ĐỖ NGỌC THẠCH

1. NGƯỜI CỦA MUÔN NĂM CŨ


Ông Lý Hoài Nho là giáo sư Trung văn của một trường đại học, đã nghỉ hưu. Con ông Nho có tới năm người nhưng không ai nối nghiệp ông (mà toàn theo học những môn học “tân thời” như: công nghệ thông tin, quản trị kinh doanh, tiếp thị…) nên ông rất buồn. Ông thường du ngoạn những vùng sơn cước hẻo lánh có dấu xưa tích cũ để thỏa nỗi lòng hoài cổ của mình…Những lúc ấy ông thường ngâm nga: “Người của muôn năm cũ / Hồn ở đâu bây giờ?”… Một lần, ông Lý Hoài Nho đến sông Tích mà ông lại nghĩ là sông Mịch La, nơi Khuất Nguyên trầm mình, liền nhảy xuống sông mà nói: “Khuất Tiên sinh, tôi đến với ông đây!” Nhưng cạnh đó có một đám thanh thiếu niên đang tắm sông, thấy ông nhảy xuống sông liền tới vớt ông lên đưa về nhà… Cha mẹ đám thanh thiếu niên sau khi biết chuyện thì nói với ông Lý Hoài Nho: “Đúng là nắng hạn gặp mưa rào! Các vị trưởng lão làng chúng tôi có mở một lớp học chữ Nho, không ngờ rất đông người xin theo học, hầu hết đều trẻ tuổi… Người làng bên, rồi hầu như khắp cả huyện đều nghe tiếng mà tìm đến theo học, sĩ số hiện đã hơn năm mươi người vậy mà chỉ có một ông đồ già, sức đã yếu lắm, sợ không kham nổi! Vậy ông đã tới đây thì nhận giùm cái lớp chữ Nho này, chúng tôi sẽ hậu tạ!” Và thế là từ đó, ông Lý Hoài Nho lại đứng lớp và người ta thấy trong lũy tre xanh ở cái làng nhỏ bên sông Tích ngày ngày vang lên tiếng đọc bài khoan thai: “…Yểu điệu thục nữ / Quân tử hảo cầu…”

2.LIÊM , SỈ (ghi trong sổ tay)


Liêm là đức tính tốt đẹp nhất của con người: liêm khắc chế được lòng tham vốn là bản tính nguyên thủy của con người. Người không có liêm thì thấy cái gì cũng muốn giành đoạt, muốn chiếm lấy, khi quá mức thì là lòng tham vô đáy. Đó là căn nguyên của mọi tội lỗi.
Sỉ cũng là đức tính cao đẹp của con người, nó giúp người ta tránh được mọi hành động sai trái, tội lỗi. Người vô sỉ là người là người làm những điều xằng bậy, tội lỗi mà không run tay, không biết xấu hổ.
Thực ra liêm sỉ gắn bó hữu cơ với nhau, tuy hai mà một, là nền tảng của đạo làm người . Người ta hay nói: người xấu là đồ vô liêm sỉ là vì vậy. Khổng Tử nói: “Hành kỉ hữu sỉ” nghĩa là biết giữ mình, biết làm điều xằng bậy là đáng xấu hổ. Mạnh Tử nói: “Nhân bất khả vô sỉ” nghĩa là người ta không biết xấu hổ thì không được.
Than ôi! Thế mà ngày nay nhân tình phản trắc, phong tục suy đồi, người ta quên cả liêm, sỉ không kể chi người thường, thậm chí đến hạng trí thức, quan chức cũng như thế cả…Tuy vậy, mùa đông rét buốt, tùng, bách vẫn xanh; mưa gió tối tăm, gà trống vẫn gáy. Đời tuy hôn mê nhưng vẫn có người tỉnh!...

3. LÀNG KHÔNG CÓ ĐÀN ÔNG


Làng này quả là không còn một người đàn ông nào còn nguyên vẹn. Có hai lý do: một là do trai tráng của làng đã ra trận (thời kỳ này là vào nửa cuối những năm 1960, đầu những năm 1970 của TK trước), hai là làng này có nghề gia truyền (từ thời mới lập làng) là nghề hàn đồng (hàn vá những đồ gia dụng bằng đồng, sau là cả đồ nhôm), nghề này bắt buộc phải đi xa – một “gánh càn khôn” rong ruổi trên mọi nẻo đường – mà người hành nghề phải là Nam nhân!...Vì thế, chỉ những người què cụt, tàn phế mới còn ở nhà!...
Những bậc trưởng lão trong làng, khi mới phát hiện ra sự thiếu vắng bóng Nam nhân trong làng thì rất lo lắng, ngày ngày đêm đêm bàn mưu tính kế đặng cứu vãn tình thế! Song, rút cục chẳng có kế sách nào khả thi! Cuối cùng, đành bó tay thúc thủ!...Các trưởng lão bó tay nhưng Cuộc Sống thì luôn vận động, biến hóa khôn lường: Trai tráng làng đi chiến trường xa thì trai tráng nơi khác đến còn đông gấp bội! Đó là bộ đội lực lượng Phòng không đến đóng quân (luân phiên như đèn cù), các cơ quan, trường học sơ tán về làng…Bộ mặt của làng đã thay đổi như có một cơn bão lớn, và không chỉ thay đổi bên ngoài mà thay đổi từ trong…gan ruột! Trai nơi khác đến mạnh mẽ và dữ dội hơn trai làng rất nhiều: hàng loạt lớp con cháu là sản phẩm của sự “giao lưu văn hóa” đã liên tiếp ra đời, lấp đầy khoảng trống thiếu vắng đàn ông ngày nào!...Ai đã làm nên điều đó? Chính là Con Tạo, hay còn gọi là Bàn tay kỳ diệu của Tạo Hóa!

4. RÙA VĂN MIẾU NÓI CHUYỆN VỚI RÙA HỒ GƯƠM


Một ngày nọ, Rùa Hồ Gươm đi dạo chơi phố phường, đi mãi, đi mãi tới Văn Miếu Quốc Tử Giám lúc nào không hay. Rùa Hồ Gươm nhìn thấy Rùa Văn Miếu cứ cõng mãi tấm bia đá ghi tên các vị đã đỗ Tiến sĩ thì ái ngại mà rằng: “Các bác cứ cõng mãi bia đá như thế có mỏi lưng không? Sao không dựng vào tường rồi đi dạo với tôi một lát cho sảng khoái?” Rùa Văn Miếu nói: “Ở tấm bia trên lưng tôi chỉ có ba ông là Tiến sĩ thật, còn toàn “Mạo Tiến sĩ” tức Tiến sĩ giả thôi bác ạ! Cho nên tuy là tấm bia đá nhưng nó nhẹ hều, sao mà mỏi lưng được!” Rùa Hồ Gươm lại nói: “Vậy các bác có đi dạo với tôi được không? Ai lại suốt đời chỉ đứng một chỗ như thế?” Rùa Văn Miếu đáp: “Tấm bia đá gắn chặt vào lưng tôi như cái vòng Kim Cô mà Bồ Tát gắn vào đầu Tôn Ngộ Không, không thể gỡ ra được! Còn chuyện đi dạo thì chúng tôi không thích chứ không phải là không đi được!” Rùa Hồ Gươm lại hỏi: “Tại sao lại không thích đi dạo? Tôi ngạc nhiên đấy!” Rùa Văn Miếu đáp: “Chúng tôi đã vào Nam ra Bắc nhiều lắm rồi, có chỗ nào mà không tới, có nơi nào mà không qua!... Nhưng đi dạo phố phường Hà Nội bây giờ thì có gì hay ngoài chuyện ô nhiễm môi trường, kẹt xe, nắng thì bụi mù trời mưa thì ngập thành sông biển?” Rùa Hồ Gươm nói: “Các bác quả là người đọc sách nhiều nên cũng nghĩ suy nhiều quá! Chúng tôi là chiến binh nên ít nghĩ lắm, nên chẳng thấy ô nhiễm gì, nắng bụi hay mưa lụt cũng bước đi vô tư, đường phố ngập thành sông còn thích thú vì được bơi lội tung tăng!” Rùa Văn Miếu nói: “Ước gì được vô lo vô nghĩ như bác!”…
Nhưng điều ước của Rùa Văn Miếu không không thể thành hiện thực!...


Sài Gòn, Tháng 8-2009
© tác giả giữ bản quyền.
. Đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ Sài Gòn ngày 08.08.2009.
. Tải đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn newvietart.com.