MẶC CẢM DA VÀNG, MẶC CẢM TỰ TRỊ
Ngôn ngữ Việt là ngôn ngữ đơn âm, nó củn cỡn, ngǎ́n ngủn, gọn trơn. Vì vậy chúng ta tìm cách phong phú hóa nó trong cố gǎ́ng hoa mỹ về mặt âm điệu cũng như ý nghĩa bǎ̀ng nhiều phương cách trong đó có cách ghép thêm một từ khác vào cho dài ra một chút, rườm rà hoa lá hơn và trong sáng ra. Những từ mượn của hán tự nghe rất bác học; còn những từ nôm na tuy không cao sang nhưng được cái đậm đà thú vị. Chǎ̉ng hạn chữ dày vò ; dày là dẫm đạp lên bǎ̀ng chân, còn vò thì dùng tay mà làm cho nát cho rã; vật gì mà bị dày vò thì chǎ́c chǎ̉ng còn manh mún nào nữa. Hành động khá tích cực vì vừa bǎ̀ng tay mà vừa bǎ̀ng chân. Thân xác bị dày vò, thân xác hǎ̉n phải bèo nhèo dữ lǎ́m; còn tâm tư mà bị dày vò thì đau đớn vô cùng. Cũng như chữ chua chát : chua đã nghe ê rǎng rồi mà chát thì lưỡi ta còn nhận ra được mùi mè gì nữa đâu! Đại loại, cách cấu tạo từ kép trong tiếng Việt là như vậy. Tôi nói những điều trên vì trong lúc này tôi đang nghĩ đến từ chung đụng . Còn một từ khác cũng thường được dùng: chung chạ. Hai từ diễn tả hai tình trạng khác nhau. Chung chạ chỉ mới chú ý đến khía cạnh lộn xộn, tuy khó chịu mà chưa nặng nề nghiêm trọng lǎ́m và nhất là chưa mang tính chất xung đột dù nhẹ hay nặng; nhưng đến chung đụng thì tình trạng có mòi gây ra chuyện điên đầu rồi. Quá trình hình thành của từ này bao hàm sự mô tả kèm theo kinh nghiệm, chỉ rõ hậu quả có thể xảy ra.
Chung cư chứa mười hai hộ, đa số là những gia đình đầy đủ vợ chồng con cái tuy cũng có hộ thiếu mất đi một thành viên chính; có vài hộ độc thân, cộng thêm số bạn bè gặp lại cùng những kẻ cư trú cũ vẫn còn đi về vì những liên hệ vật chất hoặc tình cảm. Một cộng đồng như vậy với đủ mọi thành phần xã hội, trong giao tiếp thường nhật trước sau gì rồi cũng có chỗ chểnh mãng. A, chưa có gì nghiêm trọng đâu, xin bạn đừng nghĩ rǎ̀ng mới đó mà đã có chuyện lôi thôi. Chỉ là sự hiểu lầm. Hiểu lầm sinh cãi cọ chứ chưa đến nổi thượng cǎ̉ng tay hạ cǎ̉ng chân.
Trại tạm cư nǎ̀m ở ngoại ô. Chúng tôi mới đến chưa có phương tiện di chuyển riêng nên ban giám đốc phát cho chúng tôi mỗi tuần một tập vé xe buýt. Phải dè xẻn vì nếu nơi đến không nǎ̀m trên trục giao thông chính thì phải lấy hai ba cuốc xe khác nhau, mất một lúc nhiều vé. Nhờ sự mách bảo của các kẻ đến trước, dần dần mọi người biết cách sử dụng những phương tiện cấp phát một cách hợp lý, chǎ̉ng hạn khi cần đi chợ mua sǎ́m thực phẩm, không phải gia đình nào cũng có người đi mà người ta gửi nhờ nhau. Nhờ tinh thần tương trợ và sự phân công, vần công khiến chúng tôi có được nếp sinh hoạt tạm thời trôi chảy thông suốt. Hôm ấy là hôm đến phiên tôi đi chợ, cùng vớii hai người bạn nữa. Nơi đến là một siêu thị tân lập khá xa chỗ ở, dù đường xa nhưng siêu thị này nghe đâu khá lớn, tức là phải có đầy đủ mọi thứ hàng cần dùng nên một lần đi cũng bõ công. Vì phải mua cho nhiều gia đình nên khệ nệ lǎ́m. Lúc còn trong chợ, nhờ có xe cung cấp bởi siêu thị chúng tôi chỉ việc đẩy theo chất đầy vật phẩm chọn lựa, nhưng khi ra ngoài thì mọi người đưa hàng ra chất lên ô tô riêng của mình, và trả xe chất hàng lại cho siêu thị, phần chúng tôi có khó khǎn hơn. Siêu thị được xây cất trên một khu đất lớn, phải đi bộ ít nhất cũng đến nǎm sáu trǎm thước mới đến trạm xe buýt; khoảng cách không đáng kể nếu đi mình không, đàng này chúng tôi phải xách hàng chục gói hàng, phải chịu vất vả một tỉ mới xong được. Tôi đang loay hoay toan tính sao để mang cho gọn thì thấy hai người bạn ngang nhiên qua mặt tiếp tọc đẩy xe chất hàng của siêu thị vượt hàng rào cản tiến về phía trạm xe buýt. Tôi lên tiếng gọi hai anh chỉ tấm bảng khuyến cáo những kẻ mang xe ra khỏi phạm vi siêu thị nhưng hai anh giả điếc làm ngơ. Tới trạm, hai anh ung dung thu tóm hàng hóa và trèo lên buýt bỏ mặc hai chiếc xe chổng gọng bên vệ đường. Lúc đã yên chỗ yên nơi, tôi ngõ ý trách hai anh về hành động đó; thay vì phân trần phải trái cùng nhau, một anh buột miệng: "Có gì đâu mà anh sợ Tây dữ vậy!" Tôi tìm cách giải thích với anh rǎ̀ng đấy không phải là thái độ sợ sệt nhưng là tinh thần kỷ luật. Tôn trọng kỷ luật trước nhất là vì mình, vì tôn trọng phẩm giá của chính mình, không muốn cho người xúc phạm, sau nữa mới đến kẻ chung quanh; ta không sống một mình mà sống với kẻ khác, phải có một trật tự chung, do đó phải tôn trọng kỷ luật để đảm bäo trật tự chung đó. Nhưng vô ích. Những điều tôi nói chỉ được xem như một thứ ngụy biện nhǎ̀m che đậy sự yếu hèn và càng làm trò cười cho hai anh.
Tâm hồn Việt-Nam quả có mong manh hơn người. Chúng ta có khuynh hướng tìm hiểu những gì chôn dấu giữa hai hàng chữ và rất dễ mủi lòng. (tấm bäng ghi: cấm không được mang xe ra khỏi phạm vi siêu thị. Người ta cấm vì đã có kẻ hành động như vậy sẽ gây mất mát, thiếu hụt, trở ngại cho việc điều hành , mà nếu cần thu hồi thì phải thuê thêm người làm công việc ấy, tốn kém chi tiêu. Nhiều kẻ, người ta không ám chỉ riêng anh. Thứ nữa, người ta không cấm anh, người ta chỉ cấm hành động sai phạm. Thế mà anh nóng mũi: "ĐM, cái gì mà cấm?" Và để chứng tỏ rǎ̀ng anh không sợ...Tây, anh cứ đẩy xe ra xem có ai làm gì được anh không!).Tại sao? Có phải vì hậu quả của một ngàn nǎm bị đô hộ bởi người Tàu và ngót trǎm nǎm bởi người Pháp như lời Trịnh Công Sơn? Chính cái mặc cảm tự ti đã khiến ta ghét người khi người chưa kịp ghét ta, ta hùng hổ chống đối người khi người chǎ̉ng có ý định hại ta, và ta ngúng nguẩy khi người giang tay mời đón; ta tự ý nhích ra xa và trách rǎ̀ng người không cho ta nhập bọn. Còn một lý do khác: chúng ta quen sống trong xã hội tình hơn là xã hội lý.(1) Nhưng ở cuối thế kỷ hai mươi con người cứ càng lúc càng xô nhau về thành thị với tốc độ khủng khiếp. Người ta tính rǎ̀ng tại các nước công nghiệp nhịp độ đô thị hóa lên đến 70% hoặc 75% , có nghĩa là ba phần tư số dân trong một nước sống ở các điểm tập trung đó. Người ta tìm đến đô thị để dễ kiếm việc làm, để được hưởng tiện nghi (dù vǎn minh và nǎ́m chǎ́c kỹ thuật đến đâu chǎng nữa tầm mức phục vụ dân sinh tại các điểm tập trung vẫn tốt hơn nơi thôn quê hẻo lánh), Thị tứ là nơi thượng vàng hạ cám, mọi giai tầng xã hội, mọi sǎ́c dân, mọi vǎn hóa nhào trộn, mạnh ai nấy sống, mạnh ai nấy tranh giành. Để quản trị hữu hiệu một xã hội như vậy, người ta chỉ có sức mạnh duy nhất của công lý. Đừng mong chờ tình nghĩa, đừng ngóng trông được đối xử ngoại lệ. Không gian hết mông mênh, chúng ta đối mặt nhau, chen vai thích cánh nhau nhưng không nhìn rõ mặt nhau, còn nói chi đến tình nghïa! Tục ngữ có câu "nhập gia tùy tục, nhập giang tùy khúc" phải biết quên đi thói quen ở nhà và tập cách sống xứ người. Vả lại, chống đối một lề luật thành vǎn là tự mình cô lập hóa mình; trong bước thứ nhất, phản ứng của kẻ chung quanh sẽ là cái nhìn khinh bỉ, nhưng cũng có thể là cơ hội cho sự biểu lộ cái gọi là kÿ thị chủng tộc. Tôi không tin mấy về một hiện tượng kỳ thị thuần túy, có nghĩa là một thái độ thù hǎ̀n khinh khi vô cớ. Tinh thần kÿ thị chủng tộc, nếu có, thì giống như một phản ứng hóa học, nó cần có chất xúc tác. Chính thái độ của đối tượng sẽ là chất xúc tác. Bạn xử sự sai lầm, gặp kẻ hiền lành hoặc người có tư cách người ta sẽ ôn tồn giải thích khuyên nhủ bạn, nhưng gặp đứa nóng nảy ngu xuẩn hǎ́n sẽ có phản ứng dữ dội ngay; dù thǎ́ng hay thua cuối cùng ác cảm vẫn còn đ́ấy và để giải thích mối ác cảm vừa nẩy sinh, nguyên do đơn giản nhất là màu da của bạn, là gốc gác của bạn. Hơn nữa, con sâu làm rầu nồi canh, ở xứ lạ trách nhiệm của bạn lớn hơn nhiều vì đôi khi bạn đại diện cho cả một giống nòi. Bạn hành xử sai trái, người ta không chỉ trích riêng bạn, người ta có thể có thành kiến xấu cả giống nòi bạn đất nước bạn. Bạn vẫn còn chút máu Việt-Nam chứ?
Không phải một sớm một chiều người ta trở thành kẻ sống ngoài lề xã hội. Nhiều khi chỉ một bước sẩy chân, một cử chỉ thiếu suy xét khiến ta bị cảnh cáo; thay vì sửa đổi ta lại gây hấn nhiều thêm; biện pháp trừng phạt của xã hội cứ theo tỷ lệ của mức độ sai lầm mà áp dụng; kẻ nhận chịu càng lúc càng bị đẩy xa tập thể cho đến lúc không còn quay lại được nữa. Mục tiêu của chúng ta là hội nhập hoàn toàn vào xã hội mới. Chấp nhận pháp luật, kỷ cương của xứ người là điều kiện tiên quyết cho sự thành công hội nhập. Con đường thuận chiều là con đường ấy, cớ chi ta không theo mà đi ngược lại?
Tuy nhiên, không phải cứ thuận chiều là trót lọt dễ dàng. Phải rất nhiều cố gǎ́ng, nhiều hy sinh mới thích nghi được với cuộc đổi đời này. Trước tiên là vấn đề tìm việc. Các chuyên viên khoa học là lớp người hội nhập dễ dàng hơn cả vì kiến thức chuyên môn đã có sǎ̃n, chỉ cần khả nǎng ngoại ngữ, nhưng hoạt động khoa học không đòi hỏi khả nǎng ngoại ngữ thật xuất sǎ́c như những kẻ trong các ngành khoa học nhân vǎn. Một vài nǎm ngồi lại ghế nhà trường, vừa bồi dưỡng kiến thức chuyên môn vừa tập sử dụng ngôn ngữ của người, sau đó họ có thể tái hoạt động, trở lại với nghề nghiệp cũ. Nhưng một ông giáo sư triết, một kẻ theo nghiệp vǎn chương khó mơ ước trở về bục giảng với phấn trǎ́ng bảng đen. Trong trường hợp ấy, ta phải chuyển ngành và nếu kẹt lǎ́m, ta phải chấp nhận làm những công việc khác, chấp nhận trụt xuống vài nấc thang xã hội. Tôi nhớ lời ông phó lãnh sự ở Sài gòn nói chuyện với tôi ngày đầu tiên chúng tôi được gọi vào trình diện làm thủ tục, ông ta đặt điều kiện với tôi. Ông bảo: "Chúng tôi không thiếu chất xám; chúng tôi thiếu cánh tay nhiều hơn; nếu ông chấp nhận làm bất cứ công việc gì, tôi sẽ ký chấp thuận hồ sơ cho gia đình ông đi tức khǎ́c" . Tôi chịu cam kết với ông ta và tự nhủ: Có sao đâu, giá trị con người không được tính nơi nấc thang xã hội nó chiếm đoạt mà là phẩm cách của nó và lợi ích mà nó đóng góp cho tập thể.
Thời điểm nhập cư vào đất Pháp của chúng tôi thiếu nhiều thuận lợi. Thập niên tám mươi không phải là thời kỳ mà biểu đồ phát triển kinh tế Pháp theo hướng trèo lên mà là hướng trụt xuống. Thời kỳ ba mươi nǎm huy hoàng(2) chấm dứt đã lâu. Lực lượng thợ thuyền Bǎ́c Phi được nhà cầm quyền Pháp "chiêu hồi" lúc chiến tranh thứ hai vừa chấm dứt để góp tay tái thiết kỹ nghệ Tây Âu nhờ kế hoạch Marshall, giờ đã bǎ́t đầu tỏ ra kềnh càng vướng víu cho ngân quỹ nhà nước. (Công nghệ phát triển, bàn tay công nhân là vàng; nhưng công nghệ không phát triển nữa, bàn tay công nhân trở nên thừa. Không những bản thân công nhân đã thừa mà còn cả gia đình hǎ́n, sự thừa ấy được nhân lên gấp mấy lần!). Ngay người công dân Pháp chính cống cũng đã bǎ́t đầu gặp ít nhiều khó khǎn trong khi đi tìm việc làm thích hợp. Con số người thất nghiệp đã đạt đến hơn 8% tính trên lực lượng đang trong tuổi hoạt động. Jean-Marie Le Pen, một chính trị gia hoạt đầu, từ nhiều nǎm qua chưa tìm ra được những lý lẽ đủ để thuyết phục đám quần chúng bỏ phiếu cho mình giờ bổng vớ được một chủ đề khá hấp dẫn là nạn thất nghiệp và lý do đưa đến thất nghiệp. Đám dân di cư Bǎ́c Phi trở thành con vật tế thần: tệ nạn xã hội, khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, quỹ trợ cấp an sinh thiếu hụt... tất cả đều do đám người di cư ấy gây ra.Thính giả ủng hộ Le Pen thuộc thành phần thấp kém trong xã hội gặp khó khǎn trong sinh kế, vỗ tay tán thưởng nhà hùng biện bình dân khi ông ta lý luận rǎ̀ng trong hoàn cảnh chật vật, nhà nước phải dành quyền ưu tiên cho người gốc Pháp, phải có một chính sách cứng rǎ́n đối với dân di cư vì chính họ đã chiếm công ǎn việc làm của người bản xứ, đặc biệt là đối với những thành phần không có khả nǎng hoặc thiện chí trong việc hội nhập.
Vấn đề hội nhập đối với nhóm dân di cư Bǎ́c Phi có rất nhiều khó khǎn. Đa số thuộc thành phần thấp kém trong xã hội; nghèo khó, thiếu học, họ đến đất lạ chỉ bởi động cơ tìm việc làm tay chân, dành dụm món tiền vốn và hy vọng một ngày trở về quê hương. Con đường quay về là lý do chính ngǎn chận cố gǎ́ng thích nghi với nếp sống xứ người. Nhưng có chǎ́c là họ sẽ quay về? Có nhiều biến chuyển sẽ khiến họ bỏ ý định. Chǎ̉ng hạn sau một thời gian làm việc, họ nhớ vợ nhớ con, muốn có gia đình bên cạnh luôn luôn thay vì là mỗi nǎm một bận về thǎm nên đã tìm cách mang vợ con sang; cũng có những kẻ chưa có hoặc không có gia đình, trong sôe này sẽ có những người thành hôn với các cô gái Pháp nên vấn đề hồi hương không còn được đặt ra nữa; trái lại kẻ không bị ràng buộc nǎm khi mười họa cũng về thǎm quê nhưng nếp sống tha hương từ nhiều nǎm đã thành quen thuộc khiến họ không còn tìm thấy mối liên hệ mật thiết cùng xứ sở nữa. Không còn tha thiết với quê hương nhưng vẫn xa lạ với xứ người, điều đó còn do những yếu tố khác.Yếu tố tôn giáo đóng một vai trò quan trọng. Sự khác biệt tôn giáo đối với chúng ta ít khi là bài toán nan giải có lẽ vì bản chất người Việt không cuồng tín, hơn nữa tinh thần Phật giáo rất cởi mở nên vấn đề cộng sinh trở nên dễ dàng, không kể thành phần Thiên chúa ao động và bộ Xã hộigiáo như cá gặp nước. Ngược lại với trường hợp người Bǎ́c Phi. Thế hệ thứ hai của lớp người này đáng ra phải có mức độ hội nhập tốt hơn lớp cha ông nhưng hoàn cảnh đã không chiều đãi họ. Thất bại cay đǎ́ng nhất thuộc bình diện xã hội. Nếp sống vật chất hoàn toàn tây phương nhưng nếp sống tinh thần của những người trẻ này hầu như mất hướng. Địa vị xã hội của lớp cha ông không cho phép thế hệ con cháu thǎng tiến về mặt giáo dục và vǎn hóa, mặc dù những nỗ lực của chính quyền trong phạm vi này rõ ràng nhǎ̀m vào mục tiêu dân chủ hóa (démocratisation) học đường, không những chỉ ở bậc tiểu học khi đứa trẻ còn ở trong tuổi cưỡng bách giáo dục mà ở cả các bậc học cao hơn hầu mong nâng đỡ các thành phần xã hội nghèo khó và kém may mǎ́n. Thiếu sở đǎ́c vǎn hóa, họ cũng chỉ lập lại hoàn cảnh cha ông cộng thêm những ngặt nghèo mới vì nạn hiếm hoi công ǎn việc làm và mối ác cảm do nhóm chính trị gia cực hữu gieo cấy vào lòng người dân Pháp. Họ trở thành tấm đệm của xã hội, hứng đỡ mọi dập vùi và bao che nhọc nhǎ̀n cho các tầng lớp khác: muốn có công ǎn việc làm họ phải chấp nhận loại nghề nghiệp nặng nhọc chǎ̉ng hạn trong ngành xây cất nhà cửa, sửa chữa đường sá, và lúc hiếm hoi công ǎn việc làm thì chính họ sẽ là lớp người đầu tiên bị sa thải; tỷ lệ thất nghiệp vì vậy cao gấp đôi so với các thành phần khác của xã hội. Lớp cha ông đầu tiên đến đất người được gia nhập vào hàng ngũ công nhân trong kỹ nghệ nặng, nhất là ngành sản xuất xe hơi. Làm việc theo hệ thống dây chuyền không đòi hỏi khả nǎng hiểu biết đặc biệt nên tuy phục vụ một thời gian dài, họ vẫn không có nghề nghiệp chuyên môn khả dĩ đảm bảo cho nhu cầu nhân lực thiết yếu của xí nghiệp, do đó giới chủ nhân không đǎ́n đo khi phải quyết định sa thải. Việc sa thải thực ra chỉ là một biện pháp tạm thời, không là một giäi quyết thích đáng. Trước nhất bởi tính chất hợp pháp của sự cư ngụ của họ trên đất người mặc dù có thể là họ không mang quốc tịch Pháp; thứ hai, với tư cách công nhân họ có luật pháp đứng bên cạnh để bênh vực quyền lợi. Thành ra sự sống còn của họ trở thành bài toán của quốc gia. Nhà nước mở cửa cho họ vào, nhà nước phải chịu trách nhiệm cho đời sống họ. Điều đó liên quan đến nhiều bình diện: đối ngoại, kinh tế, vǎn hóa, xã hội.Trước thập niên tám mươi, chính quyền Pháp cho nhập cư hàng nǎm từ hai đến ba trǎm nghìn người, sau cuộc khủng hoảng dầu lửa bǎ́t đầu từ 1974, nhà nước chận đứng việc nhập nội những thánh phần không chuyên môn, và cùng một lúc nền kinh tế của các nước tiên tiến xoay chiều dần: phạm vi dịch vụ phát triển vượt phạm vi sản xuất, lớp công nhân bị sa thải ở lãnh vực kỹ nghệ tràn sang kiếm việc ở lãnh vực dịch vụ. Bên cạnh đó, một lề luật mới về việc thu nhận người làm ra đời: việc thuê người tạm bợ trong một thời gian ngǎ́n có giới hạn rõ ràng. Giới chủ nhân đua nhau chọn công thức thuê người mới mẻ này vì có nhiều thuận lợi, tránh cho họ những ràng buộc xã hội(3) dài lâu với người công nhân. Cũng vì vậy mà thành phần công nhân ngoại nhập sẽ là thành phần chiếm đa số trong lối hành nghề tạm bợ nói trên.
Như ở đoạn trên chúng tôi có nói, bước vào thập niên tám mươi, nền kinh tế Pháp có chiều đi xuống dần. Tuy vẫn được xếp hạng thứ nǎm trong hàng cường quốc kinh tế nhưng nếu chia đều sản lượng quốc gia cho mỗi đầu người, nước Pháp phải trụt xuống hàng thứ 19 của thế giới vì tỷ số này thấp hơn Nhật Bản, kể từ nǎm 1983. Tổng sản lượng thu hoạch của quốc gia kém dần đi một cách rõ rệt, tỷ lệ nghịch với con số người thất nghiệp càng ngày càng tǎng cao. Với một lực lượng ở tuổi hoạt động hơn 23 triệu, số người thất nghiệp sẽ lên đến một triệu tám trǎm nghìn người!(4) Khó khǎn đã ràng ràng ra đấy nên sự cố gǎ́ng của chúng tôi càng phải có anhiều hơn mới mong hội nhập được vào xã hội mới. Ở thời đại này dù dưới thể chế chính trị nào, con người cũng bị bǎ́t buộc phải gia nhập chứ không thể tách lìa. Tố chức xã hội càng ngày càng thǎ́t chặt nếu không vì lý do chính trị thì cũng vì vấn đề kinh tế hoặc an ninh, nhà nước vô hình chung vẫn trở nên ông anh lớn đôi mǎ́t soi mói xét nét dò tìm trong đời sống mỗi cá nhân chúng ta. Không đóng được vai Sào Phủ, Hứa Do lên non sống một mình, chúng tôi chỉ còn con đường xuống núi giải quyết bài toán hội nhập vì thành công trong hội nhập sẽ dẫn đến thành công vật chất lo được cơm áo cho gia đình và thực sự đóng vai trò thành viên của xã hội, thỏa mãn nhu cầu tâm lý và tinh thần vì cảm thấy là một bánh xe hữu ích của bộ máy tập thể.
... CÒN TIẾP ...