Chương 6


Giọng nói ấm áp du dương của Cevallos theo công chúa Mai Hoa vào giấc ngủ. Nàng mơ có người đàn ông dắt nàng đi qua đáy đại dương, đến một bến bờ xa lạ. Nàng bay dưới đáy biển xanh thẫm biếc với những mảng sáng thần kỳ của các đảo san hô nở muôn hình khối, màu trắng tinh khôi. Nàng lướt nhẹ nhàng như có bàn tay ai nâng nụ, nâng hoa, qua những dải đá ngầm, mỗi đoạn khe nứt của nó là những thung lũng hẹp dài, màu đỏ như lớp dung nham nóng trào lên, mà hồn nàng mát rượi. Từng đàn cá nhỏ xinh uốn lượn bên nàng, tỏa màu vàng rực, đỏ thắm, xanh lá cây, tím hoa cà, như vườn hoa chuyển động… Một dãy núi cao màu lam chắn trước mặt, bàn tay chàng trai kéo nàng vượt lên, sang bờ bên kia đại dương…

Hôm sau, nàng bâng khuâng kể lại giấc mơ đẹp đó cho Thùy Dung nghe:

-Lần đầu tiên trong đời ta mơ một chuyến đi xa như vậy. Ta đi qua đáy đại dương một cách thần kỳ. Một chàng trai đã dắt ta đi qua biển lớn trong cảm giác an bình chưa từng có. Chàng là thánh thần xuất hiện hay đó là một điềm lành báo mộng sẽ có một người đàn ông xứng đáng để ta chọn làm đức lang quân em nhỉ?

Thùy Dung ngắm gương mặt tươi như nụ hồng còn ngậm sương mai của công chúa, nhí nhảnh đùa:

-Nhất định nay mai, người đàn ông trong mộng ấy sẽ trở lại đón công chúa lên xe hoa, con sẽ theo công chúa về nhà chồng, con không thể sống xa công chúa.

-Ta đã lấy chồng đâu mà em nghĩ chuyện phải xa ta, thôi trưa rồi, hãy đun nước thơm cho ta gội đầu.

Thùy Dung chạy ra vườn hái lá xả, hương nhu, đốt lò nướng bồ kết, đun nước. Công chúa xõa làn tóc đen nhánh chảy dài hai bờ vai trần trắng muốt, nước nóng thơm hương vườn mơn man chảy qua kẽ tay nàng, thấm ướt mái tóc dài óng chuốt.

Cha cố và Santa vào trong sân, sững sờ trước cảnh tượng nàng công chúa Đại Việt uốn mình trong suối tóc thơm hơi nước cây lá, họ muốn qùi xuống cạnh nàng như một chàng hiệp sĩ đi trong rừng bỗng gặp nữ thần với vẻ đẹp giản dị và duyên dáng. Cevallos muốn đọc to cho nàng nghe thấu những vần thơ” Tôi yêu hoa hồng bằng tình yêu của tôi./ Tôi tưới hoa hồng bằng nước mắt, mồ hôi./ Và hoa nở người hái hoa, ôi thượng đế./ Sao là ai mà không là tôi?.”

Trong ngôi nhà thơm khói hương trầm, công chúa ngập ngừng nhớ lại giấc mơ đêm qua, hai má nàng ửng đỏ sắc hoa hồng. Nàng khẽ gợi chuyện cha cố:

-Thưa ngài, tôi thật không thể hình dung được ngài đã đi qua bao nhiêu biển lớn để tới đây? Tôi muốn biến thành cánh chim bay trên bầu trời cao xanh kia để nhìn thấy tàu của ngài đi như thế nào trên biển.

-Ôi! Công chúa nghĩ phóng khoáng quá, rồi nàng sẽ bay lên các tầng trời để nhìn thấy địa cầu. Tôi bắt đầu kể cho nàng nghe đây, câu chuyện khám phá trái đất và đại dương của con người…

Cevallos nhìn sang Santa, giọng chàng vang lên dịu dàng, chậm rãi. Công chúa thích nghe những âm thanh vang ấm ngọt ngào từ đôi môi cha cố và chăm chú nghe cả những lời Santa dịch:

-Người thủy thủ tài giỏi đầu tiên của Châu Âu muốn đi đến Trung Quốc và Ấn Độ bằng đường biển là Christophe Colomb( 1450-1506). Để đến được những nước giàu có ấy bằng đường bộ, người ta phải vượt qua những lục địa rất rộng, đường đi dài và gay go, lúc nào cũng phải đi theo hướng Đông. Colomb sinh ở thành phố Jesus nước Italia, nhưng từ thuở nhỏ vẫn sống ở Bồ Đào Nha và đã tham gia nhiều cuộc viễn du lớn của người đi biển nước này. Ba mươi lăm tuổi ông là thủy thủ nổi tiếng. Colomb và nhiều người tin rằng trái đất hình cầu, nên đã quyết định rằng nếu cứ luôn luôn đi theo hướng Tây bằng đường biển, thì cũng có thể đến được Trung Quốc và Ấn Độ. Ông chưa hề biết rằng lục địa lớn châu Mỹ sẽ chắn đường đi biển của ông. Ông cũng không hề biết để đến Trung Quốc bằng đường biển tuy có dễ hơn nhưng lại xa hơn nhiều. Người ta chưa hiểu đúng về kích thước trái đất và tưởng rằng nó bé hơn kích thước thực tế của nó. Colomb đã gặp vô vàn khó khăn trong việc tổ chức đoàn vượt biển. Những người Bồ Đào Nha không tin ở kế hoạch của ông. Ông phải sang sống ở Tây Ban Nha. Sau nhiều năm cố gắng vận động nhà vua Tây Ban Nha, ông có được ba chiếc thuyền buồm nhỏ, ngày mồng ba, tháng tám năm 1492, Colomb rời cảng Palốt để thực hành cuộc viễn du lớn. Ba chiếc thuyền” Xanta Maria” “ Ninhia” và” Pinta” chỉ có chín mươi sĩ quan và thủy thủ. Nhưng dù số lượng thủy thủ ít ỏi và quãng đường lớn phải vượt qua, không làm nhụt chí vị đô đốc gan dạ ấy. Lòng tin vào thắng lợi của ông đã được đền bù. Sau nhiều tuần lễ vượt biển xa, sóng dữ, ông đã phát hiện ra một hòn đảo thịnh vượng, dân bản xứ gọi là Gunahani. Colomb gọi là đảo San Xanvador( tiếng Tây Ban Nha nghĩa là Thánh Cứu Thế). Hai tuần sau, Colomb lại khám phá ra một hòn đảo khác lớn hơn, đảo Cuba, tiếp nữa là đảo Haiti. Ông tin chắc rằng những đảo ấy thuộc Ấn Độ và quay lại Tây Ban Nha báo tin mừng.
Nhưng chẳng bao lâu, ở châu Âu, người ta biết rằng những đảo ấy không thuộc về Ấn Độ, mà đằng sau chúng là một lục địa mênh mông chưa ai từng biết. Đó là châu Mỹ. Lục địa này không mang tên Colomb, người thám hiểm đầu tiên.( Sau này gọi là châu Mỹ, để kỷ niệm nhà du hành Amêrich Vetspusơ đã thực hiện nhiều chuyến sang châu Mỹ). Colomb đã mất vào năm 1506 trong cảnh già yếu, nghèo nàn cực khổ…

Câu chuyện ngưng lại trước cái chết âm thầm, lạnh lẽo của một người thủy thủ quả cảm, can trường, sống và hành động quyết liệt cho ước mơ, trí lớn của mình. Công chúa thở dài. Nàng nghĩ đến cái sống và cái chết của tất cả mọi người trên trần gian. Vậy ra người tóc đen hay tóc bạch kim cũng sống cực và chết khổ như nhau cả, chẳng có đức vua nào cứu nổi họ. Có điều, người da trắng họ sống và chết tự do theo hành động của họ. Nhưng ở đất nước của nàng và cả Trung Hoa nữa, người ta coi vua là Thiên tử, chăn dắt muôn dân. Họ hoàn toàn tuân phục và phó mặc sự sống và sự chết của mình cho đức vua. Sự thật, chị em nàng làm vua, chỉ là bù nhìn, không mang nổi thân mình, nói chi đến chuyện cứu dân. Còn những “vua Quỉ”, “vua Lợn” của nhà Lê, luôn mang tai họa cho dân, đẩy họ xuống địa ngục trần gian. Vậy mà dân vẫn tôn thờ vua, để cho ông ta đưa đẩy số phận mình bằng những cuộc chiến tranh giành ngôi báu. Nàng nghĩ miên man… Nàng muốn dân chúng Đại Việt phải thoát ra khỏi vòng cương tỏa của nhà vua và triều đình, tự định đoạt lấy sự sống và sự chết của chính mình. Có ai đó dám chống lại cuộc chiến tranh Lê- Mạc ghê tởm này, nàng ngầm phong họ là anh hùng dân tộc…

Thùy Dung bưng mâm chè rong câu mời khách. Công chúa nói về rong biển thành thạo như nàng từng lội bàn chân xuống đất bùn vớt nó về như các thiếu nữ trong thôn:

-Loài rong này mọc lên từ đất phèn chua mặn nơi những dòng sông cửa biển gặp nước đại dương. Dòng nước lợ sinh ra loài tảo sông, rễ từng chùm cắm xuống đất bùn, thân chia làm nhiều nhánh nhỏ vươn ra lan tỏa khắp đáy sông, người ta gọi là rong câu. Nó có một sức sống lạ thường, cứ vươn ra, vươn dài dưới bùn đất, quấn lấy nhau như dây leo, chẳng cần bàn tay ai chăm bón, đôi khi nó mọc trải rộng dưới những gốc dừa nước, để lộ đám thân màu đỏ thâm thẫm mỗi khi nước thủy triều rút. Vào những ngày hè, khi nước sông bắt đầu cạn, người dân với rổ, thúng trên tay, lội xuống sông quơ rong về rửa sạch bùn rác, phơi khô, nấu cháo, nấu chè ăn mát, nhẹ nhàng, tinh sạch, ấm bụng, như một bài thuốc bổ. Món chè này Thùy Dung làm theo kiểu quê em, cầu kỳ lắm. Rong câu khô ngâm với nước cơm cho thật trắng, bỏ vào nồi nấu nhừ, cho một ít phèn chua rồi múc ra lọc lấy nước, thêm chút nước đường và gừng cay nóng, chia ra các bát nhỏ, để nguội vài ba tiếng, nước sẽ đông lại như sương, ăn dòn mềm, mát thơm…

Cevallos không ngờ nàng công chúa cành vàng lá ngọc này lại hiểu biết đời sống dân dã sâu sắc thế. Nàng yêu những món ăn thanh tao, giản dị của người nghèo và thiên nhiên Đại Việt. Nàng tiếp đón ta bằng hương lành, vị mát của dân quê. Chưa bao giờ ta được biệt đãi sang trọng theo cách này. Cái giao đãi thân thiện của tình người cao quí. Nàng tuyệt vời cao khiết như nữ thánh. Nàng sinh ra từ bông hồng thanh sạch. Gương mặt nàng hiền như ánh trăng mỉm cười im lặng. Ta hạnh phúc biết bao những phút giây này. Thời gian ơi! Hãy ghi vào ký ức thẳm sâu, tiếng chim hót và vườn cây xanh cành lá, tiếng nói của nàng và hương ấm trầm thơm.

Chương 7


Chiều lại chiều. Những chiều trong ngôi nhà thơm hương trầm của miền rừng nhiệt đới, Cevallos cùng Santa đưa công chúa Đại Việt viễn du cùng thế giới của họ. Ngoài xa, sông Lam vẫn cuộn lên màu đỏ.

Công chúa hong tóc dưới nắng vàng. Mỗi chiều khi cha cố xuất hiện, gương mặt nàng trở lại tươi sáng màu mây trắng. Hồn nàng bay lên các tầng trời theo giọng nói du dương của đức cha:

-Công chúa ơi! Nàng hãy nghe ta kể, và nàng sẽ thấy, cả những người thông minh, tiếng tăm lẫy lừng thế giới này, mà bóng tối xung quanh vẫn phủ kín trái tim. Họ để lại cho chúng ta bao chuyện lạ trên đời, xong rồi họ chết âm thầm trong đau đớn… Nàng vui lòng nghe ta kể tiếp chuyện chinh phục đại dương, khám phá địa cầu của con người nhé!
Ngày hai mươi tháng chín năm 1519, một hạm đội gồm năm chiếc thuyền nhỏ mang tên: Xan “Antôniô”,” Triniđát”,” Cônxếpxiôn”, “ Victoria” và “Xantiagô” đã rời cảng Xêvi thuộc Tây Ban Nha. Trong số hai trăm ba mươi chín sĩ quan và thủy thủ đã tham gia vào cuộc du hành đó, chỉ có một số ít người trở về được. Đó là cuộc du hành vòng quanh thế giới của Fernand de Magenllan( 1480-1521). Magenllan không phải là người Tây Ban Nha mà là người Bồ Đào Nha. Ông đã chỉ huy hạm đội Tây Ban Nha, làm một cuộc du hành để tìm ra con đường nối liền Đại Tây Dương với Thái Bình Dương. Một dự định táo bạo và đầy hiểm nguy, gian khó. Nàng hãy nhìn vào đây, tôi vẽ bản đồ cho nàng xem. Đây là châu Mỹ, một lục địa rộng lớn, kéo dài từ những tảng băng của Bắc Băng Dương cho đến các vùng nước lạnh giá vùng Nam cực. Nó là một trở ngại lớn ngăn cách hai đại dương to nhất thế giới là Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Người ta khám phá ra những vùng biển ở phía Tây châu Mỹ gọi là Biển Lớn phương Nam.

Công chúa nhìn theo năm ngón tay trắng thanh sạch của đức cha đang vẽ bản đồ cuộc hành trình của Magenllan, ngập ngừng hỏi:

-Thưa ngài, trước Magenllan đã có ai đi vào vùng biển chưa biết này?

-Đã có nhiều nhà du hành tìm cách đi vào vùng biển chưa biết này, nhưng họ đều vấp phải bờ biển châu Mỹ, hoặc ở miền gần xích đạo, hoặc ở phía Bắc hay ở phía Nam. Do những thất bại đó mà đã có ý kiến cho rằng không thể đi từ Đại Tây Dương đến Biển Lớn phương Nam được. Magenllan không đồng ý với ý kiến ấy và tin chắc rằng ở phía Nam của Nam Mỹ sẽ có một eo biển nối liền hai đại dương. Nếu người ta cung cấp cho ông người và thuyền thì ông sẽ đảm nhiệm việc tìm ra eo biển đó. Ông đã tốn mấy năm trời ở Bồ Đào Nha vận động cho việc này, nhưng không có kết quả. Ông phải rời đất nước sang Tây Ban Nha với khát vọng lớn này. Ở đây, ông đã được người ta nghe theo và phong làm đô đốc chỉ huy một hạm đội. Trớ trêu thay, ông là người Bồ Đào Nha lại chỉ huy một hạm đội Tây Ban Nha trong cuộc thám hiểm xa xôi, mạo hiểm, mà loài người trên trái đất chưa ai dám thực hiện. Nhà vua Tây Ban Nha đã hứa hẹn sẽ phong chức tước và ban thưởng vàng bạc hậu hĩnh cho Magenllan, nếu chuyến đi này thành công… Và Magenllan quả cảm, trung thực đã phải trả giá rất đắt bởi những lời hứa hẹn này. Theo những điều khoản đã ký kết với đức vua Tây Ban Nha, ông sẽ được phong là toàn quyền ở tất cả các vùng đất đai sẽ tìm thấy và được hưởng một phần hai mươi những lợi tức sẽ thu hoạch được từ các miền đất đó… Chính những lời mật đường đó đã gieo lòng ghen tị cho các thuyền trưởng Tây Ban Nha kiêu ngạo, đang chịu quyền điều khiển của Magenllan. Họ ghen ghét, thù hằn ông ra mặt, thì thầm bàn nhau:” Gặp dịp tốt sẽ hãm hại Magenllan”. Trước lúc khởi hành vượt đại dương bão tố, hiểm nguy, những kẻ thù còn cố sức cản trở chuyến đi. Họ không cho tiền để mua thiết bị, lương thực, còn âm mưu giết ông. Họ cấp cho ông loại thuyền buồm rất cũ nát, thủy thủ gồm đủ loại người, phần lớn là những kẻ can phạm nhiều tội nặng, chạy trốn từ các nước khác tới (Tây Ban Nha, Đức, Anh, Italia…) Nhưng Magenllan vẫn kiên trì khắc phục khó khăn. Ông đã xin được số tiền cần thiết, mua được thiết bị và lương thực đủ dùng trong hai năm, sửa chữa lại thuyền và huấn luyện đoàn thủy thủ.

Công chúa nâng chén trà mời đức cha và hỏi:

-Sức mạnh nào đã giúp Magenllan đi thám hiểm những bờ bến xa xôi trong cảnh ngộ không tốt đẹp ấy, thưa cha?

-Magenllan ước mơ thuyết phục những kẻ còn nghi ngờ không tin rằng trái đất là một quả cầu. Thời ấy chỉ có một số ít nhà bác học lưu ý đến vấn đề hình dạng trái đất mà thôi, còn vua chúa, quí tộc và lái buôn đều hy vọng những cuộc thám hiểm sẽ tìm thêm đất đai và những nguồn lãi khổng lồ, nhất là những hương liệu quí của phương Đông như: hồ tiêu, quế, gừng, long não… làm gia vị cho các món ăn xứ lạnh và làm thuốc. Nó đắt hơn cả lúa mạch và đậu hột ở châu Âu.

-Tại sao những hương liệu và dược liệu ấy ở châu Âu lại quí và đắt như vậy, đức cha có biết không?

-Lý do rất đơn giản là đường đi sang phương Đông rất dài và rất khó khăn, thường kéo dài hai đến ba năm. Những người lái buôn mang hàng từ phương Đông về lúc nào cũng bị những cơn bão tố đe dọa, rồi bọn cướp biển và cướp đường giết hại, họ còn phải nộp cống rất nặng cho chính quyền các nước mà họ đi qua. Những nhà giàu Tây Ban Nha giúp Magenllan tổ chức cuộc thám hiểm chỉ vì họ mong muốn Magenllan tìm được một con đường ngắn hơn và ít nguy hiểm để đến Môluycơ” Quần đảo hương liệu”, họ còn hy vọng sẽ chiếm được đảo ấy.

Hạm đội của Magenllan trên đường đến bờ biển châu Mỹ không gặp phải trở ngại gì lớn, mặc dù các thuyền trưởng Tây Ban Nha của các thuyền” Xan Antôniô”, “Cônxếp xiôn” và “Victoria” luôn luôn gây sự với Magenllan và cố gieo những mối bất hòa giữa các thủy thủ chủng tộc khác nhau. Nhưng đến bờ biển châu Mỹ mới bắt đầu thấy sự khó khăn. Magenllan ước đoán rằng giữa hai đại dương phải có một eo biển, nhưng ông không biết chính xác vị trí của nó. Ông phải dẫn hạm đội đi thám hiểm tất cả các vịnh lớn nhỏ để tìm ra eo biển bí mật và mơ ước ấy. Việc này làm mất rát nhiều thời gian và gặp nhiều hiểm nguy khi mùa Đông sắp đến. Mùa Đông băng giá và ác nghiệt ở Nam bán cầu… Magenllan càng đi càng khó khăn. Đã đến lúc ông hiểu rằng nếu cứ tiếp tục cuộc hành trình thì thật là điên rồ. Hạm đội của ông sẽ bị nhấn chìm tất cả trong các cơn bão dữ dội thường hoành hành về mùa Đông ở cực Nam trái đất. Giờ phút ảm đạm đã đến, năm thuyền đều bỏ neo trong một vịnh kín gió. Đây là một trong những chân trời, góc bể sầu thảm nhất thế giới. Từng đợt sóng xám lạnh vỗ vào mạn thuyền. Bờ biển vắng tanh. Không một bóng cây. Không một ngọn cỏ. Không một cánh chim bay. Mọi sinh vật đều chạy trốn trước cái lạnh đến đông máu của mùa Đông. Các thủy thủ sầu não. Cái lạnh chà sát thịt da, buốt đến tận dạ dày vì Magenllan ra lệnh cắt bớt khẩu phần ăn. Ông sợ thiếu lương thực để tiếp tục cuộc du hành… Những thuyền trưởng xấu bụng liền lợi dụng tình trạng u sầu của các thủy thủ và xúi giục họ nổi loạn. Magenllan đã dẹp yên cuộc nổi loạn ấy và nghiêm trị những kẻ cầm đầu. Không ai dám công khai chống lại ông nữa. Nhưng mối căm thù của những sĩ quan Tây Ban Nha với ông ngày càng tăng. Ngấm ngầm và nung đốt như lửa.

Năm tháng trời nặng nề tránh rét trôi qua, hạm đội lại tiếp tục tiến về phương Nam để đi tìm eo biển bí mật. Đã vào cuối mùa Đông, nhưng tai họa của nó chưa hết.Thuyền “Xantiagô” đi nhanh nhất đã bị đắm. Một cơn bão bất ngờ xô mạnh thuyền vào bờ biển và đánh nó vỡ tung. May sao tất cả mọi người trên thuyền đều thoát chết và được phân tán sang các thuyền còn lại. Hạm đội cứ đi. Cuối cùng điều mong đợi đã đến. Họ đã tìm thấy ở phía sau một mũi đất cao, có một vịnh ảm đạm ăn sâu trong lục địa với nước đen sẫm và nổi sóng dữ dội. Magenllan phái hai chiếc thuyền đi trinh sát. Vài ngày sau họ trở về reo hò báo tin thắng lợi:” Cuộc thám hiểm vĩ đại khó nguy đã thành công”.

Magenllan lặng đi vì sung sướng, ông ôm ngực thốt lên:” Ta đã không vô ích khi phải vượt qua bao khó khăn, chịu đựng bao thiếu thốn, ghìm nén bao uất ức… Giờ đây, dự đoán của ta đã được xác minh. Eo biển có thật và ta đã tìm thấy nó.” ( Sau này trên bản đồ Nam Mỹ, eo biển này mang tên Magenllan để tưởng nhớ đến công lao của ông).

Magenllan tiếp tục điều khiển bốn chiếc thuyền thận trọng hành trình trong một tháng mới vượt qua eo biển. Cửa mở thông ra một đại dương mới mà người châu Âu chưa từng biết. Nhìn đại dương mênh mông dạt dào nắng gió trải tận chân trời, Magenllan vốn bản tính nghiêm nghị cũng không cầm được nước mắt. Cả hạm đội náo nức:” Bây giờ cần phải mau chóng đi về hướng Tây, tới “ Những quần đảo hương liệu”.

Công chúa chăm chú nghe, mừng vui cùng Magenllan, nàng mỉm cười, mắt sáng long lanh nhìn Cevallos đắm đuối:

-Vậy là Magenllan đã thoát khỏi hiểm nguy.

-Không hoàn toàn như vậy đâu, nàng công chúa xinh đẹp của tôi trong sáng quá nên chưa hiểu hết những thảm họa luôn rình rập con người mọi lúc, mọi nơi, mọi, thời khắc. Đó là lòng ghen tuông, đố kỵ của con người.

Khi sắp sửa thành công, nhà thám hiểm dũng cảm lại bị thêm một mưu phản suýt làm thất bại toàn bộ công việc của ông. Người thuyền phó thuyền” Xan Antôniô” đã xúi giục thủy thủ nổi loạn và bí mật quay thuyền về Tây Ban Nha, đã mang đi phần lớn lương thực, gồm những thức ăn tốt nhất chuẩn bị cho cả hạm đội, vì thuyền này có trọng tải lớn nhất, nên đô đốc đã tin yêu gửi gắm trong đó cả lương thực dự trữ cho lúc trở về. Kẻ phản bội đã làm cho Magenllan đau đớn, tổn thất ngặng nề.

Công chúa giận kẻ phản bội đến muốn khóc, nàng hỏi:

-Magenllan đã phải làm thế nào trong tình trạng đó?

-Ông chỉ còn lại ba chiếc thuyền và rất ít lương thực. Nhưng ông đã quả quyết chỉ huy hạm đội:” Chúng ta cứ tiếp tục cuộc hành trình, dù có phải ăn những miếng da bọc trong các trang bị trong thuyền.!”. Ngày hai mươi tám tháng mười một năm 1520, hạm đội tiến vào vùng biển mênh mông của Thái Bình Dương mà chưa một thuyền nào của châu Âu vượt qua. Trước chuyến đi của Magenllan, người ta không ngờ rằng trái đất lại to lớn như thế. Magenllan đã tưởng rằng muốn đi đến quần đảo Môluycơ chỉ phải vượt độ ba hay bốn nghìn kilômét. Nhưng sự thực là khoảng mười tám nghìn kilômét. Nếu Magenllan có thể biết trước được khoảng cách rộng lớn mà ông phải vượt qua với những chiếc thuyền cũ hư hỏng, nhiều cột buồm bị lung lay và những cánh buồm rách mướp, thì chưa chắc ông đã dám phiêu lưu mạo hiểm mà thực hiện một cuộc thám hiểm nguy nan đến như vậy…

Thật tuyệt vời! Đại dương mới đã đón tiếp những người du hành dũng cảm vào lúc thời tiết rất êm dịu. Bầu trời xanh cao trong vắt không một gợn mây. Mặt trời vàng ấm áp sưởi ấm cho các thủy thủ đã bị giá rét trong suốt mùa Đông dài thê thảm. Từng cơn gió nhẹ căng buồm đẩy thuyền đi về hướng Tây. Vì thế Magenllan đặt tên cho đại dương mới là Thái Bình Dương. Nhưng do diện tích mênh mông của nó, người ta đặt tên nó là Đại Dương Lớn, Biển Lớn hay Thái Bình Dương.

Mấy tuần trôi qua. Một tháng. Một tháng nữa. Ba chiếc thuyền nhỏ trôi đi, giữa mêng mông Đại Dương Lớn. Hình ảnh con người trôi trên mặt biển bao la, hùng vĩ. Con người lớn lao. Con người đầy tự tin và sức mạnh. Nhưng rồi cảnh thiếu đói, cùng quẫn cũng đến. Lục soát những thùng đồ ăn cuối cùng, Magenllan mới biết rằng trong khi chuẩn bị cuộc du hành, những kẻ thù của ông đã đánh tráo rất nhiều hòm lương thực, đáng lý là bánh khô, họ lại nhét rất nhiều đồ thối hỏng vào. Chuột từ đâu cũng xuất hiện trên thuyền. Chúng tàn phá các hòm lương thực tan tành. Các thủy thủ săn lùng chuột, nướng ăn ngon lành. Rồi chuột cũng hết. Rượu vang đã hết từ lâu. Nước ngọt trong thùng ngả mùi thối um, mỗi lần uống, người ta phải bịt mũi. Một ngày kia, mối linh cảm bi đát nhất của Magenllan đã thành sự thật. Những người trên thuyền đã phải ăn những miếng da bọc các trang bị trong thuyền. Để làm cho da mềm, họ phải ngâm nó mấy ngày trong nước biển, rồi cắt nhỏ, nướng vào lửa nuốt chửng vì không thể nào nhai nổi. Dạ dày mọi người bị da cứng xáo trộn, đau đớn cồn cào. Gần hết tháng thứ ba lênh đênh trên Biển Lớn, nhiều thủy thủ đã chết đói. Người chết bị ném xuống biển, làm mồi cho cá mập. Mọi người đều khiếp sợ. Họ quằn quại trong đói khát và trông thấy thần chết đến từ từ ở khoảng không gian chỉ có nước và trời xa thăm thẳm… Magenllan hiểu rằng không thể quay trở lại. Ông ôm đầu thét lên:” Phải sống. Phải tìm ra một hòn đảo nào đó có sự sống”.

Hơn ba tháng trong cuộc hành trình ghê rợn, họ đã trông thấy được một dải núi đá trơ trọi. Không một ngọn cỏ. Không một giọt nước. Không một bóng chim bay. Tuy vậy họ tin là biển sắp hết và đất liền hiện ra. Ngày mồng sáu tháng ba năm 1521, họ đã nhìn thấy một hòn đảo như thiên đường cứu rỗi những linh hồn khốn khổ đến tận cùng. Thật là một kỳ quan, đảo rợp bóng cây dừa xanh và suối nước ngọt mát lành. Họ chỉ nhìn thấy nước trong vắt đã thấy dịu cơn khát lâu ngày. Trên đảo có người. Con người xuất hiện là cứu tinh cho họ, làm cho sự chết sống lại. Những đớn đau dai dẳng của họ đã chấm dứt…

Công chúa reo lên, nắm bàn tay của cha cố cảm ơn như chính ngài đã cứu Magenllan và hạm đội. Im lặng. Cha cố nhìn nàng. Cái nhìn âu yếm, yêu thương, trìu mến lạ lùng. Cha lặng đi. Cha không muốn kể tiếp phần kết thê lương của cuộc thám hiểm này cho nàng nghe. Ta sẽ làm tan vỡ trái tim trong trắng của nàng. Ta sẽ làm cho nàng thất vọng về con người… Nhưng ta không thể ru ngủ nàng trong sự che đậy giả dối. Thượng đế đã dạy ta tìm ra lẽ thật. Chính người đã hiểu được lẽ thật đó nên mới hóa thân thành Đức Chúa Giêsu cứu chuộc tội lỗi của con người. Bản chất của con người là thế! Giữa quỉ sứ và thiên thần- chỉ một giây ngắn ngủi. Giữa kết thúc và bắt đầu- chỉ một giây ngắn ngủi.

-Lúc này chúng ta có thể hy vọng rằng tất cả mọi tai họa của cuộc thám hiểm đã chấm dứt. Ba chiếc thuyền rách tả tơi cùng với những kẻ sống sót tơi tả sẽ ung dung đi từ đảo này đến đảo kia, một cách yên bình vang động chiến công như những người anh hùng, được dân chúng ngưỡng mộ, tung hô, chăm sóc vỗ về… Nhưng không, sự việc diễn ra bất ngờ, khó tưởng tượng. Magenllan và các bạn đồng hành đã tự chuốc lấy biết bao tai họa do lòng hám lợi và máu xâm lăng của họ. Magenllan đã can thiệp vào cuộc xích mích giữa các tù trưởng và các bộ lạc nhỏ ở đảo Philippines. Ông muốn tỏ cho họ biết sức mạnh của người châu Âu, vũ khí châu Âu. Với một nhóm sáu mươi người có áo giáp và khí giới, Magenllan đã tấn công một nghìn thổ dân đảo Matan chỉ có cung tên và giáo mác. Và Magenllan đã hy sinh tại đó. Lòng kiêu ngạo và hiếu chiến, hiếu thắng đã giết chết một nhà đi biển nổi tiếng mà chưa hoàn thành sứ mệnh trở về quê hương.

Công chúa thốt lên:

-Magellan đã tự giết chết mình.

-Vâng thưa công chúa, đấy là bi kịch lớn của con người. Con người khởi đầu bằng những giấc mơ cháy lửa và kết thúc trong tham vọng. Nhưng con người không tự biết. Con người say sưa vươn tới đỉnh cao chiến thắng, và lao mình xuống miệng vực há to. Con người say uống máu của mình, thà sa xuống địa ngục hơn là mơ bay trên các tầng trời... Sau cái chết của Magenllan và nhiều bạn đồng hành, các thuyền Tây Ban Nha còn lang thang đi giữa các hòn đảo nằm rải rác trong vùng biển từ châu Á đến châu Úc một thời gian dài nữa. Họ chỉ còn lại hai chiếc thuyền” Triniđát” và “Victoria”. Rồi thuyền “ Triniđát” cũng bị hỏng nhiều, không thể đương đầu với đại dương để về châu Âu được, phải dừng lại sửa chữa, chỉ còn một mình thuyền” Victo ria” với bốn mươi bảy thủy thủ trở về dưới quyền chỉ huy của thuyền trưởng Xêbachiênđen Canô. Ông là một trong những thủy thủ giỏi nhất trong số những người còn lại.

Thuyền “Triniđát” sau này không trở về Tây Ban Nha được. Nó đã bị đắm, mọi người chết hết, chỉ còn bốn người sống sót về quê hương. Chiếc “Victoria” đã cập bến Xêvi vào ngày mồng tám tháng chín năm 1522 với mười tám thủy thủ đứng cười ngạo nghễ trên mạn thuyền dưới lá cờ Tây Ban Nha phấp phới, kết thúc cuộc du hành vòng quanh thế giới đầu tiên trong thời gian ba năm kém mười hai ngày. Thuyền đã mang được hai mươi sáu tấn hương liệu. Đó là một giá trị lớn thời bấy giờ. Những người thổ dân trong các quần đảo thuộc biển Đông có nhiều hương liệu. Những hương liệu này chỉ dùng để làm gia vị cho thức ăn, mà thức ăn thì họ lại không có, người Tây Ban Nha trên thuyền này đã khôn khéo trao đổi với thổ dân để lấy được nhiều hương liệu đến thế. Tuy vậy đã có hơn một trăm sáu mươi sĩ quan và thủy thủ bị chết trong cuộc thám hiểm đó. Điều này không làm cho các chủ buôn Tây Ban Nha ưu phiền. Với hai mươi sáu tấn hương liệu thu được, họ đã bù lại rộng rãi các khoản phí tổn của cuộc thám hiểm, kể cả tiền mua các thuyền, còn tính mạng con người, họ coi không đáng giá một đồng xu.

Nhờ cuộc thám hiểm này, người ta công nhận trái đất của chúng ta là một quả cầu và ta có thể đi vòng quanh nó bằng đường biển được. Tôi đã đi từ Tây Ban Nha đến Thái Bình Dương và trôi dạt vào bờ biển miền Trung Đại Việt của nàng theo con đường vượt đại dương do Magenllan khám phá đấy, công chúa xinh đẹp của tôi ạ…

Câu chuyện mở ra trong tâm hồn công chúa một thế giới, một địa cầu, một nhân loại lớn, mà chưa bao giờ nàng nghĩ tới, hình dung ra. Thế giới sống của nàng giờ đây mêng mông, cao rộng, và loài người ở gần nàng hơn. Họ đã sống với những khát vọng cao cả và tội lỗi cũng chồng chất trên quả đất này. Nàng khâm phục Cevallos, tưởng như chàng là một thủy thủ tài ba, dũng cảm đã sống sót trong cuộc mạo hiểm của Magenllan và dạt lên bán đảo Đại Việt, vương quốc của nàng. Trái tim nàng bừng nở một niềm vui lớn lao. Nàng đã được gặp và trò chuyện thân thiện với con người tài ba dũng mãnh từ trời Tây cách xa xứ sở này một nửa vòng tròn trái đất rộng lớn. Chàng đã vượt Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương để chỉ cho nàng biết đường tròn của quả đất, mà nàng thì từ bé đến giờ, chỉ sống loanh quanh trong kinh đô chạy loạn thuộc vùng rừng núi hiểm trở, quay đi mắc núi, ngoảnh lại mắc sông. Nàng có đọc sách nhưng chỉ nghĩ tới một vài nước như Chiêm Thành quê mẹ, và Trung Hoa nước lớn, cùng lắm là Ai Lao nằm sau lưng Kinh đô Yên Trường… nàng không đủ sức tưởng tượng ra trái đất tròn.

Chương 8


Từng giọt mưa cuối Đông mưa nhè nhẹ dưới cây vườn. Chiều mưa lạnh buồn, cái lạnh khô hanh của vùng nhiệt đới không mấy dễ chịu, nhưng trong ngôi nhà công chúa trầm vẫn ngào ngạt tỏa hương đón cha cố. Nơi đây, chàng tìm được điểm tựa của tâm hồn trên mặt đất. Chàng có thể chia sẻ câu chuyện cuộc đời mình với nàng.

-Nàng muốn nghe chuyện cuộc đời tôi? Tôi đã đi nhiều nơi và những gì tôi thấy, như đã được sắp đặt từ trước, hình như Thượng đế là người đưa ta lên sân khấu cuộc đời. Tôi chẳng nhớ nhiều chi tiết của đời sống lắm đâu. Nhưng dù hạnh phúc hay khổ đau, dù bị số mệnh đuổi dồn theo năm tháng, tôi vẫn tiếc cuộc đời ngắn ngủi, nó cứ trôi qua từng ngày, từng giờ một. Nó lấy đi của ta tất cả và chẳng để lại dấu vết…Tôi đã rời bỏ quê hương trong một chiều mưa tuyết lạnh phủ đầy lá phong sắc đỏ và tưới trên mình những pho tượng đá trắng đặt trên nóc các tòa nhà. Tôi nhảy lên mình ngựa và ngạo nghễ ra đi, mộng tưởng mang đến cho người nghèo khổ công lý, cả bánh mỳ và hoa hồng nữa. Nhưng tôi đã nhầm. Tôi rơi vào cạm bẫy của những cuộc chiến tranh chinh phục châu Mỹ và các lục địa khác của vua chúa Tây Ban Nha. Tôi vào quân đội. Hình như tôi đã giết người? Có thật là tôi đã bắn chết rất nhiều người không? Chúa ơi! Chỉ có chúa mới biết…

Cevallos bỗng rên rỉ và quì xuống làm dấu thánh giá. Công chúa tái mặt. Nàng đỡ chàng dậy. Cevallos vẫn quì và lầm rầm cầu nguyện…Chàng chìm ngập trong suy tưởng… Tiếng chuông nhà thờ gióng giả trang nghiêm rung lên. Chàng nhìn thấy đoàn người tới chỗ lan can trước bàn thờ màu trắng, những ngọn nến vàng đang cháy và cỗ quan tài được hạ xuống. Mặt quan tài phủ một tấm khăn liệm trắng mang dấu hiệu tang tóc, một hình thánh giá màu đen với những cây nến lớn bên cạnh. Người ta hát những lời nguyện và lời đáp, rảy nước thánh lên quan tài, thắp và đu đưa bình hương. Tiếng những người dự lễ rầm rì trả lời kinh cầu Chúa và lời cầu nguyện Đức Mẹ đồng trinh, cầu xin Thượng đế khoan dung và cứu rỗi những linh hồn… Ở một cửa ngách, có một phụ nữ mặc y phục màu đen, che mạng kín, bồn chồn cúi đầu theo tiếng cầu nguyện thê lương…Ảo ảnh đó chạm vào sợi giây sầu muộn sâu thẳm trong lòng Cevallos, nỗi đau buốt nhói trong tim.

Cevallos nhớ lại những tháng ngày mê loạn ấy… Chàng quằn quại nhận diện được chính mình” Ta đã sống như một tên đạo tà. Ta đã nguyền rủa và ta phỉ báng Giêsu, chân chúa nhất của ta. Ta như một con thú, một con quỉ, một con ma ghê rợn. Ta đã chửi rủa những cái ta yêu. Ta quì phục và cúi đầu làm theo những điều ghê tởm. Như một tên đao phủ hèn mạt, ta đã bắn giết, giày vò những người nghèo yếu. Ta đã cúi chào những cái đầu quỉ, mặt người. Ta hôn hít vật chất xấu xa vô vị. Ta đã gục mặt mình trong bóng tối ma vương…Ta buồn. Ta lang thang. Ta muốn ra đi, xa cái địa ngục âm u của thành phố hôi tanh, nhầy nhụa những xác thịt. Ta muốn nhào lộn nơi chân trời đầy hào quang rực hồng. Ta muốn lao vào trời trong xanh, mây trắng nhẹ nhàng bay. Ta muốn bơi trên biển mặn nồng hơi muối. Ta muốn rửa sạch nhớp nhơ tội lỗi con người dưới thăm thẳm đại dương…”

Như chợt tỉnh cơn mơ, Cevallos, nhìn công chúa, ánh mắt chan chứa yêu thương, nồng nàn cảm xúc. Chàng kể:

- Và một chiều tôi đã bỏ trại lính ra đi. Tôi lang thang trên bên cảng, như sóng lớn không hề xao động, như gió lộng giữa bầu trời, nước bể đại dương vẫy gọi tôi xuống tàu ra biển lớn.

Chiếc tàu rời khỏi bến cảng. Ba giờ sau, gió biển chuyển động và mặt biển cồn sóng lên dữ dội. Tôi bị sóng đánh chồm lên vật xuống, ruột gan lộn tùng phèo, nôn ra mật xanh mật vàng. Một cơn bão bất ngờ ập đến. Bão chuyển mạnh. Biển động làm tôi ngỡ mình bị chìm sâu dưới những làn sóng bạc. Thể xác và tinh thần tôi như rơi tõm vào một cơn mê hoảnh khủng khiếp, kinh hồn. Các thủy thủ cũng sợ hãi lộ ra mặt. Ông chủ tàu nổi tiếng là người kiên nghị, sống chết quyết giữ tàu đến cùng, lúc này cũng thốt ra những lời tuyệt vọng:” Trời ơi! Nguy hiểm quá! Chết mất!”. Tôi chết lặng trong tình trạng kinh hoàng đó, nằm lạnh ngắt và khiếp đảm. Sóng biển trồi lên cao như những trái núi ào ào ập lên thuyền của chúng tôi. Cột buồm trước vừa gãy thì cột buồm sau cũng gãy tiếp. Thỉnh thoảng một cầu thủ lại kêu lên: “Tàu sắp đắm mất rồi.”… Vào khoảng nửa đêm, một người được cử xuống xem xét dưới hầm tàu phát hiện ra ở đó có một lỗ hổng, nước đã ngập. Mọi người xúm lại bơm nước ra. Tôi kinh hoảng ngã nhào bất tỉnh. Tôi vật lộn trong cảnh biển trời tối tăm. Cánh buồm như những bóng ma nhỏ dần. Con người bị dòng nước dữ tợn xô lên, nhấn xuống những vực thẳm tối om… Có ai đó gạt phắt tôi ra một bên, nhảy vào thay tôi bơm, để mặc tôi nằm sóng xoài, yên tâm rằng tôi đã chết… Một hồi lâu tôi tỉnh lại.

Mọi người càng ra sức bơm, nước càng dâng lên cao. Tuy cơn bão đã dịu, nhưng nhất định tàu sẽ đắm. Ông chủ tàu quyết định bắn súng đại bác cầu cứu. Một chiếc thuyền tiến nhanh về phía chúng tôi và thả xuồng xuống. Sóng gió chao đi, đẩy lại, vất vả vô cùng chiếc xuồng ấy mới tiến gần đến chúng tôi, nhưng loay hoay mãi không áp nổi vào mạn tàu để chúng tôi có thể xuống được. Cuồi cùng, những tay chèo xuồng đã liều mạng cứu chúng tôi. Từ sau tay lái, chúng tôi quăng cho họ một chiếc giây thừng có buộc phao rồi tháo dây cho nó dài mãi ra theo chiếc dây phao bập bềnh trên sóng. Đằng kia họ không quản hiểm nguy, cố bắt được đầu sợi dây thừng. Chúng tôi hết sức lôi kéo họ về phía lái tàu rồi kéo nhau xuống xuồng. Tất cả mọi người đều cố gắng hết sức chèo xuồng trở về tàu kia, nhưng sóng gió cứ văng nó ra xa. Thế là chúng tôi đành phải chịu cứ để xuồng lênh đênh như thế trên mặt biển và hướng mũi xuồng về phái đất liền. Không đầy một khắc đồng hồ sau khi chúng tôi xuống xuồng, chiếc tàu của chúng tôi bị đắm hẳn. Tôi lạnh người, hiểu thế nào là chiếc tàu bị đắm. Chúng tôi vui vì thoát chết, cố gắng chèo xuồng cật lực về phía đất liền… Gió ngừng gào thét. Biển trở lại êm đềm. Hoàng hôn thật êm ả. Mặt trời như một quả cầu màu tím hồng lơ lửng trên nền trời không gợn chút mây. Gió nhẹ và êm. Mặt biển phẳng lặng như một tấm gương phản chiếu ánh mặt trời. Cảnh tượng huy hoàng cuốn hút tâm trí mọi người… Bỗng có anh reo lên” Xa xa kia là đất liền, sống rồi anh em ơi!”. Người trên bờ đã trông thấy chúng tôi, họ đổ ra chạy dọc bờ biển, sẵn sàng đón giúp chúng tôi. Những người bị nạn nhận được sự an ủi. Tòa án đã cấp cho chúng tôi những chứng từ bị nạn. Các nhà buôn và những ông chủ tàu tặng chúng tôi khá nhiều tiền để về nhà hoặc về Anh quốc. Tôi tìm về một tu viện rừng núi bao quanh của Tây Ban Nha, mặc áo tu sĩ, học làm thầy tu…

Công chúa nghe vậy tỏ ý tiếc cho cuộc đời trai trẻ của Cevallos, nàng dè dặt hỏi:

-Sao chàng không tìm về quê nhà lấy vợ, sống một cuộc đời bình thường êm ả như những người dân bình thường có hơn không?

-Tôi không thể. Người đàn ông Tây Ban Nha với bầu máu nóng hiệp sĩ không thể chấp nhận một cuộc trở về nhàm chán. Một là anh ta say máu tranh đấu, nếu không thì hãy phục tùng Thượng đế. Tôi đã vào đời như con chim sa bẫy, đầy buồn lo và đau thương như vậy. Trong lồng nhỏ cuộc đời tôi không có đường ra. Tôi hối hận rất nhiều vì đã để đời trói tôi như thế. Tôi xấu hổ buồn đau trước thánh thần và cõi vô biên. Tôi chọn làm cha cố để cứu rỗi linh hồn, suy tư và cầu nguyện cho những ai chưa bao giờ biết nguyện cầu, mà chỉ biết cúi đầu quì phục quyền lực và tội ác...

Nhà tu Tây Ban Nha là một thế giới đóng kín. Một pháo đài của Chúa dưới trần gian. Đó là những vòm mái tròn phủ đầy sương mù, nhưng căn phòng nhỏ đầy bóng đen, những khoảng tối âm u, cô tịch, có sân tường bao quanh, phủ đầy lá nho. Cuộc sống ở đây bốn mùa khổ hạnh, nằm ổ rơm, đắp chăn len thô, không tắm, không đốt lò sưởi, đêm đêm thức dậy từ ba giờ sáng để đọc kinh và tụng bài kinh sớm. Mỗi người tu là một thế giới đóng kín, phải biết im lặng và phục tùng. Chúng tôi sống với những bàn thờ đồ sộ nặng nề với những cây thập tự giá trắng khổng lồ, những tượng Giê-su lớn bằng ngà voi, mình trần nằm trên gỗ mun đen, bị đóng đinh máu chảy đầm đìa... Tu viện có mấy tòa nhà với những cái vòm cửa thấp và một cái vườn, mấy cây thông vút nhọn lên cao, hình chóp nón, các lối đi đều dẫn tới những bức tường rào bao quanh, cách biệt với cuộc sống con người… Nhưng nhà tu là nơi để con người tiếp xúc với vô biên.

-Ở trong nhà tu đó, mọi người làm gì, thưa đức cha? Công chúa Mai Hoa hỏi.

-Họ im lặng. Họ nói khẽ. Họ lao động. Họ thay nhau nấu ăn, rửa bát, dọn nhà, làm vườn… Họ từ bỏ cuộc đời xa hoa, từ bỏ cuộc sống ngoài xã hội, từ bỏ những thú vui thể xác, lạc thú, hư danh, kiêu hãnh, quyền lợi chiếm hữu vật chất. Họ không ăn thịt, ăn bánh đen và thỉnh thoảng nhịn ăn. Họ mặc đồ len gai hay đồ vải thô. Không một ai trong họ có của cải riêng. Khi vào nhà tu, kẻ giàu trở thành nghèo, họ đem cho hết cái gì mình có. Ở đây, người với người bình đẳng. Buồng tu của mọi người giống nhau. Họ thủ tiêu tình cảm họ hàng ruột thịt và dựng nên tình anh em, tình gia đình rộng lớn. Họ cứu giúp người nghèo, trông nom kẻ ốm. Họ cầu nguyện để đền tội, để chuộc tất cả các tội, tất cả các lỗi, tất cả sự rối trật tự. Nhà tu là nơi thơ ngây trong trắng của tinh thần tận tụy hy sinh. Nhà tu cũng là nơi người ta chịu đựng một địa ngục dẫn tới sự nhẫn nhục tối cao để dẫn dắt tâm hồn những con người lấy hưởng thụ vật chất làm đạo lý, luôn luôn hành động tàn bạo vì những cái nhất thời và quái dạng của vật chất.

-Vậy những nhà tu ấy có ước muốn không? Có yêu thương không? Có sống không?

-Rồi dần dà nàng sẽ hiểu thế giới sống của các nhà tu. Đó là một vấn đề lớn của nhân loại. Vấn đề triết học và tôn giáo. Tư duy, mơ mộng và cầu nguyện, là những năng khiếu của con người hướng tới cõi vô tri, là những tia huyền bí, những tia sáng huy hoàng của linh hồn, nối tiếp con người với cõi vô biên. Cái vô biên nghĩa là Chúa Trời, là lý tưởng tuyệt đối bao gồm: trí tuệ yêu thương, tinh khiết, sức mạnh, năng lượng, ánh sáng, tự do, sự hoàn hảo, hạnh phúc…Trong tiến trình lịch sử, con người đã tìm kiếm rất nhiều thứ, nhưng có hai điều mong muốn nhất là: hạnh phúc và mối quan hệ hoàn hảo. Nhưng để có được hai điều đó và giữ được nó, con người phải nhìn xa hơn ngoài cái giới hạn của sự sở hữu. Mà sở hữu là đặc điểm căn bản của con người thể xác. Vì vậy các mối quan hệ của con người rất mỏng manh. Người ta sở hữu thân xác của nhau, kèm theo sở hữu tiền bạc và vật chất. Tình người tan vỡ cùng những sở hữu đó. Con người chỉ có được hạnh phúc nội tâm trong mối quan hệ với Chúa Trời( hay là Thượng đế, Đấng tối cao, Cõi vô biên…). Nơi đó là cội nguồn của hạnh phúc và sự hoàn hảo. Và con người cầu nguyện. Cầu nguyện ai? Cầu nguyện Chúa Trời. Khi cầu nguyện, linh hồn của ta tiếp xúc với linh hồn vô biên tối cao của Chúa Trời. Các cha cố có bổn phận thiêng liêng rèn cặp những linh hồn, bảo vệ quyền có linh hồn của con người được tiếp xúc với linh hồn tối cao. Và họ cũng tìm thấy hạnh phúc và sự hoàn hảo cho chính mình trong khi cầu nguyện. Họ đạt được những khoái lạc và sự bình an viên mãn vĩnh hằng khi giao tiếp với Đấng tối cao, hay với Chúa, hoặc Thượng đế…

Công chúa Mai Hoa nghe cha cố giảng giải những vấn đề cao siêu đó, nàng chưa hiểu hết được, nhưng nàng rất thích thú, lắng nghe như bị thôi miên, càng nghe càng như lạc vào khu rừng huyền bí, thơm mùi cỏ cây. Mặc cho Santa cố vẫy vùng tìm ra những từ Đại Việt để chuyển ngữ chính xác, nàng không rời mắt nhìn sâu vào đôi mắt xanh màu nắng biển trời của Cevallos. Chàng là đại dương mênh mông huyền ảo. Chàng là triết gia, là cha cố của một tôn giáo tinh khiết. Chàng là một người đàn ông có trái tim tỏa sáng. Nàng muốn có chàng. Nàng muốn chung sống với chàng. Nàng hạnh phúc mỗi giây phút được ở bên chàng. Nàng ngỡ ngàng tự hỏi” Chàng có phải là thánh thần không?” và lòng lâng lâng êm dịu, nàng khẳng định” Ta đã gặp thánh thần”. Và nàng lại phủ định” Không, chàng không phải thánh thần. Chàng là người đàn ông quyến rũ nhất mà bây giờ ta mới gặp. Chàng từ nửa vòng bên kia trái đất tới ngôi nhà của ta. Ta sẽ giữ chàng lại với mình. Ta sẽ chung sống với chàng, hòa trộn hai thân thể vào nhau, hưởng ái ân, hoan lạc. Chàng cứ việc sống với linh hồn của mình. Nhưng trong vòng tay ta, thân thể chàng bùng cháy ngọn lửa tình ân ái. Này đây là đôi môi, này đây là khuôn ngực, và dòng đào nguyên suối chửa thông… của chàng đấy. Hưởng lạc tình yêu trần tục đâu phải là tội lỗi.

... CÒN TIẾP ...

© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 28.10.2009.

TÁC PHẨM CỦA MAI THỤC CHỈ PHỔ BIẾN
DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART Ở HẢI NGOẠI