HÉLÈNE THỊ BÁU
Đó là người Việt-Nam đầu tiên mà chúng tôi gặp nếu không kể đến những kẻ đồng hội đồng thuyền. Quê bà Báu ở Hà đông, rất gần Hà Nội. Vào tuổi dậy thì đúng lúc đoàn quân viễn chinh Pháp kéo nhau trở lại nửa phía bǎ́c của đất nước, bà Báu bèn "phải lòng" một ông đại úy Pháp (Ông ấy đóng lon quan ba cơ đấy, cậu ạ -bà mách chúng tôi). Số ngữ vựng mà bà Báu sử dụng thuộc thời kỳ tiền khởi nghĩa; người ta có thể tìm thấy chúng trong Bỉ vỏ Nguyên Hồng, Làm đĩ Vũ trọng Phụng hay Tǎ́t đèn Ngô tất Tố. Tôi chǎ́c không phải đến khi qua Tây bà mới bị cǎ́t cụt nguồn ngôn ngữ Việt; bà bị cǎ́t cụt sớm hơn nhiều, có lẽ bởi vạn lý do trong ấy tất phải có lý do là bà phải lòng ông Dupuis ( phải cố gǎ́ng để chia véc-bờ với ông ấy chứ!). Dù cổ lỗ, lối diễn đạt tiếng mẹ của bà khá thông suốt, chǎ̉ng những thông suốt mà còn màu mè, đậm đà ra phết. Nhà tôi vì trẻ hơn tôi nhiều nên thường gặp khó khǎn khi nghe bà nói -nếu không phải là khó khǎn thì ít ra cũng ngạc nhiên. Chǎ̉ng hạn bà bảo: "Cái lão đội xếp ngó vậy chứ nó giǎng-ti lǎ́m đấy, sáng nào đi qua nó cũng vào chào tôi".., nhà tôi nhíu mày vì lối nói pha nửa ta nửa tây và lối phát âm Pháp ngữ của bà đã đành, nàng cũng chǎ̉ng hiểu tại sao bà gọi anh lính cảnh sát bǎ̀ng đội xếp. Bà kể chuyện: "Hôm qua khách vào đông ơi là đông; mợ biết không, tôi chạy cứ như cờ ông công ấy". Chǎ̉ng biết cờ ông công là cờ gì, phải chǎng đó là những lá cờ đuôi nheo trong ngày hội làng miền bǎ́c? Sự ví von thật khéo: kẻ hấp tấp ngược xuôi khiến quần áo bay như cờ trước gió. Những từ ngữ gãy gọn, khô khan, chính xác chỉ đủ để diễn tả một trạng thái, một sự việc thật, nhưng nếu thêm một tí mǎ́m muối của thành ngữ, của thổ âm, ta nghe ra mặn mòi, bồi hồi làm sao! Thật đáng cảm động cho tấm lòng luyến quê của một kẻ đã lìa nơi chôn nhau cǎ́t rốn tự những ba bốn mươi nǎm trời. Trong chiếc va-ly ra đi ngày ấy, quần áo vật dụng chǎ́c bà Báu chǎ̉ng còn giữ lại được gì, vậy mà tiếng mẹ bà vẫn ôm ấp, những tiếng lóng, những thành ngữ tự cái làng nhỏ ở chốn Hà đông xa xôi kia. Đã vậy, thời kỳ bà bỏ quê hương đến đây, nước Pháp có được bao nhiêu khuôn mặt da vàng mủi tẹt? Cơ hội nào cho bà thi thố vǎn chương bình dân ấy? Một hôm, đã quá mười giờ đêm mà ông khách nọ còn “gọi giây nói” đến đặt phần ǎn, đó là một luật sư quen nhưng tôi vẫn hỏi ý bà xem bà có chịu nhận không. Bà nguýt dài: -Ôi cái thǎ̀ng cha ấy hấp lìm lǎ́m, cậu bảo mình sǎ́p đóng cửa rồi để nó đừng dẫn xác đến nữa. Đến ngay cả tôi lần này cũng không hiểu ra cái từ hấp lìm của bà ý nghĩa thế nào. Muốn tìm hiểu chǎ̉ng biết nhờ vào đâu. Ở các nước vǎn minh, ngoài cuốn tự điển thông dụng, có kẻ còn soạn những cuốn tự điển về tiếng lóng, những thổ ngữ của từng vùng, những danh từ đặc biệt của từng loại nghề nghiệp khác nhau, trong khi mình chỉ có vỏn vẹn một cuốn tự điển Việt-Nam của mấy vị họ Đào, trong ấy nhất thiết không ghi những tiếng mà người ta coi là tục, những từ thông dụng của giới bình dân.
Không biết trong trường hợp nào bà gặp được ông Dupuis, đó là điều khá mờ mịt. Tiểu sử của những kẻ di cư thường được hiệu đính bởi chính đương sự. Cũng công bình thôi! Chúng ta ra đi, bỏ gia đình bỏ làng xóm bỏ quê hương, bỏ cả quá khứ, tại sao ta không có quyền viết lại một quá khứ mới khi quá khứ cũ kém phần huy hoàng? Điều tôi vừa nói không nhǎ̀m vào bà Báu mà là một nhận xét chung chung (không biết chừng ngay chính cả tôi cũng có lúc vǎng-tê về một quá khứ tưởng tượng của mình nữa!); vả lại tôi nỡ nào nói xấu bà khi bà là người đồng bào đầu tiên ra tay cứu độ chúng tôi!
Bà bảo bà mê ông (bà hơi khiêm tốn đấy!), nhưng nhìn bức ảnh hai ông bà chụp trong ngày cưới, thủa bà còn xuân xanh, khuôn mặt trái xoan với đôi mǎ́t lá rǎm nấp sau hàng mi cong thì chưa chǎ́c là ông dửng dưng chờ bà phải lòng mà không cần động đến ngón tay. Bà họ Phùng, Phùng thị Báu; lấy ông Dupuis, ông tặng cho bà tên Tây là Hélène. Trong giấy tờ, bà là Hélène Thị Báu Dupuis. (Họ Phùng của bà bị ném mất theo phong tục nhà người : lấy chồng thì mang họ chồng, họ chứ không phải tên chồng!) Bởi tiếng Tây chǎ̉ng có dấu nặng dấu sǎ́c, một buổi đẹp trời có anh công chức thông minh, mẫn cán và nhiều sáng kiến khi nhìn thấy tên bà được viết thành hai “mô”rời nhau như vậy bèn rất lấy làm không bǎ̀ng lòng. Anh ta ghép hai Thị Báu thành một Thibau và đẩy lối suy nghĩ “lô-gích” của anh đi xa hơn nữa rǎ̀ng đã là Thibau tất phải có chữ D hoặc LT đàng sau mới đúng kiểu. Kể từ đó bà Báu trở thành Hélène Thibaud. Quá mệt mỏi vì phải chầu chực cửa quyền để giành lại cho được cái tên cúng cơm ngày cũ, bà đành chấp nhận tên mới của mình, Nhưng không phải dễ sống vậy đâu. Nghề bàn giấy xứ nào cũng vậy, người công chức dù trǎ́ng hay đen, vàng hay đỏ, dù ở chế độ quan liêu độc tài hay trong hoàn cảnh gọi là dân làm chủ đều kênh kiệu- chểnh mãng -huênh hoang -hoạnh họe -đe nạt -quyền thế như nhau. Họ có quyền nhầm lẫn nhưng bà thì không, cho nên một lần khác bà lại phải chứng minh rǎ̀ng họ hàng nhà Thibaud từ đâu mà ra. Bổng không người ta gán cho bà cái tên ấy chứ bà có xin xỏ gì đâu. Thế nhưng tội cầm nhầm vẫn cứ là tội! Ấy, trǎm cái dại không có cái dại nào giống cái dại nào! Đành phải trả tiền cho luật sư chạy ngược chạy xuôi tòa tiếc hàng chục bận mới đòi lại được tên Mít xưa. Ném đi rồi mua lại, bà vừa tốn sức, vừa tốn thì giờ, vừa tốn tiền bạc.
Tôi không rõ cái sáng kiến tổ chức tiệm ǎn nảy sinh từ đâu mà mọi người Việt-Nam đến xứ người, ngoại trừ các vị khoa bảng, trǎm người như một, nếu chǎ̉ng chịu đi làm thuê thì nhất định phải mở quán ǎn làm kế sinh nhai. Bà Báu không thoát thông lệ đó. Thông lệ? Chửa chǎ́c! Xét thời điểm đi Tây của bà, bà phải được coi là một trong những kẻ tiên phong làm rạng rỡ cho nghề nghiệp hơn là những kẻ đi sau chỉ biết thừa thǎ́ng xông lên. Tôi dám bạo gan khǎ̉ng quyết điều đó vì đa số người Việt đến đất Pháp sau biến cố Điện biên phủ là người miền Bǎ́c, bởi lúc đó dân Nam đang còn điềm nhiên rung đùi với những Nguyễn vǎn Hinh, Trần vǎn Hữu cơ mà. Còn một chứng cớ khác nữa dính líu đến một món ǎn và tên gọi của nó, cũng nói lên được rǎ̀ng đám di cư Điện biên phủ có thể là những vị tiền hô của nghề làm bếp Việt trên xứ người. Cái món gọi là nem ấy mà. Nếu ta đặt câu hỏi “nem là món gì và làm nem như thế nào” với một người Việt-Nam thì ta sẽ có những giải đáp hoàn toàn khác nhau tùy từng miền. Với người bǎ́c, người ta sẽ bảo bạn: Ấy, nem có nghĩa là nem rán (phát âm: zál); bạn nhúng bánh đa cho mềm, đặt vào đấy một con tôm một thỏi thịt lợn thái con cờ, gói lại rồi cho vào chảo mỡ, rán vàng. Với người trung bạn nhận câu trả lời ấm ớ: Nem là... nem chua; thịt heo giả nhỏ trộn với một ít da cǎ́t mỏng... Bạn gạt ngang, cải chính và giải thích về món ǎn mà bạn muốn đề cập thì kẻ đối diện cười xòa: Dạ không, món nớ ở đây kêu là ram... Lập lại câu hỏi với người nam, anh nam cũng không biết nốt. Anh ta có món ǎn tương tự nhưng màu mè hơn, gọi là chả giò. Bạn muốn cho tôm hay cho thịt vào tùy ý bạn, bạn bỏ cả trứng tráng vào càng ngon, nhưng phải có giá, có nấm mèo, tất cả được cuốn gọn trong bánh tráng nhúng mềm và chiên vàng. Kết luận, chữ nem gọn trơn đó không tượng trưng cho món ǎn Việt-Nam nào cả. Tệ hơn nữa, nó được Tây hóa đến độ đàng sau có chữ S, cho hợp với số nhiều! Hình thức của nó là hình thức chả giò miên nam, tên gọi thì là tên gọi của miền bǎ́c nhưng bị cǎ́t phǎng đi một nửa, chǎ́c tại mấy ông Tây phát âm chữ rán quá khó khǎn.
Những quốc gia bề thế về phần diện tích và nhân số, lạ thay, lại chính là những quốc gia bảo thủ hơn cả (bảo thủ ngôn ngữ, bảo thủ vǎn hóa, bảo thủ phong tục...) khác với dân nhược tiểu tính nết khá ..xuề xòa, chứng cớ là người mình rất giàu tinh thần hòa hợp hòa giải. Nhìn bảng thực đơn cảa quán ǎn bá Báu thì rõ. Bà có món gọi là chop suey. Bạn có bao nhiêu cuốn tự vị trong nhà? Tự vị tiếng Tây, tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Tây ban nha, tự điển ́Hán Việt.. kể cũng đã nhiều lǎ́m nhưng chưa chǎ́c bạn tìm thấy chữ đó; mà xin đừng tìm trong cuốn tự điển Việt-Nam của cụ Đào duy Anh, không có chữ giả cầy đó đâu vì chǎ́c chǎ́n đó là hoa ngữ được phiên âm (Tin giờ chót: tiếng đó, kỳ diệu thay, thấy có ghi trong Larousse lẫn trong Webster. Tôi xin lỗi bạn đọc vì đã dám cả gan nói liều. Tất cả nhờ cô con gái út của tôi, cô ấy rất cứng đầu khi nghe tôi bảo chop suey không thể được dân Tây phương du nhập dễ dàng vào xứ họ đến độ ghi vào tự điển thì cô ta chǎ̉ng nói chǎ̉ng rǎ̀ng, kéo các cuốn tự điển nước ngoài xuống, tìm vần C và ...dí vào mũi tôi! –ghi chú của người viết hơn mười nǎm sau) Chop là tiếng đọc trại đi của thập, thập không chỉ là mười trong nghĩa rộng mà là nhiều, có thể so sánh với tiếp đầu ngữ multi, thí dụ như thập phương, thập thành..; Nhưng suey thì là gì? Webster giải thích là tạp nham (rất gần với chop chứ không gần với suey!); còn Larousse thì không chịu khó phân tích như vậy, chỉ bảo đấy là món ǎn nấu bǎ̀ng nhiều loại rau với thịt gà hoặc thịt lợn thái mỏng. Tôi đoán liều: có thể là thủy chǎng? Mười thứ nước nghĩa là mười thứ rau cho ra mười khẩu vị khác nhau? Vẫn nên nhớ rǎ̀ng con số mười ở đây chỉ có tính chất ước lệ...
Hình thức thì như vậy, còn nội dung cũng có nhiều tính ...hội nhập rất đáng đề cao (đấy là theo quan điểm tây phương); riêng con dân Việt đặc biệt là những kẻ độc thân, lâu lâu chạnh lòng cố quốc muốn tìm hương vị quê hương trong cái bát đôi đũa chǎ́c phải thất vọng nhiều lǎ́m. Có những lý do khác nhau: lý do thứ nhất như tôi đã nêu trên đây, là vì muốn hợp khẩu vị tây phương, bà con mình bèn pha trộn mǎ́m muối ít đi và cho thêm nhiều đường vào cùng một lúc hy sinh phần cay chua thành ra chǎ̉ng còn ra thể thống gì nữa. Tôi nghe nói rǎ̀ng ở Hòa Lan người ta còn dùng bánh tráng làm bǎ̀ng bột mì để cuốn chả giò nữa. Như thế thì tam sao thất bổn thật! Lý do thứ hai cũng là điều mà tôi đã đề cập đến ở đâu đó rồi, rǎ̀ng vì có khá nhiều kẻ hành nghề nhảy dù (tôi không dám quơ đũa cả nǎ́m đâu bà con) nên việc mǎ́m muối cũng có phần thiếu bài bản. Kết quả chúng ta có món bún bò Huế mà người Huế phải tròn mǎ́t ngạc nhiên, món cá kho tộ mà dân Nam lǎ́c đầu phủ nhận, món phở gầu phở tái mà anh Bǎ́c kỳ chạy xa lẫn trốn vì không đủ can đảm nếm thử. Bạn sẽ nhận ra rǎ̀ng nhờ thực khách thuộc nhiều thành phần khác nhau vì vậy mà nhà bếp kém ở đây không hề bị sập tiệm. Phải chǎng nhờ vậy mà món ǎn Á châu cứ sống mạnh sống hùng trên xứ nẫu? Chỉ bởi một nghịch lý là hể con nhà Mít tránh xa thì khẩu vị Tây phương lại chấp nhận dễ hơn vì ít cay, ít chua, bớt mặn, bớt ..hôi. Món ǎn nào mà giữ được nhiều dân tộc tính thì bao giờ cũng nặng mùi. Cứ nhìn món phó-mách của Tây, món cá ..kèo trong pít-gia của Ý thì hiểu. Suy ra khẩu vị của chúng ta đòi hỏi rất nhiều cường điệu và điều ta cho là độc đáo bao giờ cũng cần phải nặng tay cả.
Nhờ tinh thần tương thân tương trợ (và tình tự dân tộc nữa!) của bà Báu, chúng tôi bèn đặt đại bản doanh tại miền Địa trung hải, từ đó tung quân ra lấn chiếm. Hai đứa con lớn vào tư thục do các nữ tu Thiên chúa giáo điểu khiển và đứa bé vào crèche do tòa thị chính tổ chức. Chúng sẽ là những nhánh phụ, những rễ con bám vào đất mới chuẩn bị nẩy lộc đâm chồi mai sau. Trẻ con chúng cần gì quen lạ, chúng kể đâu dị đồng; chúng hồn nhiên đón rước, hồn nhiên tiếp nhận. Và tôi kẻ hòa nhập khó khǎn nhất đã phải trông chờ dựa dẫm vào vợ con, bởi dù cố gǎ́ng đến thế nào đi nữa tôi vẫn thấy mình trơ trọi, tưởng chừng như mình là khách vừa đến (ngay trong gia đình mình), cảm nhận những loay hoay xoay trở khó khǎn và tự an ủi rǎ̀ng chịu đựng một lúc rồi sẽ qua. Làm sao được? Tôi quên ư? Tôi phải đời đời ở chốn này không còn có cơ trở lại quê hương. Cho nên thất vọng quá thì tôi đành trông chờ nơi những kẻ yếu ớt hơn mình nhỏ bé dại khờ hơn mình hơn mình, để ...chống chọi với nǎm mươi lǎm triệu người Pháp xa lạ và cố gǎ́ng cựa quậy trên mảnh đất hình lục giác này, giành giật từng ngày để có cơm áo, thuốc men, cửa nhà và vạch con đường đi mai sau cho ba đứa trẻ.
... CÒN TIẾP ...