái tiết trinh trong trắng của ta, xin trời đất, chư Phật mười phương rủ lòng thương xót cho con mau chóng được hoài thai làm người. Làm con vua tủi phận thế, kiếp sau nếu được đầu thai, con cứ vào nhà dân thường cũng được, nhà dân nghèo có khi còn quí hơn cung vua, phủ chúa, nhưng cũng phải phòng xa với những thói nhỏ nhen, những trò dâm bạo, bạc bẽo ở mọi chỗ, mọi nơi… Nay linh hồn ta lìa khỏi xác, nhưng hồn sẽ trở lại báo thù họ Trịnh. Ta có lời nguyền rằng oan này thù hận còn lâu, ta sẽ báo oán đến hết đời nhà Trịnh, anh em, cha con chém giết lẫn nhau mà diệt vong cả dòng họ… Đêm nay, ta hiện lên gặp nàng kể mối hận này, để nhắc nàng hãy tránh xa họ Trịnh. Bọn khát máu làm vua, đã cưỡng hiếp cả triều đình và dòng giống , một thân nàng có xá gì với họ. Tại sao nàng dám để viên tướng họ Trịnh vào biệt cung của nàng? Ai sẽ bảo vệ nàng nếu hắn giở trò cuồng bạo?...

Linh ảnh nói xong, cứ lượn đi, lượn lại bên cạnh Mai Hoa, cái bóng trắng chập chờn, tóc xõa tung như chộp lấy tấm thân nàng. Rồi cái bào thai bốn tháng ngụp lặn trong nước, ngạt thở dần… trôi lơ lửng cùng linh ảnh công chúa Đào Hoa…

Công chúa Mai Hoa toát mồ hôi, khó thở, bị bóng đè, nàng ú ớ kêu lên, tiếng kêu tắc nghẹn:” Cứu tôi với, có ai không? Cứu tôi với…” Thùy Dung nghe tiếng kêu mê man, vội vàng thức giấc chạy vào giường lay gọi:

- Công chúa tỉnh lại đi. Có Thùy Dung đây. Công chúa, công chúa ơi! Nàng ngủ mê đó mà.

- Ta mơ ngủ à? Ta mơ thấy ác mộng. Chị Đào Hoa của ta trở về báo mộng chẳng lành. Ta sợ lắm Thùy Dung ơi! Liệu em có cứu nổi ta không?

- Giấc mơ là không phải sự thật diễn ra với mình, công chúa đã biết mình mơ rồi thì còn có gì mà sợ nữa. Tỉnh dậy đi công chúa ơi! Em lấy rượu ngâm củ gừng xoa mình cho công chúa ấm lại nhé.

- Ừ, mà em hãy đốt trầm lên cho thơm ấm cả gian nhà.

Thùy Dung mơn man xoa rượu gừng lên má, lên khuôn mặt trái xoan mịn màng của công chúa. Nàng còn xoa khắp thân mình cô. Bàn tay nhỏ ấm áp làm sao, da thịt nõn nà của công chúa ấm dần, ấm dần, cảm giác khoan khoái lâng lâng, an bình , thánh thiện. Công chúa thầm thì:

- Hai chúng ta cứ sống với nhau như thế này mãi mãi Dung nhé. Ta chẳng nghĩ đến chuyện lấy chồng đâu.

- Không, công chúa xinh đẹp lại là con nhà cành vàng lá ngọc, sẽ có người đàn ông xứng đáng cưới công chúa về làm vợ. Công chúa sẽ sinh ra một chàng trai tuấn tú, anh minh của Đại Việt.

- Ta không tìm gặp được ai xứng với tình yêu của ta đâu em ạ. Em biết đấy, mỗi đêm hàng trăm thủ cấp bị chém, máu loang khắp mặt sông. Bao nhiêu chàng trai khỏe mạnh, thông minh, tốt đẹp đã ra đi và ngã xuống. Còn có ai để ta chọn làm chồng? Ta mơ sống với một người biết yêu thương ta, người đó phải thông minh, đẹp trai, mạnh khỏe, người đó là dân thường nhưng hiền hòa, nhân đức, không ham hố bạc vàng, quyền lực mà quên tình nghĩa, người đó có khả năng bảo vệ ta, chăm sóc ta, tôn trọng ta và biết cả vuốt ve, ân ái với suối tình trong sạch, không bao giờ vơi cạn…

- Rồi công chúa sẽ gặp một chàng trai như thế. Em kể cho công chúa nghe chuyện Chử Đồng Tử và Tiên Dung nhé.

- Em kể đi. Ta không ngủ được nữa. Gà gáy canh ba rồi. Trời sắp sáng.

- Ngày xửa ngày xưa, đời vua Hùng thứ mười tám, có cô công chúa tên là Tiên Dung. Nàng xinh đẹp như bông hoa mẫu đơn nơi rừng già Phong Châu. Đến tuổi cập kê, nhiều viên quan, tướng lĩnh cúi mình cầu hôn. Nàng chối từ. Nàng thích giao du, ngắm cảnh non sông cẩm tú bằng thuyền. Một hôm đoàn thuyền của nàng đi qua sông Cái, đến bãi cát vàng rất đẹp làng Chử Xá, nàng cho dừng thuyền và lên bãi quây màn tắm. Nàng khỏa thân, dội những gáo nước trắng trong lên mình. Nàng uốn lưng ong vờn múa cùng nước, mỉm cười tự ngắm cặp tuyết lê tròn thơm như trái chín của mình. Nàng dội nước ào ào. Bỗng cát dưới chân nàng chuyển động, lộ ra một chàng trai khỏe mạnh, khỏa thân, các bắp thịt màu nâu rắn chắc… Chàng trai đỏ mặt, chân tay lóng ngóng. Công chúa sau vài giây hoảng sợ, trấn tĩnh lại, thấy cả hai đều không một mảnh vải che thân, nàng ngượng ngùng, vội gọi thị nữ mang quần áo cho chàng và hai người bước ra khỏi màn tắm. Quan quân nhìn thấy sự lạ, ngạc nhiên và tức giận bàn tán. Tiên Dung hiểu sự thể này gây tai tiếng cho mình. Chàng trai thấy cờ quạt võng lọng của triều đình trên bên, dưới thuyền, biết mình đã mắc tội phạm thượng. Chàng quì xuống xin nhận tội và kể chuyện bi thảm của đời mình: “ Tôi tên là Chử Đồng Tử, con nhà dân chài trong xóm. Mẹ tôi mất sớm, cha con tôi lần hồi kiếm cá bên sông, bữa no, bữa đói. Hai cha con chỉ có một cái khố. Cha tôi ốm nặng, phút hấp hối, ông dặn:” Con hãy chôn cha mình trần, để chiếc khố này cho con mặc”. Tôi thương cha không dám làm thế, nên lúc nào cũng ở trần. Không một mảnh vải che thân. Tôi ngâm mình dưới nước đánh dậm. Thấy đoàn thuyền của công chúa đi qua, tôi trốn chạy và vùi mình dưới cát. Chẳng may, công chúa quây màn tắm đúng vào chỗ tôi vùi thân trốn mọi người”. Công chúa và mọi người nghe chuyện rất cảm động. Tiên Dung thương chàng trai nghèo khổ, chăm chỉ, thông minh, có hiếu và thân hình chàng trẻ đẹp, khỏe khoắn, quyến rũ biết bao. Nàng cũng nhận thấy tình cảnh này thật nguy cho tính mạng của Chử Đồng Tử, vua cha sẽ ra lệnh chém đầu chàng. Nàng phải lấy chàng làm chồng để cứu chàng thoát chết. Nàng nói với các viên tướng và mọi người dưới thuyền:” Đây là duyên trời định. Ta sẽ làm lễ kết duyên với chàng ngay lúc này”. Quan quân, thị nữ, thái giám tái mặt kêu:” Đức vua sẽ chẳng dung tha Chử Đồng Tử- Tiên Dung”… Nhà vua nghe tin, đùng đùng nổi giận, ra lệnh cấm không cho Tiên Dung trở về kinh đô Phong Châu. Hai vợ chồng ngửa mặt lên trời khấn lạy phụ vương và lên bờ dạy dân làm ăn sinh sống. Nơi họ ở cuộc sống phong lưu, trên bến, dưới thuyền, dân chúng no đủ, yên vui, tôn Chử Đồng Tử- Tiên Dung lên làm chúa. Vua nghe tin, kết tội hai vợ chồng họ phản nghịch, cất quân đi đánh. Họ đành chạy trốn. Đi đến đâu, họ cũng giúp dân xây dựng cơ nghiệp phồn thịnh. Quan quân triều đình đuổi theo họ để tiêu diệt. Lần thứ ba trốn chạy, họ định cư ở vùng Nam Giới, trên đỉnh núi có ngôi chùa Phật do thiền sư Nhật Quang trụ trì. Chử Đồng Tử lên núi gặp thiền sư, kể hết sự tình. Sư Nhật Quang nghe chuyện, biết chàng là hiện thân của bồ tát, từ bi và trí tuệ, trầm ngâm một hồi lâu rồi nói:” Cuộc đời này, làm sao tránh khỏi thói ghen ghét của những kẻ lòng dạ hẹp hòi, muốn tranh giành công sức, tài năng, thành quả lao động của người lành. Con là người chân thật, đại lượng, từ bi, ta khuyên con hãy theo con đường tu hành. Sau này đắc đạo, con sẽ giúp đời, giúp nhiều người bỏ bớt tham, sân, si, sống đời bác ái, bình an.” Chử Đồng Tử đồng ý học đạo. Thiền sư truyền dạy chàng nhiều pháp lý và phép thuật. Hai vợ chồng xây dựng cuộc sống yên vui, không được bao lâu, vua lại cất quân đến đánh. Thiền sư cho họ một cây gậy và một chiếc nón làm vật tùy thân. Họ đi khắp nơi trong trời đất cùng vật thiêng. Đến một vùng lau sậy hoang vu, họ lại lập nghiệp, dân chúng đông vui, tôn thờ họ hơn cả vua. Nhà vua tức giận gọi họ là hai kẻ loạn tặc và đang đêm lính vây kín ngôi nhà của họ. Chử Đồng Tử- Tiên Dung khấn nguyện trời Phật. Bỗng giông tố nổi lên, cuốn hai vợ chồng họ lên trời, cuốn theo cả vàng bạc, lâu đài… Mưa trút nước xuống, cả một vùng xanh tươi, trù phú biến thành đầm nước hoang vu…

Công chúa Mai Hoa tỉnh lại cùng câu chuyện huyền thoại kể trong tiếng gà báo sáng râm ran. Nàng cầm tay Thùy Dung âu yếm:

- Cảm ơn em đã kể cho ta nghe một giấc mơ lành. Dù sao đây vẫn chỉ là mơ, em nhỉ?

- Vâng, thưa công chúa, đúng là một giấc mơ đẹp, để xua tan ác mộng. Bà em dạy khi ta nghĩ điều lành thì điều lành sẽ đến. Dân gian cũng có câu: “ Ghét của nào, trời trao của ấy”. Khi công chúa kinh hãi một điều gì, hay ghét một ai đó đã hại mình, công chúa sẽ rất mệt mỏi, bực bội, lo âu, chi bằng quên quách những thứ độc hại ấy đi. Mình càng nghĩ đến nó, nó càng bám lấy mình, ám ảnh mình đến khổ sở. Công chúa Mai Hoa thầm ngợi ca con bé, sao nó nghĩ được khôn như vậy nhỉ? Chắc nó khổ nhiều nên mới biết suy tư, trải nghiệm. Còn ta, đôi khi ta quá nghĩ về khuôn vàng thước ngọc mà chưa lắng nghe chính trái tim mình chìm trong những cơn lốc xoáy tròn, xô dạt trời chiều giữa rừng xơ xác lá cây khô cháy, dệt nên bờ bến cuộc đời bãi bể nương dâu…

... CÒN TIẾP ...

© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 30.11.2009.

TÁC PHẨM CỦA MAI THỤC CHỈ PHỔ BIẾN
DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART Ở HẢI NGOẠI