NHỮNG PHIÊN BẢN NẰM NGHIÊNG




    Kính tặng mẹ thay những lời nói và giọt nước mắt đã từng không thể tuôn ra được lúc cần thiết.







    CHƯƠNG 13

Lần chuyển nhà thứ ba, mẹ tôi có kinh. Di chuyển quãng đường dài gần nghìn cây số vắt kiệt sức lực mẹ. Tôi ngồi cạnh mẹ, lo sợ. Ghế đệm bọc da thấm ướt dòng máu đỏ. Giờ xe dừng lại ăn trưa, mẹ bảo tôi dẫn em đi rửa mặt mũi, tay chân, còn mẹ ở lại lấy giấy báo lau vết máu loang trên ghế. Tôi đứng nhìn mẹ. Mẹ đợi vãn người và đi thay quần áo. Chiếc quần đen nhàu nhò rút ra từ túi xách trông mẹ càng xác xơ hơn. Tôi dắt em ra ngoài.

Khách xì xụp ăn cơm trong quán. Mẹ gỡ xôi mang theo cho hai chị em tôi. Em tôi trệu trạo nhai xôi trắng, mắt nó nhìn mãi về phía quầy hàng bày bán hoa quả, bánh kẹo. Tôi kéo tay em tôi đi chỗ khác. Tôi không muốn mẹ tôi buồn. Em tôi hẳn không biết rằng ánh mắt them khác của nó sẽ khiến mẹ buồn. Nó không biết gì cả, ngoài tiếng gọi “mắm” mỗi bữa ăn. (Nó không thể ăn cơm nếu không có mắm). Điều đó càng làm mẹ tôi xót xa hơn. Đôi lần, tôi nhìn thấy mẹ tôi thở dài nhìn em tôi đau đáu. Bất hạnh trút xuống đầu nó khi nó hãy còn là đứa trẻ chưa phạm lỗi lầm nào. Tôi không nghe mẹ tôi than “Trời ơi! Sao số tôi khổ thế này” như cô Hồng vẫn hay than thở khi có gì đó không vừa lòng. Tôi chưa nghe mẹ than thở bao giờ. Mẹ gián tiếp dạy tôi cách sống tiếp nhận những gì đến và an phận với nó (nhưng tôi không làm được).

An phận. Yên ổn. Có lẽ vì thế mẹ quyết định sẽ chuyển khỏi nơi chúng tôi đến chưa đầy hai năm. Mẹ bảo phải về quê. Không về quê hẳn, nhưng nơi đó gần quê hương mình. Nơi đó gần nhà nội, nhà ngoại. Quê hương của chúng ta ở đó. Ai cũng có gốc gác, quê hương, đi đâu rồi cũng phải trở về. Mẹ nói với tôi như vậy. Tôi muốn hỏi mẹ, liệu mình trở về, quê hương có đón nhận mình? Song tôi chưa kịp nói mẹ đã đi khuất. Tay mẹ xách túi xách to đựng quần áo. Tay kia nắm bàn tay nhỏ xíu của em tôi.

Tôi không biết gì về quê hương. Tôi không biết nó có khác gì với những nơi chúng tôi đã từng đi qua hay không? Nó có thực sự là nơi sẽ mang lại bình an, yên ổn cho chúng tôi?

Xe lướt nhanh qua những cánh đồng lúa trải dài bất tận, qua những mái nhà rơm rạ, những con đường sầm uất. Một ngày, một đêm kể từ khi xuất phát chúng tôi đến nơi. Buổi sáng vừa bước xuống xe, gió lạnh xộc vào người, vào cuống họng. Sương phủ mờ ảo trên đường. Mẹ tôi bảo chúng tôi đứng đây đợi, có người sắp đến. Mẹ tôi có vẻ nôn nóng. Chừng lát sau có người đàn bà mặc áo len dày màu đen đến. Hai tay bà ta đan vào nhau, xuýt xoa vì lạnh. Bà nhìn hai chị em tôi và ồ lên ra vẻ ngạc nhiên.

- Con bé đầu lòng đây hả?

- Dạ!

Mẹ tôi lễ phép đáp, có vẻ rất cung kính với bà ta.

- Hồi mới đẻ,… nói phải tội chứ nhìn nó hệt con khỉ con ốm yếu, tưởng không sống nổi. Đúng là trời nuôi.

Bà xoa đầu tôi. Bà dẫn chúng tôi đi sâu vào con đường hẹp. Đi một đoạn lại rẽ vào một ngã rẽ khác. Đầu ngã rẽ có ngôi nhà đóng cửa. Người đàn bà lôi từ túi áo ra chiếc chìa khoá. Bà ta tra chìa khoá gỉ sắt vào, mở cửa. Cửa vừa mở một mùi hôi thối của phân gà, phân vịt xộc lên mũi. Bà tự nhiên đi vào trong nhà, bật bóng đen màu vàng lên. Ánh sáng lờ mờ soi sáng ngôi nhà. Cảnh vật hỗn độn bày ra trước mắt. Mấy chiếc lồng nhốt gà, vịt nằm chõng chơ giữa nhà. Rơm rạ ẩm ướt, bết dính phân lót dưới sàn nhà. Tro trấu phủ lên phân vung vãi. Người đàn bà đưa tay huơ huơ trước mũi đẩy không khí hôi thối đi.

- Mấy ông chăn vịt lề mề quá. Đã dặn dọn dẹp hết rồi mà vẫn y nguyên như vầy.

Đoạn bà quay sang chúng tôi.

- Chịu khó dọn dẹp chỗ này là có chỗ ở được. Người ta cho thuê một trăm nghìn một tháng. Nếu có tiền thì đóng cả năm, không có thì đóng từng tháng. Không khó khăn gì đâu.

Mẹ tôi “dạ”. Người đàn bà quày quả đi ra, bảo phải về chuẩn bị cho buổi chợ sớm mai với thúng rau gánh ra chợ bán. Bà ta đi rồi, còn lại ba mẹ con chúng tôi. Mẹ tôi tìm chỗ khả dĩ sạch sẽ nhất trong ngôi nhà để đặt hành lý và em tôi ngồi lên đó. Mẹ đưa mắt nhìn quanh nhà. Ngôi nhà cũ nát, tường chưa trát vôi bị mối mọt đục lỗ chỗ, mái ngói thâm xì. Chắc người chủ đã bỏ hoang nó quá lâu và người khác đến ở đây, biến nó thành trại nuôi vịt. Mẹ bảo, từ nay chúng ta sẽ ở đây. Dọn dẹp sạch sẽ thì sẽ tốt hơn những chỗ ở trước. Tôi không lấy gì ngạc nhiên. Tôi đã quen với những ngôi nhà xập xệ, xiêu vẹo, không thể phân biệt rõ rang việc định danh giữa nhà hay chòi, hay lều. Ở đó, chúng tôi chui rúc sống tạm bợ, giấc ngủ bị nước mưa nhỏ long tong trên người đánh thức. Chúng tôi vẫn sống, vẫn tồn tại, giống thứ cây cỏ dại ven đường. Không còn tha thiết gì hơn, không dám ngước lên hy vọng nữa. Tôi đã trông thấy những ngôi nhà tường trát vôi trắng, mái ngói đỏ, cửa kính sáng loáng, cổng đóng kín. Tôi đứng ở xa nhìn. Tôi không biết ước ao về nó, không thèm khát.

Mẹ và tôi dọn dẹp ngôi nhà. Đến trưa mẹ sang chào chủ nhà. Đó là người đàn bà lớn tuổi, có khuôn mặt phúc hậu, tóc bạc trắng, lưng bắt đầu còng xuống. Bà bế em tôi đặt lên ghế ngồi cạnh bà, nựng nịu hai bầu mẹ nó. Bà hỏi tôi tuổi gì. Tôi bảo tuổi Thìn. Bà bảo bà cũng có đứa cháu tuổi Thìn. Tuổi này là tuổi bay. Người nhưng biết bay. Bay mãi, không bao giờ dừng lại đâu. Tôi cười, không hiểu gì. Bà lại bảo, nhà của cháu bà là nhà kia, ngôi nhà chúng tôi vừa dọn đến. Cả nhà nó vào Nam sống hết rồi. Mấy lần quay về đòi bán đất đi nhưng bà không chịu. Cứ giữ lại, biết đâu sau này sa cơ thất thế, còn có nơi rúc về. Bà còn nói thêm gì đó nữa. Cuối cùng thì tôi biết, chúng tôi sẽ ở đây, cách nhà nội, nhà ngoại chúng tôi bốn mươi km. Chiều đầu tiên, mẹ tôi dắt tay tôi ra đường, chỉ về phía xa, quê hương, họ hàng của con ở đó. Con thấy không? Tôi nhìn về phía xa ngái ấy, chỉ thấy những chuyến xe nối nhau đi đến. Không có cảm xúc gì đặc biệt.

Sáng hôm sau, mẹ đi chợ mua xoong nồi, chén bát, thức ăn. Bữa cơm đầu tiên ở nơi xứ lạ, mẹ đốt nhang, đặt hai chén cơm ngoài hai ngôi mộ không tên sau vườn, lẩm nhẩm cầu khấn. Xong, chúng tôi ngồi ăn cơm. Chúng tôi bắt đầu bước vào cuộc sống mới. Những cuộc sống mới nối tiếp nhau sau những làn chuyển nhà. Tôi không thấy buồn, không vui, càng không hy vọng.

Buổi tối, ba mẹ con nằm ngủ trên chiếc giường rộng một mét tư. Sau đó, bà chủ nhà lấy lại giường. Bà nói, đó là giường tân hôn của vợ chồng con bà, không thể cho ngủ lung tung được. Mấy mẹ con ngủ trên tấm bạt nilông, trên trải tấm chiếu. Tay em tôi bấu chặt cánh tay mẹ. Nó thường giật mình hoảng hốt giữa đêm khuya. Tôi và mẹ không biết em tôi đã nhìn thấy gì, chỉ đoán, hẳn là những điều sợ hãi kéo dài dai dẳng. Em tôi vẫn không nói được. Mẹ tôi đã hy vọng, vẫn cứ hy vọng một ngày nó sẽ biết nói. Còn tôi, tôi lại nghĩ, đôi khi không nói được sẽ hay hơn nhiều. Tôi tập cách câm lại không câm được.

Thời gian đầu, mẹ tôi xin đi phụ hồ chúng với mấy người đàn ông, đàn bà trong xóm mới. Có mấy người ở đây từng biết mẹ khi họ đi Tây Nguyên hái cà phê. Họ dẫn mẹ theo. Buổi sáng, mẹ thức dậy từ năm giờ, chuẩn bị bữa cơm mang theo, chuẩn bị phần cơm cho chị em tôi. Mẹ dặn tôi trông em, tắm giặt, dọn dẹp nhà. Đến tối mịt mẹ mới về nhà. Chiếc xe đạp lọc cọc xóc đá báo cho chúng tôi biết mẹ đã về. Em tôi nhảy cẩng lên vui sướng, bặt chặt lấy mẹ. Thường mẹ tôi sẽ lấy cho nó miếng bánh, trái chuối mẹ đã để giành từ phần ăn nửa buổi của mình. Tôi nhìn em tôi ăn ngon lành, tôi không ăn. Tôi buồn. Tôi đã biết hình thù nỗi buồn như thế nào, đã quá thân thuộc với nó. Nỗi buồn dài như khoảng thời gian tôi chờ mẹ về mỗi ngày, nó ám mùi của mồ hôi, vôi vữa trên bộ quần áo mẹ mặc mỗi ngày. Nỗi buồn mang khuôn mặt người - khuôn mặt của ba chúng tôi.

Tôi không nói về nỗi buồn tôi đã cảm nhận với mẹ. Tôi sợ nhân lên nỗi buồn trong mẹ tôi. Tôi cười, tôi nói, tôi tíu tít mỗi khi mẹ đi làm về. Tôi kể cho mẹ những việc xảy ra trong ngày. Sáng nay, con nấu cơm cho em ăn. Em ăn hết hai bát, lăn ra ngủ. Em ngoan lắm mẹ ạ! Tất nhiên tôi sẽ giấu đi vết bỏng ở tay, sẽ giấu luôn việc em tôi bị một đứa lớn hơn đánh, tôi đánh lại nhưng cũng không mạnh bằng nó. Tôi chỉ biết ôm em vào lòng, dỗ em, nghe uất hận trào lên. Tôi biết, tôi không thể chờ đợi cuộc sống yên bình đến với mình. Ở bất cứ nơi nào chúng tôi đến, người ta cũng sẽ không để cho chúng tôi yên. Nơi nào cũng có những khuôn mặt khắc khổ. Họ khổ quá nhiều rồi và họ sẽ trút nỗi khổ ấy lên chúng tôi. Trút lên chúng tôi thì dễ dàng hơn vì chúng tôi tứ cố vô thân, chúng tôi an phận, chúng tôi không chống trả.

Tôi đã từng tin trên cuộc đời này có một thế lực vô hình nào đó ở quanh con người, chìa bàn tay ra, giúp đỡ con người khi họ cần. Những người được giúp đỡ là những người gặp nhiều bất trắc trong cuộc đời, không kháng cự lại được. Như khi mẹ tôi nói với tôi “Ở hiền gặp lành”. Tôi đã tin như thế. Tôi đọc kinh vào những đêm rằm tôi lên Chùa. Tôi đọc kinh có đoạn “Nam mô đại từ, đại bi, vứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát” như một cái máy. Tôi đọc những quyển sách ố vàng, “Tu nhà”, “Thập đại đệ tử truyện”. Tôi đọc chúng trong hố xí, vì tôi không biết tìm nơi nào để có thể yên tĩnh đọc. Tôi trốn ngủ trưa, trốn những giấc ngủ ma mị, nhét quển sách vào bụng, phủ lần áo lên và chui tọt vào đó đọc. Mùi của sự huyền diệu. Mùi khăm khẳm của phân, mùi của ảo mộng mơ tưởng hoà vào nhau. Cho đến khi tôi lớn, tôi biết rằng, chẳng có Thần Phật nào ở bên cạnh mình cả. Chẳng ai cả. Nếu mình không tự giúp mình, sẽ chẳng ai giúp mình. Khi ấy, tôi không còn tin Phật. Tôi cất những quyển kinh Phật, cất những câu chuyện huyễn hoặcvào sâu trong trí óc .

Không còn tin vào Phật nữa. Tôi không còn tin ai. Không còn tin vào tôi, hay bất kỳ ai. Tôi không biết tôi xấu hay tốt, lương thiện hay ác độc. Tôi đã hỏi tôi hàng trăm lần, rằng tôi lương thiện hay độc ác? Dường như tôi sinh ra, tôi tồn tại chỉ để hỏi câu hỏi ấy. Bao giờ tôi tìm ra được câu trả lời, tôi sẽ không còn trên đời này nữa. Nếu tôi ác, tôi thành ác quỷ. Nếu tôi thiện, tôi hoá thành thần tiên sống ở cõi Niết Bàn. Đường đi vẫn để hai ngã rẻ cho tôi.

Đi phụ hồ được một tháng, mẹ tôi phải nghỉ việc vì bị thương. Tảng đá to dùng để xây móng nhà rớt xuống chân mẹ, đè dập ngón chân giữa. Bác sĩ bảo phải tháo khớp, hai tháng mới đi lại ổn định được. Mẹ nằm trên giường, bàn chân băng trắng. Mẹ nhìn hai chị em tôi, nỗi buồn len sâu trong mắt. Bác sĩ bảo mẹ phải ăn nhiều đổ bổ cho mau khoẻ, lấy lại sức. Nghe xong câu ấy, tôi bỗng muốn cười to lên quá thể. Cười nhưng không biết vì sao mình cười? Số tiền tích góp của mẹ đã sắp hết, chúng tôi còn không biết sống sao cho những ngày sắp tới, lấy đâu… Cười vì cách nhìn quá khác biệt của những con người cùng có đôi mắt với chức năng nhìn. Vị bác sĩ kia đâu thể hiểu nỗi lo cái chết vì đói có thể ập đến bất cứ lúc nào.

Tôi nấu cơm, dè sẻn chuẩn bị bữa ăn cho cả nhà. Buổi sáng, tôi nấu khoai, chọn hai củ khai nhỏ nhét vào cặp mang đi học. Tôi nhìn thạp gạo vơi đi mỗi ngày, canh cánh nỗi lo. Tôi không muốn chết vì đói. Tôi sợ. Mẹ tôi đọc được nỗi sợ hãi trong mắt tôi. Mẹ tôi vờ cười nói, vờ bảo mẹ sắp khỏe rồi, không còn đau nữa.

Nghỉ dưỡng thương được một tháng, mẹ tôi xin đi làm lại nhưng đoàn người đi phụ hồ đó đã nhận mấy thanh niên khoẻ khoắn, làm việc nhanh gấp đôi. Mẹ tôi xoay sang đi bán rau. Được vài hôm bị mấy người hàng chợ chửi, đạp đổ rau vung vãi vì mẹ dám cướp chỗ của họ. Mẹ tôi không quen với mấy lời miệt thị tục tĩu nên không đi bán rau nữa. Chị em chúng tôi chia nhau củ khoai, bát cơm trắng với mắm. Giữa lúc ấy có người đàn ông người Tàu, trước đây ở trong Nam có gần chỗ chúng tôi. Vô tình ông gặp lại mẹ, hỏi han về cha tôi. Ông hỏi chúng tôi sống thế nào? Biết được hoàn cảnh, ông chỉ cho mẹ tôi nghề bán bánh bao đã nuôi sống gia đình ông. Ông cho mẹ mượn hai chỉ vàng mua sắm đố đạc, đóng xe. Trước lúc đi, ông chậc lưỡi, dường như là xót xa.

- Nghề này cực khổ, đi lại đêm hôm khuya khoắt nguy hiểm, vốn chỉ dành cho đàn ông. Thôi thì ráng chịu cực, sau này khá hơn thì đổi nghề.

Mẹ tôi cảm ơn, nài ông ở lại ăn cơm nhưng ông từ chối.

Nửa tháng sau đó, mẹ bắt đầu bán bữa bánh bao đầu tiên. Chiếc xe đẩy, tiếng máy hát, mùi bánh bốc lên từ xửng hấp thơm phứt nghi ngút khói khuất dần. Em tôi đứng nhìn tủ kính có những cái bánh bung nở trắng như bông thèm thuồng, mê hoặc. Cuộc đời mẹ tôi từ đây sẽ gắn liền với việc đẩy chiếc xe bánh ấy đi khắp đường lớn, ngõ nhỏ, đi đến đêm khuya. Mẹ tôi sẽ đẩy chiếc xe mưu sinh bấp bênh ấy cho đến hết cuộc đời mẹ. Nó sẽ rút cạn sức lực mẹ, trả về cơn đau nhức mỗi khi đêm đến trở về nhà. Nó sẽ làm mẹ lao lực, khô quắt đi. Sức lực mẹ bị rút ra trút vào những vòng chuyển động của bánh xe trên đường. Cuộc đời mẹ chuyển động theo bánh xe và cuộc đời tôi cũng thế.

Mẹ đã đi trên những con đường nhựa, xe cộ qua lại ồn ào, tiếng máy hát ò e không át được tiếng còi xe. Mẹ đã đi trên những con đường thôn quê nhỏ hẹp, lầy lội, bùn ngập ngang bánh xe, mẹ phải cật lực đẩy. Tất cả những con đường mẹ đi đều cố gắng bán đi những cái bánh bao với giá một nghìn đồng một cái đem lại sự sống, cái no cho chúng tôi. Ở xóm nhỏ chuyên sống bằng nghề nông này, công việc của mẹ tôi là thứ đáng ghen tỵ. Mấy người đàn bà bắt đầu xì xào với nhau rằng, mẹ tôi đi bán bánh bao thì ít, chủ yếu đi bán hai cái bánh bao trên người. Và mẹ tôi đẩy xe bánh bao vào thị trấn, gửi ở đó rồi đi dù với mấy gã đàn ông. Mẹ tôi là đĩ kín tiếng . Mẹ tôi nghe hết. Im lặng. Mẹ tôi bảo, miễn mình trong sạch, không thẹn với lòng mình là được con à! Tôi dạ. Lòng tôi uất hận. Trong lòng tôi đã dâng lên nỗi thù ghét với những người nhìn soi mói vào chúng tôi. Mụ đàn bà mắt lé xẹ luôn nhìn qua cửa sổ xem hôm nay nhà chúng tôi như thế nào, ăn uống ra sao, có ai lai vãng đến nhà tôi không? Sau đó mụ sẽ đi buôn chuyện với những mụ đàn bà rãnh rỗi thừa thãi không biết làm gì ngoài ghen ghét người khác.

Một đêm mưa, mẹ đẩy xe về nhà rất khuya. Thời gian đã đi về sáng. Tiếng động phát ra khiến tôi giật mình, bật mình ra khỏi chờ đợi. Mẹ tôi bị mắc kẹt ở con đường lầy lội, bùn ngập nửa bánh xe. Mọi lần như thế, mẹ nhờ người đẩy hộ. Nhưng đêm nay, trời mưa to. Mẹ tôi gọi những người qua đường giúp, không ai dừng lại. Mẹ tôi bị bỏ rơi giữa sình bùn lầy lội với chiếc xe mưu sinh nặng trịch. Cơn mưa ầm ập, bóng đêm đen đặc. Mẹ chỉ còn biết mình phải về nhà. Phải về vì hai đứa con đang trông mong mình. Trong đầu mẹ không còn ý nghĩ sợ hãi nữa. Mẹ dồn hết sức lực mình vào bánh xe, đẩy, chèn kéo.

Và mẹ tôi đã thắng.

Đêm đó, lúc nằm bên tôi, hình như mẹ tôi đã khóc. Tôi không chắc dòng nước thấm ướt gối có phải là nước mắt hay không? Có thể đó là nước mưa, nước giếng đọng lại trên mắt lúc mẹ cố gột rửa đi bùn đất. Tôi mong dòng nước ấy là dòng nước mắt. Mẹ ơi! Hãy khóc đi. Khóc vì bị bỏ rơi giữa cuộc đời này. Mẹ đã bị bỏ rơi bao nhiêu làn giữa cuộc đời? Người đàn bà mười tám tuổi bị đuổi ra khỏi nhà, đuổi khỏi quê hương xứ sở khi bụng mang hình hài đứa trẻ. Năm năm sau, giữa nơi đất khách quê người, người đàn bà ấy lại bị bỏ rơi một lần nữa. Những “lần nữa” như thế cứ nối đuôi nhau, bằng hình thức này hay hình thức khác. Ở đâu đó trong ngã ba của thị trấn nghèo, buồn tẻ, bên chiếc xe bánh bao phát bản cải lương buồn, cạnh những mặt người lướt qua, có lẽ mẹ tôi đã chết, đã thành bức tượng đá khô đét chết rồi. Là tượng nên không còn biết đau, biết oán than. Và tôi, tôi cũng chết rồi, chết như mẹ tôi. Tôi không còn biết khóc, nhưng trái tim tôi đau. Tôi không nấc lên từng hồi đau đớn, nhưng trái tim tôi đã vỡ vụn. Rủng roảng kêu.





CÒN TIẾP ....



© tác giả giữ bản quyền.
. tải đăng theo nguyên bản tác giả gởi từ Sài Gòn ngày 13.10.2009 .

. TÁC PHẨM CỦA YẾN LINH CHỈ ĐĂNG TẢI TẠI NƯỚC NGOÀI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM