Nhà văn Lưu Văn Khuê - hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng - đã có gần 30 năm cầm bút sáng tác văn học, chủ yếu viết truyện cho thiếu nhi, với những cuốn truyện vừa Hành tinh màu da cam (NXB Kim Đồng - 1991) - tác phẩm đoạt Giải thưởng của Trung ương Đoàn và Hội Nhà văn Việt Nam, Có một mùa bóng đá (NXB Kim Đồng - 1990) mới đây được Hãng phim Giải Phóng dựng thành phim U14 đội bóng trong mơ . Đầu mùa thu năm nay, Lưu Văn Khuê có liền 2 tiểu thuyết mới được NXB Hải Phòng cho ra mắt bạn đọc. Tiểu thuyết Một thời vệ quốc (đã giới thiệu trên Phongdiep.net) viết về những năm tháng của đất nước trong thời kì "ngàn cân treo sợi tóc", từ sau Cách mạng tháng Tám đến ngày nổ ra “Sự kiện Hải Phòng”, ngày đánh dầu cho thành phố Cảng mở đầu ở Miền Bắc bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp. Còn tiểu thuyết lịch sử Mạc Đăng Dung viết về thân thế và sự nghiệp một danh tướng đã lập lên vương triều Mạc cùng những thăng trần của đất nước ta trong thế kỉ XVI. Đây là cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu tiên viết về đời Mạc. Bắt đầu từ hôm nay, Phong Điệp lần lượt giới thiệu với bạn đọc toàn bộ nội dung cuốn tiểu thuyết này.

Lời giới thiệu của nhà văn nữ Phong Điệp .



    PHẦN THỨ NHẤT

Thời Thế Tạo Anh Hùng

14

Đêm tháng Giêng, có một người cưỡi ngựa vào Lôi Dương xứ Thanh, đến đầu huyện thì bị quân bản địa giữ lại xét hỏi. Người ấy cũng chỉ mong vậy để dễ dàng gặp được Trịnh Tuy.
Người ấy xưng tên là Nguyễn Sĩ, từ Đông Kinh vào. Sĩ nói:
- Vua Thánh Tông có 14 hoàng tử, Kinh vương Lê Kiện là con út. Mẹ các hoàng huynh, từ hoàng tử trưởng đến người thứ sáu nếu không là Hoàng hậu hay thứ phi thì cũng là Sung viên, cùng lắm là Tài nhân, nhưng từ người thứ bảy trở đi mẹ chỉ là nàng hầu. Chính vì vậy, Kinh vương bị những người anh có các bà mẹ danh gía coi thường. Điều oái oăm là cả Kinh vương lẫn mẹ đẻ của vương lại được nhà vua hết sức yêu chiều. Điều đó cũng không có gì khó hiểu vì mẹ của Kinh vương trẻ nhất trong số các phi tần cung nữ được gần vua, nghe nói bà kém nhà vua tới gần 40 tuổi. Khi vua Thánh Tông còn sống Hoàng hậu và các bà phi chỉ biết ngậm bồ hòn làm ngọt, nhưng vua mất đi, họ hùa vào làm tình làm tội mẹ con Kinh vương và còn nói rằng chính vì bà mà nhà vua sớm suy kiệt thể lực. Hiến Tông lên ngôi rồi tiếp đấy là Uy Mục. Uy Mục đế nghi ngờ hết thảy tôn thất vì chỉ sợ họ cướp ngôi, do đó luôn luôn nghĩ đến chuyện làm hại họ. Kinh vương tuy là bậc chú vua cũng không tránh khỏi tai vạ đó nên quyết rời bỏ kinh thành, mai danh ẩn tích tìm thú nhàn tản ở nơi thôn dã. Khi Tương Dực chiếm ngôi của Uy Mục, có người khuyên Kinh vương trở lại kinh thành, vương bảo: “Oánh là bày tôi mà lại giết vua, là em mà lại giết anh, người ấy cũng không khác gì Uy Mục đâu”. Về sau quả như vậy. Kinh vương sống yên phận đến mức thiên hạ nhiều người không biết kết cục ra sao, thậm chí có người còn bảo vương đã bị vua Hiến Tông giết chỉ vì vương được vua Thánh Tông yêu! Nhưng người vợ của Kinh vương thì không chịu yên phận. Phu nhân luôn ấm ức vì tiếng là vương phi mà sống không khác gì kẻ cùng đinh, vì vậy bà quyết bế con trai là Lê Do về kinh thành để gặp vua Tương Dực, xin được che chở. Đúng lúc đó xảy ra chuyện các đại thần trừ diệt Tương Dực. Phu nhân vẫn quyết không về với Kinh vương, sau vì đau buồn nên phu nhân ốm mất, trước khi mất có đưa cho con trai chiếc quạt này vào bảo: “Đây là chiếc quạt có bài thơ của vua Lê Thánh Tông do chính tay nhà vua viết và tặng bà nội của con. Bà trao cho mẹ, bảo mẹ truyền lại cho con, đó là bảo vật, khi cần thì dùng, ắt sẽ được việc.”. Ai cũng biết triều đình có đại ấn và tiểu ấn, riêng Thánh Tông còn có thi ấn dùng để đóng vào các bài thơ của mình. Xin mời ngài xem.
Trịnh Tuy cầm lấy chiếc quạt xem qua rồi đưa cho Trịnh Duy Liệu. Liệu giỏi văn chương, ham thơ phú và đã được đọc một số bài thơ của vua Thánh Tông từ chính tay nhà vua viết nên xác nhận bài thơ trong chiếc quạt, từ nét chữ đến nét ấn đều đúng là của Thánh Tông.
Nguyễn Sĩ nói tiếp:
- Biết tướng quân có ý không phục đương kim Hoàng thượng nên tôi đến đây xin giúp.
- Ta hiểu ý ngươi. Có phải ngươi muốn ta dựng con của Kinh vương... Ngươi nói ông ta tên là gì nhỉ?
- Thưa tướng quân, tên là Lê Do, năm nay 11 tuổi. Hiện đang chờ ở chòi cá bên sông.
Duy Liệu lộ rõ vẻ thất vọng, trong khi đó Trịnh Tuy cười ha hả:
- Hay lắm! Càng dễ cho ta!
Trước đây Trịnh Tuy có cho người ra Bắc liên hệ với Nguyễn Kính, cùng lập Lê Bảng là con Tĩnh Tu công Lê Lộc, xưng niên hiệu là Thiên Đức để chuẩn bị làm việc thoán nghịch. Trịnh Tuy về Thanh Hoa mang Lê Bảng theo. Lê Bảng tuổi cũng khoảng như Lê Do nhưng địa vị trong hoàng tộc không cao lại đau ốm luôn nên nay được Lê Do, Trịnh Tuy ưng ý lắm.
Nguyễn Sĩ dẫn Trịnh Tuy và Trịnh Duy Sản ra chòi cá để gặp Lê Do. Bấy giờ Lê Do đang xem người ta đánh cá, vì nghịch, mở giỏ cá ra xem được bao nhiêu con nên Do làm mấy con nhảy xuống sông mất, sợ quá, bỏ chạy và bị tay ngư phủ vớ hòn đất ném theo trúng lưng. Thấy vậy Nguyễn Sĩ rút gươm định giết người đánh cá thì Trịnh Tuy ngăn lại, bảo:
- Đấy là điềm tốt. Thời Xuân Thu Chiến Quốc bên Bắc quốc, công tử Trùng Nhĩ phải cùng một số bày tôi lưu vong. Đến Ngũ Lộc thì đói quá nên họ phải xin ăn. Người ở đấy chẳng những không cho mà còn đùa cợt, đưa cho nắm đất bùn. Trùng Nhĩ và bày tôi có kẻ thấy thế định giết người đó, Hồ Yển bảo: “Bùn cũng tức là đất, dân cho chúng ta đất là một điềm tốt”. Về sau quả nhiên Trùng Nhĩ làm vua nước Tấn. Chúng ta cũng vậy đang mong được đất nay lại có người cho đất!
Trịnh Tuy bảo Lê Do lậy tạ người đánh cá và ban thưởng cho y một quan tiền khiến y ngớ ra không hiểu gì cả. Trịnh Tuy truất bỏ Lê Bảng ngay hôm đó, lại cho người đánh cá năm quan tiền nữa để sai đem Bảng ra giữa sông dìm chết cho khỏi phiền phức về sau, đồng thời lập Lê Do làm vua, đặt niên hiệu mới là Thiên Hiên. Lê Do tôn Trịnh Tuy làm phụ hoàng. Bàn việc tiến quân ra Bắc, Trịnh Tuy nói:
- Thanh Hoa tuy có Tây Kinh, lại là nơi dựng nghiệp tân vương nhưng không thể lấy làm kinh đô lâu dài cho cả nước được vì từ lâu thiên hạ đã quen hướng về Đông Kinh. Vậy nên hành điện mai sau sẽ tạm đặt ở Miêu Nha, huyện Từ Liêm, hiện do quân Tây Sơn nắm giữ. Vì Miêu Nha nghe dễ lẫn với Gia Miêu quê quán của đám Nguyễn Hoằng Dụ, Nguyễn Kim nên nay đổi thành Do Nha.
Nguyễn Sĩ hỏi bao giờ sẽ tiến quân. Trịnh Tuy đáp:
- Quân Thuỷ Chú của tôi lúc nào cũng có thể lên đường được ngay, chỉ e thừa cơ quân Tống Sơn lại đánh úp Lôi Dương!
Nguyễn Sĩ nói:
- Bao lâu nay hai họ Thuỷ Chú và Tống Sơn đều đề phòng nhau và bên này đều lo bị bên kia đánh úp nhưng tôi thấy điều đó chưa hề xảy ra. Tôi lại nghiệm rằng cứ khi nào họ Trịnh ra Thăng Long thì họ Nguyễn liền ra theo. Vì sao? Vì chúng sợ họ Trịnh chiếm mất vua. Ta ra Bắc lần này chắc chắn cũng sẽ thế vì vậy hãy chớ lo cho Lôi Dương này.
Trịnh Tuy khen:
- Ông nói chí lý lắm. Nhưng dẫu sao vẫn cứ phải đề phòng.
Trịnh Tuy liền để Trịnh Duy Liệu ở lại giữ Lôi Dương còn mình cùng Lê Do, Nguyễn Sĩ đi đường bộ kéo quân ra Bắc.
Từ lúc từ chối đem quân ra Bắc cứu giá, Nguyễn Hoằng Dụ bồn chồn không yên và lấy làm hối hận. Nghe quân do thám cho biết Trịnh Tuy đem quân ra Bắc, Hoằng Dụ càng rối hết ruột gan nên than thở với con:
- Từ khi Thái úy Trịnh Quốc công theo phò vua Thái Tông, nhất là từ khi con gái cụ được vua Thánh Tông phong làm Huy Gia hoàng hậu rồi trở thành Hoàng Thái hậu mẹ vua Hiến Tông, họ Nguyễn ta đến nay trải qua sáu, bảy mươi năm không lúc nào không có đại thần trong triều, cả họ trở thành rường cột của quốc gia. Vậy mà chỉ trong một lúc nóng giận từ chối không đem quân cứu giá, bao nhiêu công lao bị chính ta phủi sạch; tạo điều kiện cho Mạc Đăng Dung từ một ngư phủ quê mùa ở Cổ Trai, chỉ trong vòng 15 năm bỗng trở thành đệ nhất công thần nhờ hoà hoãn được với quân Sơn Tây, chẳng những không tốn một mũi tên, không mất một tên lính mà còn làm triều đình trong một lúc mất liền ba vị Ngự sử đại thần! Giờ đây bọn họ Trịnh lại ra Bắc, lập Lê Do làm Thiên Hiên, sắp tới tình hình không biết thế nào. Ta thật đáng trách, thật không ngu dại nào bằng!
Nguyễn Kim thưa:
- Cha yên tâm, triều đình chẳng những không bỏ được chúng ta mà còn cần chúng ta hơn bao giờ hết!
Dứt lời Nguyễn Kim vỗ tay ba cái, từ sau bình phong một người bước ra, đó là Bích Khê hầu Lê Công Uyên.
- Truyền cha con Nguyễn Hoằng Dụ nghe thánh chỉ! - Lê Công Uyên cao giọng dõng dạc, Nguyễn Hoằng Dụ, Nguyễn Kim vội quỳ xuống.
Chiêu Tông có chỉ thăng Nguyễn Hoằng Dụ làm Thái uý; Nguyễn Kim làm Điện tiền chỉ huy sứ. Lệnh cho Hoằng Dụ mang quân Tam phủ ra kinh đô phò thiên tử.
Trao chỉ xong, Lê Công Uyên bảo Nguyễn Hoằng Dụ:
- Lần này vào đây, e tướng quân lại từ chối như lần trước nên tôi phải đến với An Thanh hầu trước. Đăng Dung tuy có công lui được quân Sơn Tây, nhưng thực ra y chỉ hoà hoãn được với bọn chúng chứ đâu đã trừ được tận gốc nên hoạ vẫn còn. Triều đình không thể dựa vào riêng Đăng Dung được vì không dám tin hẳn vào y. Cách đây không lâu chính y đã giết hai đại thần Đỗ Nhạc và Nguyễn Dự chỉ vì họ làm trái ý y. Đăng Dung bề ngoài thực thà ngay thẳng, miệng nói toàn những lời trung nghĩa nhưng bên trong biết đâu lại ngầm chứa mưu gian. Trước đây họ Thuỷ Chú và họ Gia Miêu là rường cột của quốc gia nhưng từ khi Duy Đại âm mưu thoán nghịch, Duy Sản lộ chân tướng là cha nuôi của Trần Chân, Trịnh Tuy thì cùng phe cánh với Chân, chỉ còn họ Nguyễn là chỗ dựa của triều đình mà thôi, vậy nên xin tướng quân gạt bỏ tuổi tác, chớ phụ lòng mong mỏi của Hoàng thượng, ra ngay kinh đô nắm quyền lớn, có thế mới ngăn ngừa được mọi hiểm hoạ.
- Triều đình còn chưa yên tôi chưa thể nhắm mắt được! Thế tướng quân đã biết việc Trịnh Tuy dựng Lê Do làm vua và liên kết với quân Sơn Tây, hiện đang tiến quân ra Bắc chưa?
- Có chuyện ấy ư? Lê Do là ai, tôi chưa từng nghe tên. Trịnh Tuy tìm đâu ra người ấy vậy?
- Ông là người trong ngoại thích của hoàng tộc mà còn không biết sao! Nghe nói Lê Do mới 11 tuổi, là con Kinh vương Lê Kiện. Lê Do chẳng qua chỉ là đồ phường chèo trong tay Trịnh Tuy mà thôi! Bọn Trịnh Tuy kéo quân ra Bắc nhưng không thể theo đường sông đường biển được vì không có thuyền lớn, cửa Hới lại do quân của tôi đóng giữ. Chúng phải theo đường bộ nên gặp rất nhiều trở ngại. Mưa gió bấy nay đã làm con đường hạ đạo chỗ cây cối rậm rạp, chỗ thì lầy lội, quân vừa đi vừa phải mở đường. Tôi tuy khởi binh chậm nhưng đi đường biển nên chắc chắn sẽ ra Đông Kinh trước.
Hoằng Dụ để Nguyễn Kim ở lại Tống Sơn; sai Đinh Công Lương, Đinh Công Đống làm tiên phong mang 50 chiến thuyền dong buồm ra Bắc. Lương, Đống là con Thượng thư Bộ Binh, Văn Thắng hầu Đinh Công Nhiếp, là cháu Chinh Lỗ đại tướng quân, Trung Mục vương Đinh Liệt, khai quốc công thần triều Lê.
Hoằng Dụ ra tới kinh đô, quả nhiên quân Trịnh Tuy còn chưa tới nơi. Vua Chiêu Tông thân hành ra tận cửa Đại Hưng để đón Hoằng Dụ. Vua tôi cùng vì cảm động. Chiêu Tông cho quân Tống Sơn nghỉ ngơi vài ngày rồi sai Hoằng Dụ cùng với Đăng Dung tiến đánh Sơn Tây. Hoằng Dụ hăng hái muốn lập công đầu, Đăng Dung nhận đánh trận thứ hai.
Hoằng Dụ xuất trận, cưỡi ngựa Nê đề, hai tướng họ Đinh hai bên. Phía quân Sơn Tây, Nguyễn Kính cưỡi ngựa ô câu, Nguyễn áng, Nguyễn Hiêu hai bên, sẵn sàng tiếp chiến. Nguyễn Kính tiến ra hỏi:
- Triều đình cam kết với ta không bên nào xâm hại bên nào, nay lại cho tiến quân là cớ làm sao?
- Thiên hạ tất cả đều của Hoàng thượng, làm gì có chỗ nào là của nhà ngươi! Nếu quân Sơn Tây hạ giáo quy hàng thì còn đường sống, chống lại thì chết. Gương giặc Tuân, giặc Cảo còn tầy liếp ngươi không nhớ sao?
- Lão già sắp chết kia nghe đây: Quang Thiệu nghe lời gièm pha vô cớ giết hại trung thần làm cho thiên hạ đại loạn. Mệnh trời giao cho nhà Lê sắp hết, núi sông nay không chỉ là của nhà Lê nữa, ai mạnh người nấy được, khôn sống mống chết. Được làm vua thua làm giặc, ta muốn vậy thì sao?
Nguyễn Hoằng Dụ nổi nóng:
- Bên kia đừng có nói lôi thôi, càn rỡ. Muốn đấu tướng, đấu quân hay đấu binh pháp?
Nguyễn áng ghé tai Nguyễn Hiêu nói: “Đấu binh pháp là đấu cái quái gì? Bày trận bảo là cửa sinh cửa tử rồi phất cờ phất quạt loạn lên cho bụi mù bụi mịt! Anh em mình đấu tướng.”. Nguyễn áng vác đao tiến ra. Đinh Công Lương thúc ngựa đối địch. Hai người quần đảo tới năm hồi trống rồi bên nào về bên ấy, bất phân thắng bại. Đến lượt Nguyễn Hiêu, bên kia thì Đinh Công Đống, cũng không ai thắng ai.
Nguyễn Kính chờ cho Nguyễn Hiêu về đến hàng quân mới thúc trống cho toàn quân giáp chiến. Quân Tống Sơn đi đường xa suốt mấy ngày liền vẫn còn mỏi mệt nên thua chạy. Nguyễn Kính sợ có phục binh nên cũng lui quân.
Hôm sau, Đăng Dung ra trận. Thấy Đăng Dung, Nguyễn Kính mắng luôn:
- Ta có nói với ngươi mấy điều, ta rút về Sơn Tây, ta không động đến triều đình, triều đình cũng không được động đến ta, sao triều đình sớm bội ước vậy?
- Không phải triều đình bội ước mà chính ngươi phản lại triều đình.
- Hiện nay nhà Lê chỉ còn hư danh, từ người anh hùng đến kẻ thảo khấu đều chờ dịp xưng hầu xưng bá. Ta chỉ là tướng dưới quyền Thiết Sơn tướng quân, đến tước tử, tước nam ta còn không được phong mà dám đường đường một cơ đồ; ngươi là bậc anh hùng đời nay, làm đến Vũ Xuyên hầu, trong tay vài nghìn binh mã, vài chục chiến thuyền sao chịu núp bóng hư danh mãi thế? Ngươi là chỗ thông gia với Thiết Sơn tướng quân nên ta thành thật khuyên ngươi hãy cùng ta, người xứ Đông người xứ Đoài cùng nhau mưu tính nghiệp lớn, không thì trước sau kẻ khác cũng sẽ làm như vậy, đến lúc đó ngươi có hối cũng không kịp.
Mạc Đăng Dung nổi giận quát:
- Ta tới đây là để bắt ngươi chứ không phải nghe những điều phản nghịch. Ngươi có dám đấu tay đôi với ta không?
Nguyễn Kính thúc con Ô câu tiến ra, Đăng Dung cũng cưỡi con Cát mã đối địch. Khi hai bên đến gần, Nguyễn Kính nói chỉ đủ cho Đăng Dung nghe thấy:
- Lúc nãy tôi nói những điều tâm huyết, mong tướng quân suy nghĩ.
Đăng Dung bảo:
- Tôi không có ý ra quân, nhưng nhà vua sai cùng với Hoằng Dụ đến đây thì phải đi. Nếu tướng quân nhường tôi thì tôi cũng nhường tướng quân. Ngày mai đến lượt Hoằng Dụ đánh trận tiếp, tuỳ tướng quân định liệu. Nhưng nếu ngày mai không xong, phải đánh sang ngày kia thì lúc đó tôi không thể nhường được.
- Tôi bằng lòng, xưa đã không được cùng tướng quân thử sức tranh Trạng nguyên võ thì nay âu là dịp thử sức nhau chơi!
Hai bên giáp chiến. Mạc Đăng Dung lão luyện, Nguyễn Kính trẻ trung hăng hái. Hai bên đánh nhau đến năm mươi hiệp vẫn không phân thắng bại. Đường đao của Đăng Dung biến hoá bao nhiêu thì ngọn thương của Nguyễn Kính cũng khó lường bấy nhiêu. Quân sĩ hai bên cứ ngay người ra mà nhìn. Đánh dăm hiệp nữa rồi Nguyễn Kính bảo ngừng, về sai Nguyễn áng ra đánh, bên này Mạc Quyết vào trận, tiếp đó Hoàng Duy Nhạc đánh với Mạc Đốc. Đến trưa, nắng lên hai bên cùng rút về trại.
Nguyễn Hoằng Dụ có ý không bằng lòng và trách Đăng Dung:
- Tướng quân vốn là Đô đầu Đại lực sĩ mà không thắng nổi tên vô danh tiểu tốt Nguyễn Kính! Cứ tướng đấu với tướng như thi võ như thế này thì biết bao giờ mới lui được giặc! Ngày mai tôi sẽ quyết chiến với giặc, có gì thì tướng quân tiếp ứng.
Hôm sau, không phải Hoằng Dụ mà chính quân Sơn Tây tấn công trước. Nguyễn áng bên phải, Hoàng Duy Nhạc bên trái, Nguyễn Kính đi giữa. Kỵ binh toàn dùng ngựa Tam Đảo, Ba Vì, Tản Viên, giống ngựa ta lai với ngựa Mông Cổ, Thổ Phồn từ đời nhà Trần, con nào con nấy như mãnh hổ. Hoằng Dụ sai Công Lương đón đánh Nguyễn áng, Công Đống đánh Duy Nhạc còn mình cùng mấy tì tướng đi giữa. Gần trưa, quân Hoàng Dụ bị dồn tới bờ hồ nước lớn gọi là hồ Đồng Mô. Hoằng Dụ thét lớn: “Chỉ vài bước lùi nữa là chúng ta bị rơi xuống hồ hết, sao không cố đánh để mà sống?”. Quân Dụ quyết chiến nên quân Sơn Tây phải lui.
Trong một tuần, hai bên đánh nhau mấy trận liền, không phân được thua. Vừa lúc ấy, Trịnh Tuy và Lê Do ra tới Từ Liêm. Nguyễn Kính, Trịnh Tuy từ hai phía đánh lại, Hoằng Dụ và Đăng Dung thua to. Hoằng Dụ nhằm phía Đông mà chạy, mũ vướng cành cây rơi mất. Nguyễn Kính cứ nhằm người cưỡi con ngựa trắng khoang đen mà đuổi. Một tì tướng của Hoằng Dụ thấy vậy liền đổi ngựa cho chủ. Nguyễn Kính đâm chết viên tướng ấy mới biết mình bị mắc lừa nhưng ngay đó lại nhằm người không có mũ, râu tóc bạc phơ để đuổi, trong khi đuổi dừng lại bắn ba phát tên, một mũi trúng lưng Hoằng Dụ. Dụ cắn răng nhịn đau đeo tên mà chạy. Kính lại nhằm bắn con ngựa của Hoàng Dụ, đến phát thứ hai thì trúng, con ngựa đau quá lồng lên hất Dụ ngã xuống đất. Nguyễn Kính vứt cung phóng giáo tới. Bỗng từ bên đường một viên tướng từ đâu chặn lấy mũi giáo của Kính:
- Không được hại An Hoà hầu!
Đó là Mạc Đăng Dung. Biết không địch nổi, Nguyễn Kính quay ngựa. Đăng Dung cũng không đuổi theo.
Hoằng Dụ chạy thẳng tới phường An Hoa và bến Thái Cực bên bờ Nhị Hà, quân sĩ biết vậy cũng lục tục đến đấy, mười phần chỉ còn ba, bốn. Tự liệu không thể thắng được Nguyễn Kính và Trịnh Tuy, trong khi đó có tin từ Thanh Hoa, Trịnh Duy Liệu cùng Trịnh Duy Thuân, Trịnh Duy Duyệt chia quân làm ba đường tiến đánh Tống Sơn, Hoằng Dụ liền dâng biểu tạ tội lên Chiêu Tông rồi không đợi chỉ dụ, ngay ngày hôm đó rút về Thanh Hoa. Về đến Tống Sơn mới biết tin họ Trịnh đánh Tống Sơn chỉ là kế nghi binh của Trịnh Tuy. Từ đó Hoàng Dụ trở nên u uất, cùng với vết thương chưa khỏi hẳn và tuổi cao khiến Hoằng Dụ trở bệnh, lúc đầu còn nhẹ, sau mỗi lúc thêm trầm trọng. Biết không qua khỏi, Hoằng Dụ gọi Nguyễn Kim vào dặn:
- Cha đã trải qua đến sáu đời vua, những tưởng qua được năm Đoan Khánh, năm Hồng Thuận, đến năm Quang Thiệu thì được thấy anh quân, triều đình sẽ vững lên, ai ngờ mỗi lúc một thêm xuống dốc. Vua Quang Thiệu là người hiền đức nhưng không gượng lại được với thời vận. Từ chuyện chia rẽ trong hoàng tộc đời Đoan Khánh nay thành chuyện cát cứ phân liệt. Cha mang ân lộc triều đình rất nặng nên bao nhiêu năm nay cúc cung tận tuỵ hàn gắn, vua sai đi đâu đi đấy không kể tuổi tác, ai ngờ lực bất tòng tâm, đã vỡ lại càng làm vỡ thêm! Trần Chân ngày trước có là cái gì, Kính, áng càng không là cái gì, ru rú một góc Sơn Tây nào ai biết tới! Mạc Đăng Dung ngày trước cũng có là gì, chẳng qua chỉ là kẻ võ biền ở vệ Thiên Vũ, chỉ biết chăm chắm lo cho trấn Sơn Nam chứ có đi được đâu, vậy mà bây giờ chỉ nghe tên y thôi, bọn Quốc công, Quận công đại thần đã khiếp vía, nhà vua cũng phải e nể. Tình thế đã vậy, đáng lẽ lúc này các hoàng thân và đại thần phải ráng sức xây đắp thì lại phá thêm, nhân lúc rối ren đục nước béo cò âm mưu dựng người của mình lên để dễ bề sai khiến. Tệ hại nhất là bọn họ Trịnh. Trách chúng mà lại giận hoàng gia vì nguyên do cái tội phân liệt, làm cho thiên hạ chia rẽ. Cơ sự rối ren là chính tại hoàng gia đồi bại và tự hại mình, như Tương Dực đấy, bỗng chốc giết 15 hoàng thân. Con ạ! Thanh Hoa là đất dành cho kẻ anh hùng, ra Bắc, vào Nam tiến thoái đều thuận tiện; Đông thì biển, Tây thì nước Lão Qua, khắc ẩn khắc hiện khôn lường, gặp khi khốn cùng muốn chạy cho thoát thì không ai làm gì được. Triều đình bây giờ như căn nhà bao nhiêu cột cái cột quân cho đến rường xà đều mục ruỗng hết cả, tài của con gấp mười lần cha, nếu thấy không thể vực lại được triều đình thì hãy học cái cách của nhà Trần ngày trước mà thay đổi nó đi, đừng cố như cha mà nhọc công. Con cũng đã hơn 50 tuổi rồi, thời gian không còn nhiều đâu!
Nói xong, Hoằng Dụ thở dốc một hồi, ngực căng lên, mắt trợn ngược, tắt thở. Nguyễn Kim báo tang lên triều đình, vua Chiêu Tông nghe tin vô cùng thương xót, ban chỉ truy thăng làm Thái sư Trừng Quốc công.

Năm Quang Thiệu thứ tư (1519), vua Chiêu Tông sai Vũ Xuyên hầu Mạc Đăng Dung làm Đô đốc, được phép điều quân các nơi để đánh dẹp Lê Do, Trịnh Tuy, Nguyễn Kính. Đăng Dung sai người mang lệnh đi Sơn Nam, Hải Dương, Kinh Bắc, trong chưa đầy một tháng, các nơi mang quân về đông tới một vạn. Đăng Dung chia làm hai đường, đường thuỷ ngược sông Hồng tiến đánh Sơn Tây, đường bộ đánh Từ Liêm.
Mạc Đăng Dung cho người bí mật mang thư tới gặp Nguyễn Kính, bày tỏ lòng ngưỡng mộ và khuyên đầu hàng triều đình. Nguyễn Kính thấy tình hình đã khác nên bằng lòng án binh bất động, ai thắng thì theo. Đăng Dung liền đánh thẳng vào hành điện của Lê Do và Trịnh Tuy ở Do Nha. Trịnh Tuy sai người lên Sơn Tây cầu cứu Nguyễn Kính, lúc đó mới biết Kính khoanh tay ngồi yên. Trịnh Tuy, Nguyễn Sĩ thấy bất lợi bèn chạy về Thanh Hoa để bảo toàn lực lượng. Lê Do, Nguyễn áng chạy vào núi Viên Nam, sau này bị bắt ở đấy.
Nguyễn Kính, Hoàng Duy Nhạc xin hàng, giao hết binh lực cho triều đình, Đăng Dung dâng biểu xin vua tha tội cho họ rồi thu nạp làm thuộc tướng.
Xét công lao cứu giá, vua Chiêu Tông phong Mạc Đăng Dung làm Minh quận công, từ đó Đăng Dung ở lại kinh đô, chức Hữu đô đốc Tổng trấn Hải Dương tâu vua giao cho Nguyễn Bỉnh Đức. Vì Sơn Tây không có ai trông coi, Đăng Dung dâng sớ tiến cử Vũ Hộ làm trấn thủ. Vua bằng lòng cho Vũ Hộ tạm quyền coi giữ nơi này. Mấy năm sau, Vũ Nghiêm Uy nổi dậy ở Đại Đồng, Tuyên Quang, Đăng Dung tâu vua cho Vũ Hộ mang quân đi đánh. Vũ Hộ đánh được, bắt sống Nghiêm Uy đem về kinh trị tội, bấy giờ Chiêu Tông mới tin cậy cho Vũ Hộ làm Tổng trấn Sơn Tây, ban tước Quỳnh Khê bá.
Cuối năm, Phạm Gia Mô gả con gái mình cho Mạc Chính Trung, con trai con trai thứ của Mạc Đăng Dung. Đầu năm sau Đăng Dung gả con gái lớn là Ngọc Thọ cho Nguyễn Quốc Hiến. Cả hai đám cưới các quan trong triều đến mừng không thiếu một ai. Ngay Thái hậu và nhà vua cũng cho người mang quà mừng tới. Cuối năm, Đăng Dung tâu Chiêu Tông cho Nguyễn Quốc Hiến giữ binh trấn Sơn Nam, nhà vua chuẩn y.
Thiên hạ thái bình được một thời gian thì có tin từ phương Bắc báo về: Dư đảng của Trần Cảo năm xưa chưa trừ diệt hết nên nay con Cảo là Trần Thăng nổi lên chiếm giữ Thái Nguyên, Bắc Giang, Lạng Sơn, chặt đứt con đường sang sứ Bắc quốc, tình hình rất nguy ngập.


15

Hai đại thần là Nguyễn Hiến, Phạm Thứ cùng hai Đô lực sĩ là Nguyễn Thọ, Đàm Cử một hôm vào gặp Chiêu Tông. Họ nói: Quanh kinh đô có bốn trấn thì hai nơi Sơn Tây, Hải Dương tay chân Đăng Dung nắm giữ; Sơn Nam thuộc Dung một nửa, chỉ còn mỗi Kinh Bắc là không. Nếu nhà vua không có cách chặt bớt vây cánh của Đăng Dung thì sau này tai hoạ sẽ khó lường. Chiêu Tông bảo:
- Nguyễn Bỉnh Đức ở Hải Dương, Vũ Hộ ở Sơn Tây tuy là người của Đăng Dung, Nguyễn Quốc Hiến ở Sơn Nam cũng là người của Đăng Dung, sao trẫm lại không biết cơ chứ. Nhưng họ có được những quyền ấy là do triều đình, do trẫm chứ đâu do Đăng Dung. Họ mang ơn trẫm chứ không mang ơn Đăng Dung nên điều các khanh nói trẫm lưu ý nhưng không lo. Đăng Dung có công với triều đình, chỉ trong vòng ba năm mà đánh đông dẹp bắc, thu phục Sơn Tây, diệt được Lê Do, đuổi được Trịnh Tuy. Vũ Hộ thì lấy lại được Tuyên Quang khiến thiên hạ hơn một năm nay yên ổn, nay vô cớ rút dây động rừng, khác nào đang không lại đi xui người ta nổi loạn!
Nguyễn Hiến tâu:
- Dẫu sao bệ hạ cũng nên phòng xa. Con người ta thường có tính tự kiêu, mấy năm nay Đăng Dung lập nhiều công lao, không thể không tự kiêu mà sinh thói càn rỡ. Y chẳng đã giết Đỗ Nhạc, Nguyễn Dự vì làm trái ý y đó sao! Cho nên cần phải ngăn ngừa trước thói càn rỡ của y đi. Nay con Trần Cảo là Trần Thăng đang chiếm giữ Thái Nguyên, Bắc Giang, Lạng Sơn, chi bằng hãy điều Đăng Dung đi đánh dẹp ngay vào mùa đông này. Mạn ấy giá rét, quân sĩ sẽ cực kỳ gian khổ, có khi còn chết vì rét nên dẫu có thắng được Trần Thăng hay không họ cũng sẽ đem lòng oán giận Đăng Dung, gây tiếng xấu cho y khiến y bớt huyênh hoang, tự kiêu, tự mãn, lúc đó triều đình sẽ dễ bề sai khiến, tay chân của y triều đình cũng dễ bề điều khiển.
Nhà vua nghe theo, bèn triệu Đăng Dung vào cung bàn về việc chinh phạt Trần Thăng. Đăng Dung tâu:
- Trần Thăng không thể không đánh dẹp nhưng chờ tới hơn tháng nữa mới ra quân thì đúng vào mùa đông, mạn Bắc rất rét, thần e quân sĩ sẽ gian khổ. Vậy nên bây giờ còn đang thu, xin bệ hạ cho thần hành quân ngay.
Chiêu Tông không ngờ Đăng Dung lại sốt sắng như vậy nên bảo:
- Liệu chuẩn bị có kịp không?
- Thần nghĩ là kịp. Quân triều đình vừa đánh thắng quân phản loạn mấy xứ nên khí thế đang hăng, năm nay lại được mùa nên thóc lúa nhiều, quân lương đầy đủ.
Chả nhẽ lại cản trở nên Chiêu Tông bằng lòng, trong bụng nghĩ sẽ tìm cách dềnh dàng cung cấp lương thảo để Đăng Dung phải lưu lại lâu dài trên mạn Bắc, ít nhất là hết cả mùa đông sang đầu mùa xuân. Ngay hôm sau, Đăng Dung đến điện Quỳnh Vân nhận chỉ đi đánh Trần Thăng.
Mạc Đăng Dung bàn với Lễ Bộ thượng thư Phạm Gia Mô:
- Tôi sắp cầm quân lên mạn Bắc, nơi ấy vừa xa vừa lạ, chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn, lâu dài. Việc ở kinh đô đã giao cho Đăng Doanh, có gì cậy ông một tay. Tôi cũng đã dặn Vũ Hộ, Nguyễn Bỉnh Đức và Nguyễn Quốc Hiến các điều, có việc ông và Đăng Doanh sẽ gọi họ.
Phạm Gia Mô nói:
- Làm gì cũng phải chính danh mới thuận. Tôi tiếng là đứng đầu một bộ, hàm nhị phẩm nhưng chỉ trông coi việc lễ nghi, tế tự, yến tiệc, học hành, thi cử, khâm thiên, y viện chứ các việc quốc gia đại sự đâu có được tham gia, bởi từ xưa đến nay quyền ấy thuộc về năm phủ, các văn thần không liên quan đều không được tham dự. Nhưng năm phủ lâu nay làm được gì? Từ khi ông tham gia bàn chính sự còn khá chứ trước đây toàn hạng bất tài, xiểm nịnh và vụ lợi nên sinh ra những lời sàm tấu, vua càng nghe càng làm cho đất nước kỷ cương rối loạn. Sắp tới tướng quân đi xa, nhiều chuyện các phủ bàn bạc Đăng Doanh và tôi không được biết thì làm thế nào?
- Tôi sẽ tâu với vua sung ông vào Chính sự viện, Mạc Quyết giữ đạo Túc vệ, Đăng Doanh giữ điện Kim Quang.
Gia Mô nói:
- Được thế thì tốt. Còn tướng quân phải có quyền lực mạnh mới được, mặc dù quyền lực ấy tướng quân đã có nhưng cũng phải danh chính ngôn thuận. Mai tôi vào triều sẽ dâng bản bảo cử tướng quân làm Tiết chế, toàn quyền điều binh khiển tướng trong thiên hạ, có thế mới được.
Phạm Gia Mô đem việc bàn với một số đại thần, cùng nhau viết bản bảo cử tâu vua phong cho Mạc Đăng Dung làm Tiết chế các doanh thuỷ lục quân 13 đạo. Vua nghe theo và còn ban thêm cho Đăng Dung chức Thái phó.
Xong xuôi, chọn ngày tốt, Mạc Đăng Dung cất quân chia làm ba ngả lên đường. Đăng Dung đích thân dẫn một cánh quân, sai Đinh Mông làm tiên phong, Lê Bá Ly làm Tán lý quân vụ, tiến đánh thành Xương Giang. Mạc Đốc, Nguyễn Kính đánh Thái Nguyên, sau đó theo lối Võ Nhai sang hội quân cùng Đăng Dung ở Cần Trạm để cùng tới Chi Lăng. Mạc Quốc Trinh, Mạc Đĩnh Khoa đánh Lục Nam, Lục Ngạn, sau đó theo đường tiểu mạch tới Hữu Lũng rồi cũng hội quân cùng đánh Chi Lăng. Mạc ích Trưng đôn đốc quân lương.
Bị thua ở Đông Triều, Trần Cảo chạy lên mạn Bắc, chiếm mấy huyện ở Bắc Giang, sau đó đánh sang Thái Nguyên và tiến lên Lạng Sơn. Triều đình lúc này đang rối ren, hết Trần Chân lại Lê Do, Trịnh Tuy, Nguyễn Kính làm phản nên Trần Cảo lập cung điện ở Lạng Nguyên mặc sức tung hoành suốt 5 năm trời. Sau đó Cảo học theo vua Nhân Tông đời Trần, truyền ngôi cho con là Trần Thăng rồi cạo đầu làm sư, cùng với sư cũ của chùa Quỳnh Lâm là Công Uẩn lên núi đi tu, không ai biết tu ở chùa nào, từ đấy hoàn toàn mất tăm mất tích. Trần Thăng còn có tên là Cung, là con trưởng của Trần Cảo sau khi lên ngôi, cùng đám tay chân cũ của Cảo là Công Chinh, Thọ Sơn, Đình Tá lại càng hoành hành hơn trước, chẳng bao lâu đã có trong tay hàng vạn binh mã, chiếm cả một vùng rừng núi rộng lớn, hiểm trở.
Hơn một tháng trời, dọc đường quân triều đình đi qua, nơi nào địch chủ tâm kháng cự mới tiêu diệt còn thì dùng lời lẽ quy hàng những kẻ làm phản và phủ dụ dân chúng; quan lại trước đây chỉ những kẻ thông đồng làm phản mới bắt giết, còn những ai không cố ý, chỉ vì sợ hãi mà theo thì dùng lại. Do vậy ba đạo quân chẳng mấy chốc đã gặp nhau ở Hữu Lũng.
Nói chuyện với Đăng Dung, Mạc Đốc khen Nguyễn Kính:
- Không có Nguyễn tướng quân chưa chắc hôm nay em tới được đây. Đường toàn đường núi rậm rạp, tướng quân đi trước mở đường. Tới Thái Nguyên, Thân Anh Kiệt và Nông Văn Toàn cố thủ trong thành không chịu ra đánh. Nguyễn tướng quân bảo làm cho mình một chiếc xe cao ngang mặt thành, rồi cùng mười dũng sĩ chỉ mang mã tấu và mộc lên xe; người bên dưới đẩy xe tới sát tường thành, giặc bắn tên, Nguyễn tướng quân và các dũng sĩ lấy mộc đỡ được hết rồi tất cả nhảy lên thành quyết chiến, mười một người chống lại trăm người và xuống mở cổng thành cho đại quân tràn vào.
Nguyễn Kính nói:
- Tôi vốn có tội với triều đình, được Tiết chế tướng quân xin với nhà vua tha mạng, lại thu nạp làm tướng dưới trướng, ơn ấy không sao kể xiết, một chút công lao thì đáng kể gì. Mạc Đốc tướng quân mới thực sự là dũng tướng khó ai bì nổi.
Đăng Dung bảo:
- Ta được Nguyễn tướng quân thật như Lưu Bị ngày trước được Triệu Tử Long vậy. Cánh quân của ta đánh thành Xương Giang nếu không có tướng quân Đinh Mông cũng chưa chắc xong nổi bởi Xương Giang ngày trước giặc Minh đóng nên củng cố thành quách vững chắc lắm. Đinh tướng quân bắc thang trèo lên thành, dùng dây xích đeo truỳ quăng đâu trúng đó, giặc cách xa đến hơn mười bước chân vẫn chết như thường, khi quay xích thành vòng tròn quanh mình thì không một kẻ nào dám gần, bao nhiêu tên bắn tới đều bị dây xích đánh văng đi hết. Thật ta chưa thấy một ai giỏi đến thế.
Hành quân tới Chi Lăng thì trời đã tối, Đăng Dung cho quân hạ trại trên cánh đồng ruộng bậc thang. Mùa này khô cạn nên ruộng để không, lác đác mới có nơi trồng ngô. Lúc ấy đã gần cuối thu, dưới xuôi còn chưa lạnh nhưng ở đây đêm đến sương xuống rất buốt, nhiều người rét không ngủ được phải trở dậy đốt lửa sưởi, sáng ra thấy cành cây ngọn cỏ phủ một lớp trắng mới biết là sương muối.
Đầu giờ tị hôm sau quân triều đình đến cửa ải thúc trống khiêu chiến. Quân Trần Thăng đóng kín cửa ải nhất định không ra, quân triều đình đến gần thì chúng bắn tên xuống dày như lông nhím và còn chọc tức rằng: “Đây rừng tre rừng vầu bạt ngàn, tên của chúng ta vô số, bắn hàng chục năm không hết nhá! Tên lại đem ngâm nước đái lâu ngày, kẻ nào trúng phải chỉ có thối thịt mà chết!”. Chúng nói không sai, nhiều người bị tên dù chỉ bị nhẹ và đã được rịt thuốc, chỗ bị thương vẫn sưng đỏ lên rồi mưng mủ. Bị thương ở tay còn chịu được, bị ở lưng ở ngực ở bụng và nhất là ở đầu có người sau đó khoảng chục ngày đã chết. Năm sáu hôm liền như vậy. Trong khi đó lương thảo sắp cạn mà mãi không thấy Mạc ích Trưng cho xe lương lên. Bữa ăn phải bớt dần. Bụng đói cật rét, nhiều người tưởng không thể cầm nổi vũ khí. Quân sĩ bắt đầu hoang mang. Có người bàn sai quan bản xứ lấy thóc gạo của dân. Mạc Đăng Dung nói:
- Mạn ngược ruộng ít, thóc gạo chỉ đủ ăn nên chưa bao giờ triều đình bắt dân chúng cung nạp cho triều đình, mà thay bằng các sản vật trên rừng. Nay đi lấy thóc gạo của dân, dân sẽ ta thán, vô tình đẩy họ theo giặc Thăng.
Lê Bá Ly bảo:
- Tôi về kinh đô một chuyến xem sao.
Đang lúc ấy xe lương từ dưới xuôi lên tới nơi nhưng chẳng được bao nhiêu, áng chừng chỉ qua được vài ba ngày. Họ chuyển lời Mạc ích Trưng nói rằng bị Bộ Hộ gây khó khăn. Phạm Gia Mô kêu với vua, nhà vua bảo đấy không phải là việc của Bộ Lễ! Phạm Gia Mô và Mạc ích Trưng đành bó tay, chỉ biết cho người nói với Đăng Dung, bàn hãy rút quân.
Đăng Dung nín lặng hồi lâu rồi nói:
- Chúng ta vất vả ở đây cũng là vì triều đình, mấy kẻ ở Bộ Hộ không biết sao? Phạm Gia Mô đã lường trước chuyện này, nay quả nhiên không sai.
Đăng Dung liền viết tấu để Lê Bá Ly mang về kinh dâng vua đồng thời sai người đi gấp về Hải Dương yêu cầu Tổng trấn Nguyễn Bỉnh Đức điều gấp tới hai vạn thạch lương.
Lê Bá Ly đi được dăm hôm thì một chiều, có đoàn sứ giả triều đình từ kinh đô lên, Đăng Dung tiếp ở bản doanh. Chánh sứ trao cho Đăng Dung sắc chỉ của vua. Sắc viết:
“Trẫm thường nghe: Vì nước trừ bạo tàn, không quản nơi nguy hiểm, đó là chức trách của người làm tướng. Cho nên Điền Đan nước Tề dấn thân nơi tên đạn mà nước Địch quy hàng; Lý Tố nhà Đường xông pha gió sương mà bình định Hoài Sái. Các tướng ấy đều bảo vệ xã tắc và có công lớn với thiên hạ.
Khanh là người trẫm trông cậy. Nay giặc Thăng tụ tập dư đảng, chiếm cứ vùng Thái Nguyên, Lạng Sơn, triều đình phong cho khanh làm đô tướng, tiết chế các doanh thuỷ lục trong thiên hạ, chia đường đi đánh dẹp, vượt sông núi, gội gió mưa, phá quân giặc ở huyện Phượng Nhãn và Bảo Lộc, những nơi khanh đi qua binh sĩ không hề xâm phạm của dân một mảy may, các dân xã đó đều đã hàng phục. Đã mấy lần nhận được thư tâu thắng trận, trẫm rất khen ngợi.
Về việc quân lương chậm trễ trẫm đã trách cứ Bộ Hộ, mấy hôm nữa lương sẽ tới nơi, không thiếu một hạt gạo.
Nay sai Thiếu bảo Binh bộ thượng thư Cẩm Sơn hầu Lê Thúc Hựu, Tư lễ Tổng thái giám kiêm Tài dụng khố sự Lê Khoái và Tả thị lang Đông các đại học sĩ Nguyễn Quýnh đem tờ sắc chỉ này úy lạo khanh cùng tướng sĩ các doanh và 100 lạng bạc để khanh thưởng cho kẻ có công.
Khi nhận tờ sắc này, khanh nên thể theo ý trẫm: Lấy điều trung nghĩa khiách lệ tướng sĩ, đồng tâm hiệp lực, lập kế bắt giặc. Chỉ cốt bắt cho bằng được chính tên giặc Thăng, còn những kẻ a tòng đều tha cho hết thảy. Quét sạch tận sào huyệt bọn giặc ẩn núp đã lâu năm; cứu vớt dân địa phương khỏi lầm than, được an cư lạc nghiệp, để thông đường đi sứ, để trọn vẹn chiến công. Như vậy thì công danh của khanh sẽ vang lừng vũ trụ, tước lộc của khanh sẽ lưu truyền mãi mãi tới con cháu đời sau.”.

Đăng Dung nhận chỉ, mời đoàn sứ giả cùng ngồi bàn việc. Đăng Dung nói:
- Hoàng thượng ban thưởng cho tướng sĩ tuy chỉ có 100 lạng bạc nhưng thật đúng lúc. Tuy nhiên cái lúc này tôi cần là lương thảo chứ không phải tiền bạc, sao việc ấy lại chậm vậy?
Đám sứ giả bảo họ không biết chuyện ấy.
Đúng lúc đó xe lương của Hải Dương tới, đủ hai vạn thạch; Tổng trấn Nguyễn Bỉnh Đức còn có thư gửi theo. Đăng Dung xem thư gật đầu tâm đắc rồi nói:
- Trước mặt là Chi Lăng, chính là nơi xưa vua Thái Tổ đánh mười vạn quân Minh không còn mảnh giáp, tướng giặc là Liễu Thăng bị chém chết bên sườn núi Mã Yên, chính sử nhà Minh viết chỉ còn mỗi Chủ sự là Phạm Hậu thoát chết về được nước. Ta thắng lớn thế một phần cũng bởi địa thế Chi Lăng hiểm yếu, thủ dễ mà công thì khó. Hãy xem, thung lũng nhỏ hẹp, một bên núi đá dựng đứng, một bên là con suối nhỏ bên kia suối là cánh đồng và năm ngọn đồi thấp. Nay Trần Thăng chiếm giữ cửa ải và cả núi cao cùng năm ngọn đồi nên chúng giữ lợi thế. Cũng như cha y trước đây là Cảo, Thăng quyết chí phản Lê phục Trần nên liều chết. Triều đình cũng quyết không tha cho y. Thuyết hàng không được, đánh cũng không được, vậy các tướng ai có mưu kế gì không?
Các tướng không ai nói gì. Đăng Dung gạn hỏi mấy lần, Mạc Đốc mới thưa:
- Dọc đường các tướng có bàn: Chúng ta vừa hành quân vừa chinh chiến dọc đường, suốt gần hai tháng nay đã vô cùng mỏi mệt, đến đây lại không quen thung thổ, nhiều người không chịu được rét, nhiều người đã bị ngã nước, mấy hôm rồi lại ăn uống dè dặt vì sợ lương không đủ. Giặc lại nhất định không chịu ra đánh. Chi bằng hãy tạm rút về, sau rồi sẽ liệu.
Các tướng một số người hùa theo Mạc Đốc. Đăng Dung nói với đoàn sứ giả:
- Các ông nghe cả rồi đấy, để các ông về tâu với nhà vua. Tôi muốn đánh, các tướng không muốn thì biết làm sao. Không phải các tướng thoái chí mà bởi Chi Lăng hiểm yếu quá, thời tiết lại không chiều người!
Binh bộ thượng thư Lê Thúc Hựu xụt xịt vì cảm lạnh, nói:
- Hoàng thượng cho tôi đi với đoàn sứ giả là có ý giúp Tiết chế. Hôm qua tôi có xem xét địa thế, thấy một bên núi đá dựng đứng, một bên là suối, giữa là con đường độc đạo rộng chỉ vừa năm người dàn hàng ngang đi sát nhau. ải xây chắn ngang đường, cửa ải nếu mở toang cũng chỉ chiếc xe ngựa đi lọt. Giặc trên ải do vậy mười người chống nổi trăm người. Dẫu có qua được ải thì cũng bị giặc phục kích trên núi bắn tên hay lăn đá xuống, mười phần phải chết đến chín! Thật khó! Tất nhiên có thể qua suối sang bên kia dàn quân trên cánh đồng nhưng năm ngọn đồi lại bị giặc chiếm giữ, có chiếm được cũng khá tổn thất. Vậy nên lui binh chờ ra Giêng ấm áp quay lại đánh cũng là một cách.
Đăng Dung bảo:
- May Thượng thư có lời không thì tôi lại mắc tội với triều đình vì không cố gắng. Nay tôi cho quân lui, về nghĩ thêm cho chu đáo, sang năm hứa lại bắc phạt cho đến khi diệt được giặc Thăng mới thôi.
Tổng thái giám Lê Khoái phản đối:
- Chính tôi tâu với Hoàng thượng xuất kho lấy bạc thưởng cho tướng sĩ, tưởng tướng sĩ quyết tâm hơn ai ngờ lại bàn lùi, thật uổng công của tôi và phụ lòng mong mỏi của Hoàng thượng!
Đăng Dung đứng dậy:
- Ông bảo uổng công của ông, vậy máu xương của quân sĩ đổ ra họ có kể công không?
Đám sứ giả không ngờ Đăng Dung lại cho rút quân nên kẻ chê người trách Đăng Dung, trách cả Lê Thúc Hựu vẽ đường cho hươu chạy.
Trưa hôm sau chờ cho nắng lên, Đăng Dung đổi hậu quân thành tiền quân rồi rút lui. Đi gần hai canh giờ thì dừng lại cho quân lính thổi nấu và nghỉ ngơi, mỗi người còn được phát nắm cơm lớn nhưng có lệnh mới được ăn. Khoảng gần sáng phía Chi Lăng bỗng sáng rực, Đăng Dung liền thúc trống, lệnh cho quân sĩ cấp tốc quay lại, ai đói lấy cơm nắm mà ăn.
Thì ra Đăng Dung giả cách rút quân nhưng cho một trăm quân tinh nhuệ mặc thật ấm nằm phục dọc theo bụi rậm bên bờ suối, đến gần sáng địch thấy quân triều đình rút đã xa liền mở cửa ải, lập tức một trăm quân mai phục do Mạc Đốc, Đinh Mông, Nguyễn Kính chỉ huy nhất tề xông lên quyết chiến chiếm lấy ải và đốt lửa gọi đại quân quay lại.
Bởi đã cách ải khá xa nên phải tới gần canh giờ đại quân triều đình mới đến nơi. Lúc đó một trăm binh sĩ chết chỉ còn chưa đầy mười người nhưng đã chiếm được ải và một dải ven suối. Trần Thăng đốc quân chiếm lại ải. Đinh Mông đứng giữa đường dùng truỳ xích ngăn địch nhưng rồi có đứa nắm được dây xích, Đinh Mông phải bỏ truỳ dùng dao ngắn đánh địch nhưng vì chúng đông quá nên không chống lại nổi và bị giết. Địa thế chặt hẹp, có lúc không thể dùng nổi vũ khí nên quân hai bên cứ thế ôm nhau dồn vào vách núi, đẩy xuống sông, nhặt đá đập nhau đến chết, dìm nhau xuống nước cho ngạt thở. Đến trưa, vì đại quân triều đình tới đông nên Trần Thăng núng thế bỏ chạy. Quân triều đình tràn xuống thung lũng đánh chiếm năm ngọn đồi và truy đuổi Trần Thăng đến cùng. Trần Thăng chạy lên châu Thất Nguyên, sau đó bị quân tuần tiễu của triều đình bắt được, bỏ cũi giải về kinh sư. Đăng Dung không dừng lại, vượt sông Kỳ Cùng, tiến lên tận ải Nam Quan.
Bây giờ Đăng Dung mới đưa cho mọi người xem thư của Nguyễn Bỉnh Đức. Bỉnh Đức bày kế “giấu trời qua biển”, “ngầm vượt bến Trần Thương” giả cách lui quân và cho phục binh chiếm ải. Đăng Dung đã nghĩ đến kế đó từ trước và bày cho Mạc Đốc và các tướng làm như thoái chí để lừa giặc. Tổng thái giám Lê Khoái lấy làm bực vì Đăng Dung bí mật kế ấy với mình. Đăng Dung bảo:
- ở đây lạ nơi lạ chốn, tai vách mạch dừng, xin quan Tư lễ nghĩ đến việc lớn mà bỏ qua chuyện nhỏ nhặt.
Quân triều đình khải hoàn trở về kinh sư.
Một ông lão cùng con cháu và mấy người địa phương đợi bên núi suốt mấy ngày chờ cho kỳ được quân triều đình về qua để dâng rượu.
- Đã lâu lắm, - Ông lão nói - cách đây 21 lần cái rét đến rồi lại đi, có một quan triều đình chạy ngựa lưu tinh lên đây để gặp đoàn sứ giả sang Bắc quốc, con ngựa mệt đứt ruột chết! Quan ấy hỏi rượu Mẫu Sơn, chúng tôi không có sẵn, chỉ có rượu hoẵng nên bị chê là chua và nhạt, nước rượu không trong. Chúng tôi ân hận mãi từ đó đến giờ, vậy nên quyết kiếm rượu Mẫu Sơn ủ sẵn bao nhiêu năm nay để chờ. Nay đại quan lên đây đánh giặc, cho chúng tôi được dâng rượu và gửi một ít nhờ đại quan mang về kinh đô cho vị quan ngày trước.
Bên cạnh ông lão quả có năm bình rượu lớn cùng mấy cái sừng trâu dùng làm đồ uống rượu, gọi là giác. Mạc Đăng Dung quay về phía Lê Thúc Hựu có ý hỏi. Thúc Hựu lại nhìn Nguyễn Quýnh. Quýnh là Đông các đại học sĩ nên đọc nhiều, nhớ giỏi, đi đâu, thấy gì cũng ghi chép. Nguyễn Quýnh nói:
- Năm vua Hiến Tông băng, triều đình sai Nguyễn Bảo Khuê đi sứ Bắc quốc báo tang và cầu phong, chưa đến ải Nam Quan thì Lê Kỳ đuổi kịp, báo tin vua mới là Túc Tông cũng đã băng hà. Viên quan khi ấy hỏi rượu là Đô lực sĩ Lê Kỳ.
Mạc Đăng Dung bảo:
- Vua Túc Tông mất, Uy Mục đế kế vị mở khoa thi Tiến sĩ võ, anh em tôi cùng đi thi, năm ấy tôi mới ngoài 20, bây giờ đã 43 tuổi. Cuộc đời sao mà ngắn ngủi vậy!
Đăng Dung nhận rượu, uống một giác rồi truyền các tướng cùng uống.
- Rượu Mẫu Sơn thật ngon! - Đăng Dung khen – Nhưng mỗi loại rượu một vị riêng, tại sao ngày xưa Lê Kỳ lại chê rượu hoẵng nhỉ?
Ông lão nói:
- Rượu hoẵng nhạt và có vị chua, không hợp với người ưa rượu nặng nhưng uống vào bữa ăn rất tốt. Nên trong nhà chúng tôi lúc nào cũng sẵn. Nếu tướng quân không chê thì chúng tôi lại xin dâng thứ rượu ấy.
Ông lão đem rượu hoẵng ra. Đăng Dung và các tướng mỗi người lại uống một giác nữa, cùng khen rượu có vị riêng rất lạ. Đăng Dung tặng ông lão tấm chiến bào khoác trên người rồi tạm biệt, dọc đường bảo tướng sĩ: “Người mạn ngược thật thà, tốt bụng, thật là chỗ dựa vững chắc cho phên giậu quốc gia!”.
Đinh Mông tử trận. Mạc Đốc bị trọng thương, dọc đường thì mất. Nguyễn Kính cũng bị thương. Một trăm dũng sĩ có công chiếm ải không còn một ai. Đăng Dung ngồi xe ôm xác em suốt một ngày trời mới cho người khâm liệm mang về kinh đô. Bản thân Đăng Dung cũng bị mấy vết thương, nặng nhất là vết giáo đâm ở đùi.
Nhà vua thân ra tận bến sông Nhị Hà đón Mạc Đăng Dung rồi xe vua đi trước, xe Đăng Dung đi sau, cùng về điện Vạn Thọ dự ngự yến. Các Thượng thư Lê Thúc Hựu, Trình Chí Sâm, Nguyễn Thì Ung, Phạm Gia Mô và nhiều đại thần hết lời ca ngợi Đăng Dung, so sánh Đăng Dung với với Y Doãn phò nhà Thương, Khương Tử Nha, Chu công Đán phò nhà Chu. Đăng Dung cảm tạ, nói rằng cũng như chim cắt chim ó, bay cao bay xa được là nhờ đôi cánh rộng, đôi cánh ấy là trăm quan văn võ trong triều. Nhân đó Đăng Dung tâu vua ban thưởng và phong bổ cho gần hai chục tướng sĩ có công dẹp giặc và giữ vững kinh đô, ban tiền bạc làm ma cho Mạc Đốc, Đinh Mông cực hậu.




...CÒN TIẾP...

© tác giả giữ bản quyền.
. Tại nước ngoài đăng tải ngày 09.08.2009 duy nhất trên Newvietart.com .