Au Dela Des Nuages - tranh của Julie Avignon





































Chương 4


Tiếng chim hót ríu rít trong vườn như mời gọi công chúa Mai Hoa thức dậy. Nàng nghe rõ tiếng hót của con khiếu, âm vang giòn tan, trong trẻo, làm rộn rã khu nhà. Tiếng chim như dạ khúc của thần linh từ trời cao tưới tắm an bình xuống mảnh vườn rất nhiều cây xanh, nhiều dây leo, hoa dại, quả chín thơm, bao bọc ngôi nhà năm gian, mái ngói nâu, gỗ nâu, tách biệt với cung điện của đức vua vài thửa ruộng và một con suối nhỏ, có cầu gỗ bắc ngang. Mảnh vườn thoảng thơm hương Cau, hương Ngâu, hương Nhài, hương Chămpa… ẩn sau kinh đô Yên Trường, mang hơi ấm thiên thần, xua âm khí của các loài ma quỉ. Mai Hoa công chúa sống ở đây cùng bà dì và hai thị nữ. Nàng là công chúa Đại Việt, mang dòng máu Chiêm Thành, sinh ra đã phải sống trong cảnh chạy loạn cùng vua cha Lê Anh Tông ở đất này, không được hưởng cuộc đời vàng son, nhung lụa của kinh đô Thăng Long. Hai mẹ con sống cùng cô em ruột của mẹ, họ thích sống như người Chiêm, hồn nhiên, giản dị, gắn với sông, núi, biển, trời, tâm hồn mạnh mẽ và nhiều đức tin. Từ khi vua cha bị giết, mẹ qua đời, Mai Hoa buồn nhớ, càng trông về đất mẹ. Hồn nàng vươn theo vũ khúc tamane hrung, tiếng kèn saranay, tiếng trống paranưng ... vừa hân hoan vừa buồn cô liêu, chầm chậm rơi xuống mấy tầng rừng thẳm, đất dày. Nàng và vua Lê Thế Tông tâm đầu ý hợp bởi hai chị em cùng ham học. Nàng thuộc Tứ thư, Ngũ kinh, nhưng Khổng giáo không phải là tôn giáo. Khổng Tử đã vạch ra một đạo lý về phẩm hạnh của con người, dựng lên những mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân; cá nhân với chính trị xã hội. Nó rất hợp với người cai trị đất nước. Còn với con người thực thể, nàng say mê đạo Phật và theo đạo Bàlamôn của mẹ, thành một lối sống tôn giáo, được dẫn dắt bởi các vấn đề tâm linh và đạo đức. Nàng tôn thờ thần Shiva tượng trưng cho tiềm năng sáng tạo vốn có trong vũ trụ và mỗi cá nhân. Ngày thơ bé nàng đã cùng mẹ và vua cha xem thần Shiva nhảy múa. Điệu múa mô tả sống động năng lực sáng tạo vũ trụ của thần Shiva. Thần có khả năng tạo nên cuộc sống và bảo vệ nó, nhưng cũng làm cho nó biến mất. Trong điệu múa này, thần Shiva hiện thân thành thần Nataraja, tay phải cầm một chiếc trống giơ lên cao, đập đều đều như nhịp tim của cuộc sống, tương trưng cho sự nhịp nhàng của sáng tạo. Tay trái phía trên cao, ngài cầm một ngọn lửa để thiêu hủy thế gian. Vòng lửa bao quanh thần Shiva mô tả chu kỳ hủy diệt và tái tạo cuộc sống liên tục được kích hoạt bởi năng lực sáng tạo của thần Shiva. Khi điệu múa vũ trụ của thần Shiva chấm dứt, thì thế gian cũng chấm dứt một chu kỳ sáng tạo và hủy diệt. Điệu múa của thần Shiva cũng tượng trưng cho sự diệt trừ vô minh hoặc sự không hiểu biết và sự xấu xa thông qua hình ảnh ngài đạp người lùn dưới chân mình. Mặc dù vậy, thần Shiva luôn mưu cầu bảo vệ thế gian và những tín đồ của ngài. Tay phải của ngài hướng thẳng về phía trước được đưa lên bằng một pháp ấn, có nghĩa là” Đừng sợ hãi”, trong khi bàn tay trái hướng về phía trước chỉ xuống bàn chân đưa lên của mình bóa cho biết rằng tất cả những ai đến gần ngài với tấm lòng mộ đạo đều có thể tìm được sự che chở nơi chân ngài… Mai Hoa xem điệu múa này, không sao quên được hình ảnh rực rỡ của thân thể uốn lượn, uyển chuyển, xoay tròn, xoáy tít, mềm mại như ánh sáng vờn mây, và khuôn mặt thanh thản, vô tư, an vui của vũ công… Nàng thường mơ mình nhảy múa trong vũ điệu thần thánh đó…

Được vua Lê Thế Tông cho gặp gỡ linh mục Cevallo nàng rất vui. Năm 1588, vua Lê Thế Tông chưa đủ tuổi, nàng nhiếp chính, đã mời hai linh mục từ Ma Cao đến giảng đạo, năm sau, vua đủ tuổi trị vì, hai vị bị cấm dâng lễ… Nay vua em bỗng nhiên lại cho linh mục tới, nàng thấy sự lạ lùng. Vua Lê Thế Tông không có đức tin vào thần thánh như nàng, nhưng ngài có học vấn, ngài hiểu triết gia và sự sáng tạo những triết lý về cuộc sống. Ngài biết, tôn giáo là một thứ ánh sáng giải quyết cho con người những vấn đề tinh thần mà con người không tìm thấy ở bất cứ lĩnh vực khoa học nào. Đó là một tâm hướng tư nguyện, nhờ đó con người mới chấp nhận những chân lý và thực hành những giới điều răn dạy tốt đẹp để sống và suy tôn, phụng thờ Đấng sáng tạo tối cao, vô hình. Bản thân ngài cũng thay mặt thần dân cúng tế Trời Đất cầu mưa thuận gió hòa, cầu cho lòng người an lạc. Nhưng đối với đạo Thiên chúa từ Tây phương xa xôi tới, ngài chưa hiểu rõ, và một vài viên quan cho rằng người Tây dương sang đây để cướp nước, nên ra lệnh cấm các giáo sĩ tới truyền đạo… Còn nàng thì luôn tin có Đấng sáng tạo như thần Shiva mà nàng tôn thờ. Nàng được linh mục giảng những bài đầu tiên về Thiên Chúa hai năm truớc, nên đã hiểu đó là đạo thờ Thiên Chúa. Đức Giêsu Kitô tự xưng là con Thiên Chúa, vâng mệnh Đức Chúa Cha xuống dạy con người các luật pháp để chung sống công bình, yêu thương, biến trần thế thành vườn địa đàng. Chúa Giêsu là người hay là thần, nàng không biết nhưng cuốn Kinh Thánh kể về cuộc đời ngài là kiếp sống thần kỳ, chết đi sống lại để cứu rỗi con người, nàng chưa có dịp hiểu thấu, mới chỉ nghe chuyện trinh nữ Maria sinh ra ngài trong đêm Giáng Sinh thần thánh, nàng đã mê say, muốn tìm, muốn biết tận ngọn nguồn…

Ước nguyện của nàng thành sự thật, các linh mục lại tới biệt dinh này, giảng đạo cho nàng. Nàng thầm reo” Ôi! Vua em, người bạn tâm hồn của ta. Ngài lo việc sơn hà xã tắc, nhưng không quên chăm sóc phần hồn cho ta. Tạ ơn hồn thiêng cha mẹ đã gắn tình chị em ruột thịt thành tình yêu thương thiêng liêng”. Hồn nàng hân hoan uốn theo vòng tròn ánh sáng, bay theo làn gió thoảng hương trầm.

Nàng chạy ra hiên ngắm nhìn những làn mây trắng mỏng như sương, la đà nhè nhẹ trên dãy núi xanh lam. Nàng thầm nhủ hôm nay là ngày đẹp trời. Mây trắng. Nắng ấm và gió lành. Cây hoa Chămpa nở rực rỡ, ngan ngát hương. Nàng kiễng chân đưa tay hái những bông hoa vàng khoe đều năm cánh, còn vương giọt sương đêm, mang vào phòng khách, cẩn thận xếp từng bông hoa thơm lên cái bát gốm Chămpa màu nâu đất, đặt lên bàn tiếp khách. Nàng khẽ gọi Thùy Dung:

- Dậy đi em. Hôm nay nhà ta có khách. Em đun nước pha trà hoa Ngâu và chuẩn bị cho ta một lò trầm hương.

-Dạ thưa công chúa, con sẽ làm ngay, mình đốt trầm trước hay đợi khách đến ạ?

-Thôi được, em mang lò trầm ra đây, tự tay ta nhóm trầm trước khi họ tới, cho hương trầm tỏa ra ngoài ngõ, vườn cây, đón chào khách quí.

Thùy Dung thon thả trong bộ quần áo kiểu Chiêm màu trắng, áo thân dài đến chân, trời lạnh nên nàng quấn thêm khăn màu thanh thiên, nhanh nhẹn lấy từ trong tủ gỗ ra một lò trầm bằng đồng màu đen bóng. Lò trầm Chiêm Thành này là kỷ vật thiêng liêng của mẹ, công chúa chỉ dùng trong những dịp đặc biệt. Lò trầm mang dáng một nụ hoa sen, ba chân cong mềm mại, đặt trên nền lá sen, nhẹ nhàng nâng thân lò, tạo vẻ duyên dáng thánh thiện như thiếu nữ dâng hoa lên Đấng sáng tạo, nắp đậy chạm trổ hình hoa hồng dây, lộ những khoảng trống tinh tế, khi gỗ trầm cháy, khói sẽ bay ra theo đó, tỏa muôn nét tơ trời, vẽ trong không gian vô vàn đường cong mềm óng, màu trắng xanh, uốn lượn trong vũ khúc tự do thần thánh. Công chúa xếp từng mảnh gỗ trầm chẻ nhỏ xếp vào lò, ánh lửa bật cháy, gỗ trầm bén lửa, từ từ nhả khói luồn qua các kẽ hở của nắp đậy lò. Khói uốn éo bay lên. Cả ngôi nhà thơm mùi trầm ấm áp và quyến rũ. Mùi thơm thanh sạch của cây rừng già nhiệt đới chở cả đại ngàn mênh mông về đây.

Cevallos đi cùng Santa, thông ngôn người Bồ Đào Nha tới biệt dinh thăm công chúa Mai Hoa. Hai người rẽ lối mòn cỏ dại đi về phía ngôi nhà vang tiếng chim và thơm mùi trầm hương. Công chúa tự thân ra mở cửa đón chàng. Nàng hiện ra trong bộ xiêm áo màu mây trắng. Họ trao nhau ánh nhìn hương trời, sắc nước. Ánh mắt to đen long lanh như đáy nước dòng sông của nàng giao thoa cùng ánh mắt xanh như sóng biển của chàng. Cevallos định cúi chào công chúa theo phong cách hiệp sĩ Tây Ban Nha, chợt nhớ mình đang đóng vai linh mục, chàng ngưng lại. Tâm hồn chàng vang lên tiếng thơ trẻ trung, tinh nghịch:” Ôi nàng công chúa xinh đẹp nhất trần gian/ Ta dâng nàng trái tim trong sáng và đau khổ của ta/ Ta dâng nàng những chiến công oanh liệt của ta... Tất cả mọi hiệp sĩ Tây Ban Nha/ Phải công nhận nàng là người đẹp nhất trần gian”. Cevallos nhìn Santa, thầm mô tả vẻ đẹp bí ẩn của công chúa Đại Việt. Tóc buông xõa dài và uốn lượn trên thân người giống mây tháng năm trên nền trời. Đôi má mơn man nhung tơ của cánh hoa hồng. Đôi môi thắm ngậm nụ hồng hàm tiếu. Cặp tuyết lê căng tròn như trái ngọt. Làn da nâu đen mịn màng của nàng như phấn hoa mặt đất. Nhưng đôi mắt đen sâu như đáy nước của nàng chứa chất một nỗi sầu vạn kiếp, mà nước mắt có thể tuôn rơi bất cứ khoảnh khắc nào…

Hai chàng Tây cao lớn được mời ngồi vào bộ bàn ghế gỗ nâu đen, các đường viền của nó chạm trổ hình chim, hoa lá, trên bàn bày bát hoa Chămpa, và lò trầm khói tỏa hương thơm, ngạt ngào, thanh tao, bí ẩn. Công chúa Mai Hoa không tỏ ra khách sáo, xa lạ, không một chút kênh kiệu, nàng nói về thú thưởng thức trầm hương của xứ sở mình, tạo không khí thân thiện với vị cha cố:

- Hai ngài nhìn thấy khói len lỏi qua các khoảng trống của nắp lò bay lên mà xem, khói đang nhảy múa trong không gian những vũ điệu của thánh thần, tự do và khoáng đạt, an lạc và uyển chuyển, nhẹ nhàng mà kỳ diệu, ẩn chứa nhiều tiếng nói, nhiều âm thanh không lời… Đây là trò chơi nhốt khói. Khói bị nhốt trong lò, nó vẫn tìm mọi lối để thoát ra và bay lên, thành nghệ thuật, tỏa hương. Nó bay lên thành muôn hình vạn dáng, vẽ nên một bức tranh khói không giới hạn và tỏa hương đầy ắp không gian.

Cevallos thả hồn theo những sợi khói thơm như vờn bay, như nhảy nhót, như mỉm cười, như chào mời, dâng tặng sự bình an. Khói từ lò trầm hương, chầm chậm vẽ những đường tơ vương vấn, hương thơm dìu dịu, đằm thắm, mơ màng. Hồn chàng bay theo những sợi khói tơ nhện mỏng manh, đến những cánh rừng xanh biếc buổi bình minh, thoảng nghe tiếng thông reo, suối hát, tiếng chim hót lao xao và nắng hồng trải lụa, mây trắng bồng bềnh trôi trên nền trời xanh lơ.

Santa nhìn cha cố lặng im trong niềm đắm say, chàng cũng không thể thốt thành lời. Chàng không thể chuyển dịch nổi những lời lẽ dịu êm và sâu lắng, đầy vẻ duyên dáng, ý nhị của công chúa sang tiếng Tây Ban Nha. Tâm hồn phương Đông như một thứ âm nhạc không lời, người ngoại quốc tinh tế phải cảm nhận bằng trái tim, ánh mắt và hương thơm. Mọi tiếng động lúc này sẽ phá tan những cảm xúc trinh nguyên thơm tho của phút giây gặp gỡ… Ngôi nhà thơm hương trầm. Không lời. Hương tan trong hồn quấn quýt số phận họ lại với nhau từ phút ấy…

Chương 5


Mai Hoa vẫy tay gọi Thùy Dung dâng trà mời khách. Công chúa mỉm cười nói về trà hoa Ngâu:

- Thưa cha, tôi mời trà hoa Ngâu, đưa dắt ngài về không gian Đại Việt thế kỷ mười ba, thời Phật giáo thịnh vượng trên đất nước tôi. Cây Ngâu dáng giống cây trà xanh, được trồng trong chùa hoặc các mảnh vườn thanh tịnh. Hoa nhỏ li ti tỏa hương kín đáo, nhẹ nhàng, tinh khiết, ướp trong hương trà khô, pha với nước mưa đun sôi, thành một thứ nước thơm, vị ngọt chát, khi ta uống, tâm hồn trở nên an lạc, trầm lắng. Chuyện kể rằng có lần tổ thiền Bồ Đề Đạt Ma khi tham thiền đã ngủ gục. Tỉnh dậy, ngài tự cắt hết lông mi của mình vứt xuống đất, như là một hình phạt cho sự buồn ngủ lúc hành thiền để đạt được sự giác ngộ. Những lông mi bị cắt đó rơi xuống đất mọc thành cây lá xanh tươi xung quanh ngài. Một hôm ngài hái những cái lá xanh thơm đó đun nước uống, liền hết buồn ngủ, trí óc tỉnh táo, sáng suốt. Đó là cây trà. Tục uống trà của người Đông phương bắt đầu từ đó. Các thiền sư khi tu tập thường uống trà. Chúng ta uống trà, tâm trí tỉnh táo, khoan hòa, thanh tịnh, siêu thoát, thêm hương thơm mầu nhiệm của hoa Ngâu, trong khung cảnh tĩnh lặng, thanh khiết, yên bình, tâm hồn lắng dịu, ung dung tự tại, hiền hòa, hồn người quyện với nhau đậm đà, ý vị.

Cevallos cảm động nhận tách trà nóng tỏa hương thầm từ bàn tay ngà ngọc, năm ngón búp măng mềm mại xòe như cánh hoa sen trắng thơm mát của công chúa. Cha cố nói chậm để Santa dịch:

- Chúng tôi có hồng ân lạc bước tới đất nước của nàng, và bất ngờ được sống trong biết bao cảm giác thiêng liêng tiếp diễn trong tâm hồn chúng tôi bằng âm thanh dào dạt và hương thơm ngọt lành lan tới tận cả cõi Trời. Từ phút được gặp nàng, tôi miên man nghĩ đến vẻ xinh đẹp, tri thức và đức hạnh của người mẹ sẽ cứu rỗi thế gian. Hình như Đức Chúa Trời luôn ban linh thánh cho nàng và xứ sở này.

Công chúa nhìn đôi mắt xanh hiền hòa của chàng, khẽ nói như hát:

- Cha cố mới gặp tôi lần đầu, làm sao hiểu được tâm trí tôi và cả những con người ở xứ sở này. Hãy nhìn vào trái tim tôi, và tiếng chim kêu những buổi chiều tà, xao xác gọi nhau về tổ ấm. Khi hoàng hôn tắt dần, màu hồng tím sẫm chuyển thành màu đen choàng lên dãy núi kia, là lúc tâm hồn tôi lưu lạc. Thượng đế bắt tôi phải lo âu, buồn chán. Trước mắt tôi là cuộc đời đau khổ, là đám người tranh nhau xuống mộ, cả vua chúa, lẫn võ tướng công hầu cũng vậy mà thôi. Họ không nghe thấy tiếng tôi kêu thảm thiết. Họ không biết cuộc đời người ngắn ngủi, phù hoa, cứ chém giết, tranh giành nhau một thứ quyền lực hão huyền. Ngôi nhà của tôi đây, hay đời tôi luôn rộng mở, nhưng đầy buồn lo và trống rỗng, tâm hồn tôi không yên tĩnh, chứa chất những âu lo. Liệu tôi còn phải còng lưng gánh nỗi bi sầu xứ sở bao lâu nữa? Ông trời già thật bất công vô cớ bắt tôi cõng gánh nặng này. Tôi nghe nói địa ngục dưới âm phủ và thiên đường ở trên trời. Nhưng ngẫm soi mình tôi thấy địa ngục và thiên đường ở ngay trong hai nửa trái tim tôi…

Cevallos nhận ra trong giọng nói của nàng ấp ủ một linh hồn lớn, linh hồn vĩ đại, bấy lâu chìm ngủ rất sâu trong trái tim nàng, giờ đây đang thức dậy. Chàng bỗng cảm thấy mình có bổn phận phải chăm sóc linh hồn cao thượng, lành mạnh, quảng đại, ngự trong hình thể tươi đẹp của nàng. Linh hồn nàng phải được thăng hướng lên cao, đến cõi vô cùng của trời đất… để nàng hiểu được rằng với tình yêu vĩnh hằng, vô biên của Đấng sáng tạo tuyệt vời trong cảm giác, nàng sẽ hạnh phúc hưởng thụ vẻ đẹp hoàn hảo của thiên nhiên, vũ trụ, hòa điệu trong hơi thở êm đềm dịu ngọt của nàng…

Chàng bắt đầu nói với nàng bằng giọng trầm ca du dương của cha cố:

- Tôi hy vọng đến một ngày, công chúa sẽ thay đổi tâm trí trong cách nhìn cuộc sống, bằng con mắt thứ ba. Con mắt của niềm tin, vượt lên mọi giới hạn vật chất và cuộc sống thường ngày. Sống không niềm tin thật là một bất hạnh lớn. Không tin, con người sống trong mù mịt, không tìm ra câu trả lời về vấn đề sinh tử liên quan đến hạnh phúc vĩnh cửu của con người. Người ta sinh ra từ đâu? Sống là gì? Chết là gì? Làm thế nào để tìm được hạnh phúc? Chỉ khi nào có niềm tin ở Thượng đế con người mới giải đáp được các câu hỏi đó. Ta biết nàng không phải là người vô thần, nhưng nàng chưa thực sự dấn thân hy sinh như một nhà đạo hạnh để cứu mình, cứu đời, nên nàng chưa cảm nhận được Đấng tối cao luôn che chở, đem hạnh phúc đến cho nàng. Thượng đế hay Thiên Chúa, Đấng tối cao… là vô hình, ẩn sâu trong tâm thức của chúng ta. Một ngày trăng sao sáng đẹp, nàng hãy nhìn lên bầu trời. Ngàn triệu ngôi sao lấp lánh trong tầng cao bao la, người ta bảo đó là hàng tỷ ngân hà. Vũ trụ tinh tú khổng lồ vô biên đó phát ra một tốc độ kinh khủng, tốc độ ánh sáng nhưng chưa một tinh tú nào chạm nhau... Và sự sống xuất hiện trên mặt đất và sự sống được bảo tồn là một sự xếp đặt hết sức diệu kỳ, chúng ta biết tạ ơn ai ngoài Đấng sáng tạo hay Thiên Chúa toàn năng…

Nàng cảm nhận được ánh mắt Cevallos dành cho nàng, mênh mang một tình cảm nồng nàn, cao siêu, thần thánh:

- Vâng thưa đức cha, tôi hiểu những điều ngài sẽ nói cùng tôi. Thế giới vô hình với thánh thần và cả ma vương, quỉ quái đối với tôi không có gì xa lạ. Tôi phải sống chung với chúng theo cái cách mà tổ tiên tôi truyền dạy.Tôi mong muốn được biết về đạo Thiên Chúa. Tôi đã xin đức vua lưu các ngài tại kinh đô Yên Trường một khoảng thời gian dài. Từ nay, mỗi chiều chúng ta gặp nhau tại biệt dinh của tôi để cha giảng đạo, tôi sẽ học Kinh Thánh. Nhưng trước hết tôi muốn hiểu về cuộc sống của cha và đất nước Tây Ban Nha xa lạ mà thân liễu yếu đào tơ như tôi, không bao giờ tới được.

-Tạ ơn Chúa đã dẫn dắt nàng. Vâng, tôi sẽ kể về cuộc đời tôi, sẽ dẫn nàng đi du ngoạn bốn bể năm châu cùng tôi trong bão biển qua chàng thông ngôn Panta đáng yêu này. Hỡi Panta, hãy cùng ta kể về những đất nước bên bờ Địa Trung Hải của mình cho nàng công chúa đẹp như thiên thần trong lâu đài gỗ thơm này nghe. Nàng sẽ phải khóc. Nàng sẽ trở nên đầy sức mạnh. Nàng sẽ hát ca và nguyện cầu Chúa cùng ta. Giống như những nốt nhạc xanh từ trời cao siêu việt, dệt hồn chúng ta thành bản nhạc giao mùa.

Santa cung kính nghiêng mình tước linh mục và nói:

-Thưa đức cha, cho phép tôi được hôn đôi bàn tay sương gió của ngài, tôi luôn tôn sùng ngài, hiệp sĩ của đất nước Tây Ban Nha đến với Thánh đường sau những con đường đời chinh chiến và những cơn bão đại dương. Tôi sẽ kể chuyện đó với nàng công chúa xinh đẹp mà tâm hồn như vàng bạc, châu báu, kim cương, như hương thơm của xứ sở rừng già, đồng lúa, biển cả, hỗn mang giao phối.

Cevallos mỉm cười với người bạn Bồ Đào Nha, đất nước láng giềng của mình. Tâm hồn họ thật gần nhau.

Ánh mắt của Santa nhìn sang công chúa:

-Thưa công chúa có gương mặt buồn cao thượng của nữ thánh, nàng có đủ sức nghe chúng tôi không? Nghe những câu chuyện khám phá biển lớn và khám phá những mảnh đời chìm nổi để bay lên… Tôi đến từ đất nước Bồ Đào Nha, tiếng Latinh có nghĩa là” hải cảng ôn hòa”, phía Bắc giáp Đại Tây Dương, phía Nam là Địa Trung Hải. Đất nước tôi hiện lên vẻ đẹp cổ kính, u tịch của những pháo đài cổ, tu viện, nhà thờ Thiên chúa, những công viên xanh cây và những quảng trường lớn, nơi vui chơi của hòang gia, những thánh địa, khu tưởng niệm danh tướng, nhà truyền đạo, nhà hàng hải với những con tàu lớn, nhà thờ hài cốt những người chết vì chiến tranh. Và tâm hồn Bồ Đào Nha? Nàng hãy lắng nghe bài thơ Bản dạ khúc ở Veníse” Âm nhạc không chịu ngưng, mà tràn đầy huyền bí/ Có lẽ vì em dừng chân lâu quá ở bến đò/ Mặt nước phản chiếu nỗi buồn hay niềm vui từ ánh mắt của em?/ Mà sao cứ lặng thầm/ Không bùng nở như pháo hoa, để màn đêm rộng mở.”
Còn Tây Ban Nha, quê hương của đức cha nằm ở bán đảo Iberian, phía Tây giáp Bồ Đào Nha, Đông Bắc giáp Pháp, phía Đông và Nam nhìn ra Địa Trung Hải. Đất nước này được mệnh danh là “vương quốc đấu bò”, người Tây Ban Nha theo Thiên chúa giáo, từng là một cường quốc trên biển, chinh phục các nước châu Âu, châu Phi, đặt chân lên châu Mỹ, nhưng lại hợp nhất với Bồ Đào Nha. Thành phố Barcelona nằm ở bờ biển Địa Trung Hải là niềm kiêu ngạo của Tây Ban Nha, là “ viên ngọc của bán đảo Iberian”, nơi thương giao công nghiệp mỹ lệ nhất thế giới. Ở đây có những nhà thờ, cung điện dát vàng, bạc, đá hoa, ngọc bích, cẩm thạch, với những tác phẩm nghệ thuật, hội họa quí giá…

Công chúa dõi theo câu chuyện như lạc vào cổ tích. Nàng chú ý đến phong tục đấu bò kỳ lạ của Tây Ban Nha với cảm giác vừa sợ vừa lạ, nàng mời trà Santa và nói:

- Tôi thật ngạc nhiên vì tục đấu bò trở thành quốc túy của dân Tây Ban Nha, đáng sợ đấy, và cũng dũng mãnh nữa. Ở nước tôi, từ thời Trần vua thường thích xem đấu hổ. Quân sĩ đánh nhau với hổ, vua, thái hậu và các phi tần đến xem. Họ xem đấu hổ để chứng minh sức mạnh của mình. Họ muốn hổ bao giờ cũng phải chịu thua nên đã cắt hết nanh vuốt hổ khi nó vào trận quyết đấu với con người. Có lần con hổ bất chợt nhảy ra khỏi chuồng đấu, leo lên lầu, những người trên lầu sợ chết khiếp, riêng khâm từ Bảo Khánh hoàng thái hậu bình tĩnh lấy cái chiếu che cho thượng hoàng cùng mọi người. Con hổ lên lầu thấy đống chiếu lù lù, gầm lên mà nhảy xuống, mọi người thoát chết. Tôi thì chẳng bao giờ thích xem cái trò đó.

Cevallos nói:

-Con người không quên quá khứ của mình. Trò đấu bò nhắc nhớ lại thời xa xưa tổ tiên chúng tôi sống trong rừng hoang vu cùng dã thú, họ thường xuyên phải liều mình đấu với bò rừng, sau này trở về đất và biển, xây lâu đài, thành quách, cung điện, nhà thờ, sáng tạo nghệ thuật, nhảy múa, hát ca… Đấu bò trở thành một loại hình biểu diễn. Người Tây Ban Nha thích thú cuồng nhiệt với các trận đấu bò. Mỗi năm có hàng nghìn trận đấu bò. Con bò đực được dùng trong các trận đấu bò rất hung dữ, được người dân chuyên nuôi để đấu bò. Bò chỉ đấu một lần rồi bị loại vì bò ra trận lần thứ hai không hung dữ như lần đầu. Các đấu sĩ đều phải huấn luyện nghiêm khắc, phải có thân thể cường tráng, có lòng can đảm và kỹ thuật tinh xảo, giỏi vờn con bò đực hung dữ và có khả năng đâm chết bò bằng một nhát kiếm. Phần thưởng cho đấu sĩ xuất sắc là hai cái tai bò và một cái đuôi bò.

Người Tây Ban Nha không chỉ thích đấu bò mà còn giỏi múa hát nữa, đặc biệt là vũ điệu Flamenco sôi nổi, được gọi là quốc túy Tây Ban Nha. Điệu Flamenco bắt nguồn từ vũ đạo của người Digan, người Andalucia và người Ả Rập pha trộn phong cách nhiều dân tộc. Người ta vừa nhảy vừa hát, vừa múa, với chủ đề chính là Thượng đế, phụ nữ và tình yêu… Họ nhảy ngẫu hứng theo từng loại nhạc, vừa hát vừa nhảy. Chân họ gõ xuống nền nhà, đánh các ngón tay để phát ra tiếng kêu giòn giã mà lại có tiết tấu, nhịp điệu, hấp dẫn mọi người bằng vẻ đẹp cơ thể và sự sôi nổi, hào hứng… Các chàng trai Tây Ban Nha còn có phong tục nịnh con gái đẹp ở nơi công cộng. Con trai Tây Ban Nha tình cờ bắt gặp bất kỳ một cô gái đẹp nào trên phố đều có thể chủ động đến nịnh đầm vài câu, khen ngợi vẻ đẹp của cô gái, làm cô ta cảm kích vui vẻ đối đáp lại vài câu. Kiểu đối đáp ý nhị, tình tứ này hay và đẹp như những bài tình ca Tây Ban Nha ngẫu hứng…

Cevallos bỗng ngừng lời. Im lặng. Hương trầm dâng cảm xúc thanh tao. Cha cố thầm hát theo làn khói hương trầm:” Nàng công chúa kiều diễm của vườn hoa Đại Việt ơi! Cuộc gặp gỡ với nàng đã cho tôi nhớ lại tuổi thanh xuân của tôi. Một chàng trai Tây Ban Nha phong độ hiệp sĩ, cưỡi ngựa đi khắp bốn phương tìm sức mạnh và tình yêu. Chàng ngẩng cao đầu đi trong ánh sáng, nước và lửa mà trái tim rung lên ngọt ngào, say đắm: “ Hơi mát đầu xuân ngả xuống cánh rừng/ Như cái hôn vô tình của Trời trao tặng Đất/ Một chút gì mới tinh không thể mất/ Trong khói sương xanh thẳm đến vô cùng…/ Những đám mây cao, lớp lớp trập trùng/ Như bốc dậy từ men say đất trẻ/ Lá non nướt, khiến tim mình run khẽ/ Hạt mưa nào thấm đẫm mãi thung sâu…/ Hoa hạnh đào ơi, đẹp quá, có ai đâu!/ Sao cành vẫn khoe tươi, hoa một mình trổ sắc?/ Khiến ta nhớ tuổi dại khờ ngày trước/ Tuổi biết yêu mà không có ai yêu!/ Đời đã hầu qua, mất mát đã nhiều/ Đâu có thể chọn con đường khác nữa?/ Nhưng dẫu thế, rừng ơi, ta vẫn nhớ/ Hơi mát đầu xuân từ giấc mộng không còn”.

... CÒN TIẾP ...

© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 07.08.2009.