GIỜI CAO ĐẤT DÀY



CHƯƠNG X


Mùa Thu ở vùng biển cạn cũng đìu hiu chẳng khác mấy mùa đông. Biển trắng, không còn rừng; bờ cát trắng, không còn cây khiến cái đìu hiu càng thêm cô quạnh. Từ ngày hoà bình các đội tàu thuyền đánh cá lại tiếp tục ra khơi, nên cũng làm cho không khí vùng biển nhộn nhạo thêm một chút. Thuyền bây giờ không còn căng buồm như trước nữa mà gắn máy đuôi tôm chạy xé nước. Sau ngày thống nhất đất nước máy đuôi tôm ở phía Nam tràn ra, nhờ thế mà người đánh cá bằng thuyền cũng nhàn nhã thêm đôi chút.
Ngoài việc đi đánh cá bằng tàu thuyền, còn đa đa dân làng Bùi vẫn ra biển bòn bới con cáy con còng. Khi rừng sú vẹt bị đốn, biển chỉ còn một bãi lầy ngút ngát mênh mông. Cua biển, cá bớp không có nơi trú ngụ, nên cũng không có người đi xét cua, bắt cá bớp. Bù lại cáy còng sinh sôi nảy nở rất nhiều. Dân làng Bùi ai cũng biết câu cáy, lớn lên đã câu cáy giỏi, không biết câu cáy không phải người làng Bùi. Có Chi đoàn thanh niên còn đề ra khẩu hiệu: Không biết câu cáy không kết nạp vào Đoàn.
Mùa thu người câu cáy cũng ít dần, chủ yếu câu vào buổi chiều khi nước triều rút. Thuần cũng đi câu cáy, nhưng thực ra là để dò xét người đàn bà có khuôn mặt ngu ngu, ác ác, dâm dâm. Đã bao lần Thuần mò mẫm cả vào trong đồng giữa ban ngày nấp trong bụi dứa để quan sát cũng không thấy.
Thuần bực lắm, bắt Sa đi chợ hỏi người ta tông tích cô Bi? nhưng Sa đi không lại về rồi, không có kết quả gì. Thuần quyết định mỗi tối Thuần bò vào vài nhà nghe ngóng theo dõi, được mươi tối Thuần tìm ra một ngôi nhà chỉ có một bóng người từa tựa như người đàn bà Thuần đang theo dõi ngoài biển. Người đàn bà mặc mỗi chiếc áo đông xuân màu trắng, chiếc quần đen cong queo hết vào giường nằm, lại ra ngưỡng ngồi. Chiếc đèn dầu hoa kỳ leo lét một chấm sáng đặt ở chân cột, hình như bà ta đợi chờ ai, xem ra có vẻ nóng ruột lắm. Căn nhà tồi tàn đến mức Thuần nghĩ chỉ cần đẩy nhẹ là có thể đổ sụp. ở ngoài hiên có một đôi quang tre treo ở góc thềm, trong cái quang tre có một chiếc rổ, trong rổ có hai chiếc bát mẻ, một chiếc đĩa cóc gặm và một đôi đũa, như vậy nhà bà ta chỉ có một người. Nếu là người mà bấy lâu nay Thuần cần tìm thì con gái bà ta đâu? có lẽ nó đã đi lấy chồng rồi, ngần ấy năm trời còn gì. Thế thì đúng rồi, nhất định mụ ta đây,Thuần phải xác minh cho thật chính xác rồi Thuần sẽ xử theo cách của Thuần. Hết đêm nay, rồi đêm mai, nhiều đêm thể nào cũng có người sang chơi, đã sang chơi thế nào cũng gọi tên.
Thuần đang mải suy nghĩ thì có người đi tới. Đó là một người đàn ông, đứng ở ngõ nhưng không gọi mà tự động nhấc chiếc cổng tre rồi lanh lẹ đi thẳng vào trong nhà. Người đàn bà tắt phụt chiếc đèn, hạ tấm liếp xuống, rồi không biết họ làm giời làm đất gì trong đó, áp người vào sát vách Thuần chỉ thấy ngôi nhà ọp ẹp run lên bần bật. Thôi kệ chúng mày, làm gì cũng được, Thuần chỉ cố nghe cho được chúng gọi tên nhau là xong. Nhưng rồi cơn động cỡn của hai đứa kết thúc, chúng cũng không hề hé răng nói với nhau nửa lời, thì ra chúng im lặng để tận hưởng. Đến khi chia tay, họ lẳng lặng cấu vào háng nhau một cái rồi biến.
Chán quá, Thuần trở về thì đã nửa đêm, chui vào trong chăn quặp chặt lấy vợ hít hà, luồn tay vào chỗ ấm nhất, ngủ. Đêm sau Thuần tiếp cận từ chín giờ tối, bí mật buộc chặt cái cổng tre ọp ẹp lại, hy vọng nếu có ai đến chơi thì phải gọi chủ nhà mở cổng, nhưng đợi đến 12 giờ đêm cũng không thấy ma nào đến. Không sao, Thuần đã chờ đợi quá nửa đời người rồi, bây giờ có chờ đợi thêm vài ngày, thậm trí vài tháng cũng được.
Một buổi chiều, khi nước triều vừa rút, Thuần lội bãi lầy ra rừng sú vẹt kiểm tra cái bẫy bắt cá bớp thì bất chợt gặp mụ ta đang luồn rừng bắt trộm tổ cò. ái chà chà, mụ cả gan thật, dám đến khu rừng cấm của Thuần mà bắt trộm, mà khiêu khích, giờ tận số của mày đến nơi rồi con ạ. Chờ cho mụ trút xong vài cái ổ trứng cò vào giỏ, bất ngờ Thuần xông ra. Vừa nhìn thấy Thuần mụ rú lên như gặp phải ma. Mụ định chạy, nhưng hình như chân mụ quýnh lại. Mụ sụp xuống vái lấy vái để, vái đến nỗi đầu vục cả xuống bùn, miệng lắp bắp không ra lời.
Chờ cho mụ bình tĩnh trở lại, Thuần hỏi:
-Ta hỏi mụ phải trả lời cho đúng. Trả lời đúng ta thả cho về. Trả lời sai một tiếng ta giết ngay. Rõ chưa? Ta nhắc lại... chỉ cần trả lời sai nửa câu lập tức mụ phải chết ngay!
Người đàn bà vái lia lịa và vâng dạ rối rít.
Thuần nói:
- Mụ tên gì?
- Rạ, tên... Biển ạ.
Thuần xông đến, gầm lên:
- Nói láo, tao giết!
Thuần đưa bàn tay cụt trắng ởn ra định túm cổ áo. Mụ ta co rúm lại, mặt nhợt bạch như bị cắt hết tiết.
- Nói mau, tên gì? Ông cho con hủi vào mồm bây giờ.
Người đàn bà lắp bắp:
- Ông tha cho con, đừng cho hủi vào mồm con, con thẽ lói thật.
- Được, nói mau!
- Rạ , rạ... tên con... con... nà... Bi ạ.
Thuần thoáng cười nhẹ, thôi rồi, con ơi, tao tìm con suốt gần một đời người để trả mối hận thù, bây giờ tao sẽ xử mày như chúng mày xử bố tao.
Thuần hỏi tiếp:
- Bi! Mày có nhớ tao không?
- Rạ... con... không nhớ ạ.
- Có thật, không nhớ không?
- Rạ thật ạ.
Thuần xoay thế đứng hỏi tiếp:
- Mày có nhớ ông Ro bị đội cải cách xử bắn từ năm 1955 không?
- Rạ... ông Ro thì... con có nhớ.
- Tao là Thuần con trai ông Ro đây.
Mụ Bi mở to đôi mắt ang ác, ngu ngu, dâm dục nhìn Thuần ngỡ ngàng một lúc, rồi như trong bộ óc bã đậu của mụ bỗng nhớ ra, mụ sụp xuống vái lia lịa:
- Con nạy ông, ông tha cho con, ông tha cho con...
- Im ngay! Nghe tao hỏi -Thuần cắt ngang lời mụ -tại sao ngày ấy mày dám vu oan giá hoạ bố tao? Vì những điều vu cáo của mày mà bố tao phải chết oan.
- Rạ thưa ông, con có biết rì đâu. Ông Đội về ở nhà con, tập cho con lói sao thì con lói vậy thôi, chứ con không biết rì thật ạ.
- Có đúng thế không?
- Rạ đúng như vậy ạ. Ngày ấy cậu còn nhỏ cậu đâu có biết... Ông đội bảo sao phải nàm vậy, không nàm là chết ngay ạ. Con cũng biết, ông nhà ta tốt với con nắm, chứ con cũng không ngờ sự thể nại đến như thế ạ.
- Thế ông Đội đâu?
- Con cũng không biết lữa... hoà bình xong ông Đội về, một người ở nhà con, hai người lữa ở nhà chú Thỉnh và cô Hải. Xong việc họ nại biến đi hết, nàng Bùi không ai biết tên họ, cũng không ai biết họ ở đâu ạ.
Ngừng một lát mụ Bi tiếp tục giãi bày:
- Họ bảo sao con nàm vậy, rồi họ đưa con nên nàm chủ tịch xã, con biết rì mà nàm. Họ đi con nại xuống trở về cái kiếp nàm thuê mướn, đúng cái nghề truyền kiếp của nhà con ạ. Đi nàm thuê thì suốt đời nghèo khổ, cơm cũng chả đủ ăn vì thế con gái con ốm mà phải chết vì không có thuốc. Đời con cũng khổ nắm cậu ạ. Sau vụ ấy dân nàng coi con như con chó, con nợn. Cậu thương con, con cũng khổ như cậu thôi ạ.
Thuần nghe mụ nói thấy có lý, mụ ngu đần biết gì đâu mà nói, nếu không có người bày vẽ. Bảo sao mụ làm vậy, bảo mụ làm chủ tịch mụ cũng làm, bảo mụ ăn cứt mụ cũng ăn, suy cho cùng mụ cũng là nạn nhân mà thôi. Kiếp của mụ là kẻ tôi tớ, thì trước sau mụ cũng trở về đúng kiếp tôi tớ. Mụ không có tội thật, nếu có tội thì chỉ là tội ngu. Ngu mà làm bà cốt cán, làm chủ tịch thì gây biết bao tai hoạ cho dân. Kẻ có tội chính là mấy ông Đội, nhưng ông Đội lại không có tên, không có địa chỉ thì làm sao mà Thuần trả thù được. Thuần cảm thấy thương hại mụ Bi, ngôi nhà của mụ như chiếc chuồng vịt, còn không bằng gian bếp của vợ chồng Thuần. Mụ sống độc thân, không chồng, không con, mụ bám vào con cáy, con còng ngoài biển để sống, mụ ngủ với đủ hạng người để chìa tay lấy vốc cáy mang về đút miệng, đời như thế là khổ, như thế khác gì con vật.
Thuần đưa con dao lên gãi gãi ở cổ, nói:
- Cha tao có công với làng Bùi này, vậy mà chúng mày vu cho cha tao là Quốc dân đảng rồi mang ra xử bắn. Cha tao chết mà vẫn phải ngậm oan. Tao căm thù chúng mày!
- Cậu mới nớn nên nại đi xa không biết, chứ hồi cậu bỏ đi được mấy tháng, ở nhà người ta minh oan và khôi phục đảng tịch cho cha cậu. Nghe đâu ở tên Tung ương nhận vụ này sai, ông gì nhớn nắm cũng bị kỷ luật. Cậu mới về cậu không biết lên uất ức nà phải, từ ấy đến rờ không ai được phép lói nại vụ lày. Nàng ta có ông Bão ở câu nạc bộ thơ nàm bài thơ kể nại cái ngày ấy suýt toi mạng, bị chi bộ thi hành kỷ luật. Từ ấy cả nàng sợ, không ai rám lói lữa.
Biết cha được minh oan, khôi phục lại danh dự, Thuần cũng thấy có chút hởi lòng hởi dạ. Chỉ có điều gia đình Thuần tan nát mất rồi, mọi người đã chết và không thể sống lại được nữa, cuộc đời Thuần thân tàn ma dại như thế này. Thuần chém con dao cắm vào thân cây sú vẹt, nhìn xuống đất ngậm ngùi. Mụ Bi thấy Thuần nguôi nguôi, nói tiếp:
- Nhớn như Nhà lước còn có núc sai, cậu bảo ngu đần như tôi sao không nhầm nẫn được chứ. Con người ta ai chả có núc sai sót. Xin cậu tha thứ cho tôi. Cậu tha thứ, cậu nhớ?
Thuần không còn lý do gì để trả thù nữa. Có lẽ nó cũng chỉ là sự nhầm lẫn gì đó chứ như cô Bi chẳng rắp tâm hại cha Thuần. Cô ngu nên bị người ta lợi dụng, và cô đã nhầm lẫn biến ân nhân thành kẻ thù của mình. Làm sao mà cô không biết cha mẹ Thuần cưu mang mẹ con cô, chỉ có kẻ tâm thần mới không hiểu. ở đời nhiều khi cũng thế thật, sự ngu dốt thường dẫn đến nhầm lẫn, nhầm lẫn trở thành kẻ ác. Kẻ cố ý giết người và kẻ nhầm lẫn, hoặc sơ ý mà giết người khác nhau hoàn toàn. Kẻ nhầm lẫn, hoặc sơ ý có thể tha thứ được, nếu tha thứ được là tốt nhất, bởi vì tha thứ chính là cách trả thù của người chính nhân. Nếu như Thuần không tha thứ con quái vật thì làm sao có một con quái vật hiền lành như bây giờ. Giết người suy cho cùng chỉ là cách giải toả lòng hận thù của mình mà thôi, mà nếu cần giải toả thì còn nhiều cách khác không phải giết người.
Sau khi tha thứ cho mụ Bi, đêm về Thuần suy nghĩ và tự lý giải như thế để trong lòng thanh thản. Khi đã nằm úp lên người Sa, lắp ghép đâu vào đấy tự dưng Thuần có cảm giác hoà bình, yên ổn, cả thế giới hết khổ đau, hết hận thù... chỉ còn có Sa và Thuần lúc này thôi.

Thuần bàn với Sa bây giờ kinh tế cũng kha khá, điều kiện cũng tạm ổn phải sang cát cho bố mẹ và chị gái, chần chừ để lỡ ra Thuần không may có mệnh hệ gì thì việc lớn của đời không làm được, ân hận lắm. Thuần bàn vậy Sa đồng ý ngay, cô đi chợ lần lượt mua về ba chiếc tiểu sành, sắm đủ hương, nến... chuẩn bị cho ngày trọng đại.
Đêm cuối thu trời không lạnh lắm, trăng 17 chênh chếch ngọn tre. Biển cạn gầm gào như có sóng ngầm ngoài khơi xa, mênh mông tít tắp có một chiếc tàu đỗ, bóng điện lung linh như những vì sao, gió hơi se lạnh.
Thuần đứng nhìn ra khơi thêm một lúc nữa rồi trở lại cùng Sa chuẩn bị cuốc xẻng vào trong nghĩa địa sang cát cho bố mẹ và chị. Thuần chọn ngày 17 để trăng đêm trọn vẹn soi sáng cho tiện công việc. ý định của Thuần đêm nay hai vợ chồng phải đào cho xong cả ba ngôi mộ, bốc cốt vào ni nông mang về, để sáng hôm sau xếp cẩn thận vào từng chiếc tiểu, đêm sau tiếp tục hạ huyệt. Thuần ngại nhất là ra nghĩa địa lại gặp cảnh phiên toà xử như mấy lần trước thì phức tạp lắm. Quả thế thật, hai vợ chồng phải chờ cho tiếng súng nổ xong mới tiến đến ba ngôi mộ. Thuần đào mộ cha trước, bởi Thuần cho đây là ngôi mộ quan trọng hơn cả, cha chết còn đang bị trói, cần phải được giải oan ngay, sớm lúc nào hay lúc ấy. Khi Thuần dỡ nắp quan tài ra, chiếu đèn pin xuống, trời ơi! Cha Thuần nằm sấp, những sợi dây thừng trói cha không hiểu sao không mục rữa, còn nguyên vẹn quấn ngang người, trong khi đó quần áo, thịt da đều đã bị tiêu hết, mấy chục năm rồi còn gì. Cha ơi, hôm nay con rửa oan cho cha nhé, con sẽ cắt đứt những sợi dây thừng, vòng dây oan nghiệt trói cha mấy chục năm qua để cha được thanh thản ngậm cười nơi chín suối. Cha ơi, ai cũng được giải oan, nếu như bị oan ức, chỉ có điều không sớm thì muộn thôi cha ạ, con sang cát cho cha cũng hơi muộn, nhưng cũng may con còn sống, trở về mà làm được. Con giải oan cho cha chính là giải oan cho con, để cha con ta không còn hận thù với ai nữa, như thế là tốt cha nhỉ?
Khấn cha xong Thuần bước xuống đưa lưỡi dao cắt đứt vòng dây thừng. Lưỡi dao vừa chạm, vòng dây bỗng đứt ra, rồi bùng một cái sợi dây thừng bay vút lên trời cao.
Thuần hơi giật mình, và ngay sau đó trấn tĩnh ngay được. Thuần nghĩ, lời khấn của Thuần đã ứng nghiệm, có lẽ cha đợi mấy chục năm rồi chờ có ngày hôm nay để cha mãn nguyện mà từ đất trở về với trời, và cũng để cho con thanh thản sống, phải không cha?
Nghĩ thế và Thuần yên tâm bốc trọn tất cả xương cốt, từ mẩu nhỏ nhất cũng không để sót, đưa vào cái bọc ni nông gói túm lại. Cốt mẹ, cốt chị cũng thế, mỗi người Thuần lấy một sợi dây buộc đánh dấu riêng để tránh lẫn lộn. Về đến túp lều thì trời vừa sáng. Hai vợ chồng tắm rửa, cơm nước xong, Sa nấu một nồi nước ngũ vị bê ra sân, họ bắt đầu làm công việc gọi là tắm rửa cho cha mẹ sạch sẽ và xếp vào tiểu. Thật lạ, bốn vòng dây thừng quấn ngang người vẫn còn hằn những nốt trăng trắng trên hai khúc xương cánh tay. Thuần xem kỹ, rồi lấy khăn lau cũng không sạch, bảo Sa lấy chiếc thìa nhôm cạo cũng không phai, đến khi rót nước ngũ vị lên thì tự dưng những nốt hằn bỗng biến hết. Thuần mừng quá, xếp thứ tự cốt cha vào tiểu. Khi xếp hết, trên tấm ly nông sót lại một mẩu bằng đầu ngón tay út màu vàng, Thuần nhặt lên xem kỹ hoá ra một chiếc đầu đạn bằng đồng. Thuần nghĩ ngay đến chiếc cát tút mẹ trao cho trước khi mẹ trút hơi thở cuối cùng, liền lật vạt áo, nặn chiếc cát tút trong gấu áo ra, rồi đem chiếc đầu đạn lắp vào, nó vừa khít.
Mồ yên mả đẹp cho cha mẹ và chị xong, hai chục hôm sau, nhân ngày mồng một đầu tháng, hai vợ chồng Thuần sắm ba cái lễ, một lễ cúng tại nhà, một lễ ra nơi cha mẹ và chị yên nghỉ ngàn thu, một lễ ra nghĩa địa cũ nơi cha mẹ và chị đã nằm mấy chục năm qua. Thật mừng, nghĩa địa cũ, nghĩa địa mới đều không còn diễn ra cảnh phiên toà xử cha như trước nữa, quang cảnh nghĩa địa êm đềm huyền ảo trong sương khuya.
Một buổi sáng, Thuần không ra biển vì nước triều đầy bờ, tỷ tê lấy viên đạn ra xem. Viên đạn có hai phần, phần dưới là chiếc cát tút, nó chứa hạt nổ và thuốc nổ, phần trên là đầu đạn một đầu nhọn, một đầu bằng, ngoài bọc đồng sáng, trong chỉ là một mẩu chì đen. Phần cát tút là nguyên nhân, là động cơ thúc giục; phần đầu đạn là vật thực hành, chỉ có thế mà nó giết được người. Thuần lau kỹ và xem đi xem lại, hoá ra chiếc cát tút vẫn còn dòng chữ. Thuần đọc mãi vẫn không được, đưa cho vợ xem cũng không nốt. Thuần bảo Sa lấy chiếc mẹt, luận từng chữ rồi viết phóng lại. Hoá ra đó là dòng chữ của nước ngoài. Ngẫm nghĩ mãi rồi Thuần quyết định mang viên đạn ném xuống biển. Khi viên đạn lặn xuống, nước biển bỗng sủi tăm như sôi, một cơn sóng chồm lên xoá hết dấu vết rồi mặt biển lại hiền hoà trở lại. Con cá heo quen thuộc bỗng xuất hiện, nó chìa cái đuôi hình lá cờ đuôi nheo vẫy chào, Thuần vui quá, con cá về bao giờ cũng mang điềm lành đến, đuổi điềm dữ đi.
Thuần bâng khuâng đứng dưới mép nước dõi theo con cá heo rẽ sóng ra khơi xa. Biển xanh mêng mông đã trở thành máu, thành thịt của đời Thuần, dòng sông Diêm hiền hoà lượn lờ xuôi ra biển cả, xa xa dãy núi Đồ Sơn nhấp nhô như bức tường thành, rừng sú vẹt còn lại của Thuần đang ngụp lặn gội mái đầu xanh dưới sóng biển. Một con rắn biển đuổi bắt con cá loi choi. Bị đe doạ, chú cá bé tíu nhảy tốp tốp trên mặt nước, rồi vội vàng nhảy phắt đậu lên bắp chân, leo lên đùi, lên bụng Thuần cầu cứu. Thuần đưa bàn tay hấng chú cá bé nhỏ đưa lên vuốt ve âu yếm. Dưới bãi cát những con dã chàng bu kín xung quanh Thuần, có con còn bò cả lên mu bàn chân. Thuần quay lại, nói:
- Nào, hỡi các bạn thân yêu của ta. Các bạn hãy lại đây cùng ta hát vang bài ca hoà bình, đoàn kết.
Thuần nói để được nói vậy thôi, điều muốn nói chính là phải cảm ơn loài động vật sinh sống trên vùng biển cạn này, không có lũ chúng chắc Thuần đã chết. Chết vì đói đã đành, nhưng còn chết vì cô độc. Chúng vừa là bạn, vừa là ân nhân, là làng xóm, quê hương của Thuần.
Đàn chim phía sau Thuần bỗng nháo nhác như có ai xua đuổi. Thuần chạy lên đê quan sát, không có gì hết, lũ chúng nó đùa chơi với nhau thôi. Thuần thẫn thờ nhìn vào làng Bùi. Làng Bùi đấy, làng Bùi gan góc dạn dày trong mưa bom bão đạn. Làng Bùi nhân hậu, công bằng nhưng làng Bùi cũng đầy rẫy những bất công, những chua chát. Dân làng Bùi vốn dĩ sống có nghĩa có tình, chỉ có lúc, có người bất nghĩa thôi. Làng Bùi bao dung như ngày nào toàn dân xông lên che chắn cho cha Thuần khỏi bị trúng đạn. Thuần tin vậy, tin một ngày nào đó dân làng Bùi lại dang rộng cánh tay đón Thuần vào lòng.
Thuần thanh thản trở về lều, thấy vợ đang nằm nghiêng trên giường, chợt nhớ câu : “ Tiền rời, thóc đống, vợ nằm nghiêng”, thế là Thuần sà xuống luồn tay vào bụng vợ. Thuần giật mình ngồi dậy bóc áo vợ ra xem, hai cái núm vú Sa thâm thâm, bụng đây đẫy. Thuần áp tai vào bụng vợ, rồi ngẩng lên nhìn vào đôi mắt đẹp của Sa. Sa cười giơ bàn tay thon thả ra làm hiệu: “Chúng mình sắp có con rồi, anh ạ”.


Ngày 25 tháng 7 năm 2005
Ngày 05 tháng 3 năm 2006

© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải ngày 23.09.2009 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội .
. TÁC PHẨM CỦA BÙI THANH MINH CHỈ ĐĂNG TẢI TẠI NƯỚC NGOÀI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM