GIỜI CAO ĐẤT DÀY



CHƯƠNG IX


Mùa hè năm nay thằng bé đã được hai tuổi, nó đã biết đi, biết gọi bố, gọi mẹ; chưa đối đáp được, nhưng thấy người lớn nói chuyện nó đã hong hóng ngồi nghe. Thế là từ nay Thuần đã có đứa con để chuyện trò, cứ hễ về đến nhà là hai bố con ríu rít. Thuần nói suốt ngày, kể cho con nghe bao nhiêu là chuyện, có nhiều chuyện thằng bé không nghe nổi, điều đó không quan trọng, Thuần cứ nói , cứ kể, lớn đến đâu nó sẽ thấm đến đấy.
Một buổi sáng ru con ngủ xong, Thuần đưa vợ đi chợ, đến quãng đê rẽ vào chợ, thì Thuần quay lại. Đi được độ nửa cây số thì trời như đổ sập xuống, mây đen từ ngoài khơi ùn ùn kéo lên cuồn cuộn như khói cháy nhà, trời, biển, rừng một màu xám ngoách. Ngoài khơi xa sóng biển bỗng lặng phắc, giống như nồi nước sắp sôi, vài con chim mố nháo nhác bay vào bờ, đàn cò đỗ ở rừng sú vẹt bỗng bùng lên, tản đi nơi khác, con bò nhà ai buộc ở bờ đê bỗng gầm lên, rứt đứt sẹo, lồng vào trong làng.
Thuần thấy rờn rợn và dừng lại, bao nhiêu năm ở biển Thuần chưa gặp hiện tượng lạ này bao giờ. Mưa, giông, bão lụt thì có, nhưng chim bay, bò chạy, biển bỗng câm lặng như thế này thì đời Thuần chưa gặp. Một phút như lặng phắc, rồi từ ngoài khơi một cột nước khổng lồ, đen sì, ngun ngút từ dưới đại dương xoáy tròn bốc thẳng lên trời. Biển như ghềnh lên, trời chao đảo, mọi vật như có một lực hút vô hình, đánh xoáy vào một địa ốc nào đấy. Thuần chỉ kịp thốt lên: “ Chết rồi, vòi rồng!”, và... ầm ầm, roàm... roạp! Cái cột nước khổng lồ ngoài đại dương từ trên trời đổ sập xuống, Thuần như bị một luồng khí cực mạnh bốc lên.Một trận mưa, đúng hơn là một biển nước ào ào chuyển động rút ngược lên không trung, kéo mặt đất và trời cao chập lại với nhau, méo mó, dựng ngược, lộn ngược, xoáy tròn. ở phía trước, hướng túp lều của Thuần như vỡ toang toàng, một cảm giác, một hình dung khó hiểu, Thuần không thể tưởng tượng nổi.
Thuần chạy, chạy như chân không bén đất, chạy mà trong đầu không nghĩ được gì hết, cho đến khi trước mặt Thuần cả một vùng rừng dứa dại, phi lao và sú vẹt bị vòi rồng cuốn sạch sành sanh, chỉ còn trơ lại vài gốc phi lao bật rễ. Một đoạn đê biển bị sạt lở nghiêm trọng, túp lều, đứa con... và tất cả bao công sức của vợ chồng Thuần đã bị vòi rồng đập nát và đưa về biển cả.
Thuần sững sờ đứng lặng một lúc như gốc vẹt bị đốt nóng chết đứng, và hình như mớ tóc Thuần cứ chín dần chín dần theo từng giây, từng sợi tóc thay nhau ngả màu vàng, rồi trắng. Chỉ trong giây phút khi mà mớ tóc Thuần đã chín hết, thì Thuần đổ sụp xuống và không còn cảm nhận được gì nữa, cả nỗi đau đang rứt xé tim gan. Trong tim Thuần chỉ còn âm ỉ tiếng rên : “ Con ơi, là con ơi!”
Thuần gục xuống, gục mãi cho đến khi có ai đó lay vào vai. Thuần có biết nhưng cũng không thiết nghĩ, không thiết tiếp nhận, còn gì đâu mà sống! Cái quí nhất của đời Thuần là đứa con không còn nữa, thì còn cần gì. Thuần làm sao mà sống tiếp được đây, bây giờ chỉ còn con đường chết đi thì mới hết đau, hết khổ. Nhưng rồi bàn tay mềm mại luồn vào ngực ấp nhẹ lên tim, Thuần mơ màng hiểu đó là bàn tay ấm áp của Sa. Thuần mở mắt và từ từ ôm lấy đầu vợ kéo vào ngực mình. Sa thì nấc nghẹn, nước mắt chảy tràn trên ngực chồng, còn Thuần thì trơ không khốc. Hết, hết tất cả rồi. Đau quá, đau đến nỗi Thuần không khóc nổi. Thuần không ngờ rằng chỉ ít phút đây thôi, thằng bé còn ngậm vú mẹ bú những dòng sữa ngọt, nó bắt bố phải hát ru thì mới chịu ngủ, chưa hết nó đòi mẹ phải xoa lưng... lại là phút cuối cùng của đời nó. Bây giờ con ở đâu, thân xác còn nguyên vẹn, hay là bị cá dữ cắn xé, tranh giành, chỉ còn lại những khúc xương chìm sâu mãi mãi xuống đáy đại dương? Hỏi trời cao ơi! Đất dày ơi! trời có thấu, đất có hay? Sao đời vợ chồng Thuần lại khổ đến thế này?
Sau cơn cuồng nộ của biển cả, trời trở lại hiền hoà như kẻ giả vờ. Nếu như chỉ có một mình thì có lẽ Thuần đã chọn cái chết để nhẹ gánh, nhưng bên cạnh Thuần còn có Sa. Đời Sa cũng cùng khổ, gặp được Thuần hy vọng sẽ có hạnh phúc, bây giờ mà Thuần bỏ đi thì có lẽ Sa cũng ra đi nốt, thế là người nọ vì người kia mà cố vực nhau dậy.
Biết là không còn gì nữa, nhưng vợ chồng Thuần vẫn dìu nhau lết đi cố tìm xem còn di vật gì của đứa con yêu. Không còn gì, ngoài một vùng cát, cây cối gẫy vụn, hoang tàn. Đi quá một quãng nữa Thuần gặp con quái vật bị hai cây phi lao gãy đè nghiến ngang phần dưới, nó vẫn còn sống và đang chớp đôi mắt xin cầu cứu. Lúc đầu Thuần định lợi dụng cơ hội dùng gậy đập chết con quái vật, nó là cái ác, nó chính là ông Đội, cô Bi, nó…, nó... nhưng khi nhìn vào mắt Sa, thì Thuần lại hiểu lúc này nó cũng là nạn nhân như Thuần, như Sa và đứa con vô tội của vợ chồng Thuần. Biết đâu con trai của Thuần cũng bị như thế này ở nơi nào đó đang cần người cứu thoát, và thế là thay vì đập chết con quái vật, Thuần cùng vợ khiêng hai cây phi lao, rồi vần con quái vật xuống hồ.
Từ khi gặp con quái vật bị nạn vợ chồng Thuần cứ hy vọng ở một chỗ nào trên bờ biển đứa con trai của họ đang còn sống và đòi được cứu, thế là hai vợ chồng đi dọc bờ biển, sục vào cả rừng sú vẹt tìm con. Tìm mãi, tìm suốt ngày mà không thấy. Ngày hôm sau, triều lên họ lại ra mép nước, triều xuống lội ra bãi lầy, xét tìm, cầu mong biển đưa xác con vào bờ trả họ. Cho đến ngày thứ ba, khi triều cường, hai vợ chồng đang hỳ hục dựng lại túp lều thì từ ngoài bãi một tiếng phì bùng lên, Thuần buông tay nhìn ra, chao ơi người bạn thân thiết – con cá heo – ân nhân của Thuần đã lâu lắm rồi nay lại xuất hiện. Thuần vội gỡ áo lao xuống. Con cá heo giơ cái đuôi lên như chào Thuần, rồi cất cái đầu lù lù tiến vào. Trên đầu con cá heo là xác thằng bé, con trai của Thuần. Trời ơi, con! Thuần lao xuống biển, sững lại vài giây và từ từ ôm lấy xác đứa con thân yêu. Nước mắt Thuần từ từ ứa ra và cứ thế tuôn chảy, cho đến khi cạn kiệt không còn có thể chảy ra được nữa. Thuần lặng lẽ bế con vào lòng, vuốt vuốt lên đầu con cá heo từ biệt, đi vào bờ đặt con nằm xuống cát.
Thằng bé bị bầm dập mấy chỗ, còn lại gần như nguyên vẹn. Tuy đã ba ngày, ba đêm, nhưng được ngâm dưới lòng biển mặn, nên đứa bé không bị thối rữa, da vẫn đỏ au vì muối mặn. Sa khóc không thành tiếng được, nên vật vã, lúc ôm con vào lòng, lúc ấp cả người lên con. Rồi Sa giữ con khư khư trong lòng không cho Thuần đưa đi mai táng. Sa trật vú nhét vào miệng thằng bé. Thuần đứng nhìn vợ đang như người điên dại mà lòng quặn thắt.
Sau khi đưa được xác thằng bé vào bờ, gần tối con cá heo lại mang về cho vợ chồng Thuần một chiếc xoong bẹp. May quá, mấy ngày nay vợ chồng Thuần chỉ có chiếc niêu đất Sa mới vào làng xin được, nấu nướng tất cả chỉ có mỗi. Cảm ơn người bạn tốt giúp vợ chồng Thuần qua cơn bĩ cực. Bây giờ Thuần còn bao nhiêu công việc phải làm để tạo dựng lại cuộc sống mới, lại bắt đầu từ con số không.
Nhưng mà Sa không thể nào thoát được u uẩn. Cái đau của người câm nó ứ nghẹn, cuộn lại trong tim, quặn thắt khiến cho tâm thần bất định. Sa lang thang vẩn vơ trong rừng phi lao, rồi ôm một khúc cây, vạch vú cho bú. Sa làm thế suốt mấy ngày mà Thuần không nỡ làm gì khác đi được, chỉ đứng nhìn vợ mà nuốt nước mắt vào trong. Rồi đến một hôm khi hoàng hôn nhuộm tím biển chiều, Sa ôm khúc cây cứ thế lững thững lội dần ra biển. Triều đang lên cao, từng đợt sóng chồm lên kéo Sa ra sâu mãi, cho đến khi khúc cây trên tay chìm nghỉm, thì một đợt sóng khác trùm lên nuốt chửng.
Thuần chỉ kịp thét lên một tiếng, rồi từ trên bãi cát lao như một mũi tên xuống biển, lặn ngụp, cuống cuồng và vớt được Sa vác chạy một mạch vào bờ. Sa được cứu sống, nhưng cô cứ nằm li bì suốt hai ngày, cho đến ngày thứ ba, bỗng nhiên Sa tỉnh hẳn, trở dậy ăn uống như người bình thường, rồi đi lại, làm việc như chưa từng xảy ra chuyện gì. Thuần chiều chuộng và dẫn dụ Sa trở lại làm mọi việc để quên đi đau khổ.
Buổi sáng Thuần phải xuống biển, bắt được thứ gì đó bán ra tiền, càng được nhiều tiền càng tốt, để sắm lại mọi thứ, từ hạt gạo củ khoai, đến con dao, cái nồi, cái cuốc... tất tật mọi thứ và nhất là lương thực. Thửa ruộng lúa sắp thu hoạch, miếng vườn đỗ đen, vạt rau muống v.v... của vợ chồng Thuần vỡ hoang cũng đã bị vòi rồng quật nát cả. Sa đi chợ bán chác xong xuôi, mua những thứ cần thiết, rồi lân la vào làng bên xin được cái gì thì xin. Thấy con câm xinh xắn không xin đồ ăn, chỉ xin đồ dùng, cũng nhiều người động lòng trắc ẩn, có khi họ cho cái cuốc, rồi cả cái nồi, chiếc ấm. Buổi chiều Thuần tranh thủ chặt tre, chặt gỗ dựng lại mái lều, Sa trồng trọt, chăm bón lại hoa màu cho chóng thu hoạch. Buổi tối hai vợ chồng ra thăm mộ con, thắp cho con nén hương, rồi trở về nhà Sa nằm khóc rưng rức. Những khi nhìn Sa khóc không thành tiếng, người chỉ nhũn ra, rung lên, Thuần buồn nẫu ruột, nhớ thương con không chịu nổi, chỉ biết ôm vợ vào lòng, động viên vợ, cũng là để an ủi mình.
Thuần dựng lại căn lều đẹp hơn, chắc chắn hơn căn lều trước. Thuần còn đào cái giếng nước trên bãi cát, đan bi giếng bằng tre để giữ cho giếng khỏi sập. Sa tìm đến một Hợp tác xã sản xuất chum vại xin được vô số vại không đạt chất lượng, méo mó mang về dùng. Thuần chặt tre cắm mắt cáo vây quanh nhà thành bức tường dậu, có cổng ra vào trông qui củ lắm. Dần dần Sa mua về con chó, con gà, con mèo để nuôi. Thuần lại làm diều để hai vợ chồng đua mỗi chiều gió nồm nam thổi. Tuy vậy đau khổ đã khắc sâu và hằn lên khuôn mặt của vợ chồng Thuần không thể xoá nhoà được. Nét buồn u uẩn đã xuất hiện trên khuôn mặt xinh đẹp của Sa, nhất là khi Sa thẫn thờ đứng trước mộ đứa con bé bỏng, trông như già đi vài tuổi. Còn trên khuôn mặt của Thuần đã có những vết chân chim nơi khoé mắt, một chút màng đục hơi vàng đã xuất hiện trong lòng trắng hai con mắt, cái tinh lác trong con ngươi không còn sắc sảo, lãng mạn như trước nữa, ánh nhìn có vẻ trằn trải, yếm thế và đau khổ.

Ngôi nhà vừa trở lại không khí yên bình được vài tuần, thì một buổi sáng bỗng đâu từ cánh đồng ven đê phía trong làng vang lên tiếng loa pin: - A lô! a lô! Thông báo cho gia đình thằng hủi biết: trong vòng ba ngày gia đình thằng hủi phải chuyển đi nơi khác để đồng bào đắp lại đoạn đê bị vòi rồng phá vỡ. Nếu không đi sẽ bị thiêu huỷ toàn bộ.
Tiếng loa nhẫn tâm lặp đi, lặp lại nhiều lần cho đến khi Thuần không thể chịu đựng được nữa, vùng chạy ra mặt đê định làm một hành động gì đấy để giải thoát cơn bức xúc đã dâng đến tột cùng, ứ nghẹn cổ họng, nhưng bất lực. Toàn thân Thuần căng lên, sắp nổ tung, và ngay lập tức Thuần rũ xuống như một quả bóng xì hơi. Thuần nhục quá, nhục không thể chịu đựng được. Cái nhục của kẻ bị đồng loại ruồng bỏ, cái nhục của kẻ không còn chốn nương thân. Trời đất dập vùi đến hai bàn tay trắng, Thuần vượt qua được, bệnh tật hành hạ,Thuần cũng không sợ, đói kém, có những lúc tưởng như đứt hơi, Thuần cũng chịu đựng được và vượt qua. Bây giờ làng Bùi quyết trục xuất, thì Thuần nhục quá, uất quá. Làng Bùi đuổi Thuần, cũng có nghĩa là đồng loại đuổi Thuần. Đi đâu bây giờ? Làng Bùi, cái nôi sinh ra Thuần, dẫu sao Thuần cũng còn họ hàng dây mơ dễ má, cha Thuần cũng đã một thời lãnh đạo dân làng Bùi thoát khỏi lầm than, mà họ còn đuổi Thuần, vậy thì còn ở đâu dám chứa chấp Thuần? Mà còn sức đâu mà đi? Người hủi như bố của Gấm, đến chết dưới mồ còn không có người đến gần. Trời ơi, nhục quá, đau quá. Đã thế Thuần sẽ chết. Thuần chết ngay giữa làng Bùi xem chúng mày xử lý làm sao? có bỏ cả làng mà xéo đi không? Thuần sẽ vào giữa đình làng treo cổ ở đấy để làm Thành hoàng làng, cho cả cái làng Bùi bị hủi hết, lúc ấy họ sẽ hiểu, sẽ đau như thế nào.
Trong lúc Thuần đang cùng quẫn cực độ, thì phía rìa làng có đến vài chục người lố nhố giơ nắm tay đấm về nơi Thuần có vẻ như chửi bới gì đấy, liền đó tiếng loa pin lại gào lên:
-Thằng hủi! Muốn sống thì đi ngay, nếu không dân quân sẽ bắn chết tươi bây giờ.
Cơn bĩ cực trong người Thuần đã đến đỉnh điểm, Thuần chạy vào lều, rút con dao nhọn cài ở mái nhà, phóng ra sườn đê. Thuần sẽ lợi dụng sườn đê bí mật vào trong làng, chui vào đình, rồi hô lên, rồi tố cáo, rồi rửa oan cho cha, cho mẹ, cho chị. Lúc đó dân quân sẽ bắn, nếu không bắn, con dao này Thuần sẽ kết liễu đời mình ngay giữa đình làng. Chúng mày đuổi ông đi, thì ông chết ngay giữa đình làng, xem thằng nào phải bỏ làng mà đi.
Thuần chạy như điên, vượt qua rừng phi lao, phóng qua rừng dứa dại. Máu trong huyết quản hừng hực, dâng lên não căng cứng. Bỗng thuần vấp phải cái rễ cây, ngã lộn một vòng, nằm sấp mặt xuống sườn đê.
Sa chạy theo chồng, mãi đến khi Thuần ngã mới đuổi kịp. Sợ Thuần chết Sa ôm lấy chồng vật vã gào khóc. Người câm mà gào, mà khóc trông tội lắm. Tiếng khóc, tiếng gào nó lặn vào trong tim, rồi nó thoát ra hai con mắt, ra cơ mặt, ra các đầu dây thần kinh khắp tứ chi, run bần bật không ai có thể cầm lòng được.
Chỉ nhìn thấy vợ vật vã như thế tự dưng cơn bĩ cực trong người Thuần dịu dần. Đúng rồi, Thuần còn có Sa. Con người ta sở dĩ không thể chết được cho nhẹ gánh là còn vì trách nhiệm với người khác, và đó là cái khó nhất của con người có lương tri, những như mình với thân mình trần trụi thì thế nào cũng được.
Đơn giản như thế, và Thuần gượng dậy đỡ Sa trở về mái lều.
Lại một cuộc di chuyển tạo dựng cơ ngơi mới của hai vợ chồng thằng hủi, con câm. Nơi ở mới Thuần đã chọn đúng cái vùng giáp ranh giữa hai làng, cũng là giữa hai xã. Thường thì nơi tiếp giáp giữa hai xã, nếu là con đường, thì đoạn đó không ai quan tâm, nếu là con sông thì nơi đó không ai nạo vét và trên bờ biển cạn này cũng thế: đoạn đê, rừng phi lao, rừng sú vẹt v.v... đều “cha chung không ai khóc”. Thế là, theo Thuần ở đây xã bên này đổ cho xã bên kia, xã bên kia đổ cho xã bên này có khi vợ chồng Thuần chui vào cái khe mà yên ổn.
Sa lại cần mẫn vỡ hoang trồng lại vạt rau, cấy thêm ruộng lúa. Thời gian tiếp tục chà sát trên từng khuôn mặt của hai vợ chồng, Thuần già đi trông thấy, còn Sa tuy tuổi còn trẻ, lại xinh đẹp , nhưng qua trận sốc mất đứa con đã khiến khuôn mặt Sa sầu não. Không còn thấy họ đua diều và không còn cái cảnh Thuần cứ ngồi nói để cho Sa trông miệng mà cười nữa. Bữa ăn hai người lặng lẽ như hai chiếc bóng, đêm đến không thấy cảnh rúc rích trong chăn, cùng lắm họ chỉ ôm nhau mà ngủ. Bao nhiêu cái tủi hổ, khốn khó nó lặn vào, lan toả, đày ải khắp mọi tế bào, thần kinh, nó đánh bại cái tươi rói, cái lãng mạn, cái lạc quan của con người, biến con người thành kẻ biết mình, biết người và biết đời và vì thế mà họ khiêm tốn hơn, mềm mỏng hơn, đạo đức hơn. Trên con đường tiến dần đến cái chết, con người phải nếm đủ mọi cay đắng, sướng vui, buồn tủi của một đời người. Chính vì thế mà khi nhắm mắt xuôi tay có người nở nụ cười, có người bình thản, có người ứa nước mắt. Người nở nụ cười là người đã nếm đủ cái phần của mình, người bình thản là người vừa nếm đủ, còn người ứa nước mắt là người hoặc nếm quá dư cái này, hoặc nếm còn thiếu cái kia. Thuần và Sa chưa thể nhắm mắt xuôi tay được, vì họ còn đang dư cái đắng cay, chua chát mà thiếu quá nhiều cái sướng vui, hạnh phúc. Trời cao, đất dày không cho ai được cả, mà cũng không để ai mất hết.

Khoảng từ sau tết âm lịch, không hiểu sao không thấy máy bay giặc Mỹ bay trên bầu trời nữa, và dĩ nhiên không còn tiếng kẻng báo động, đêm đêm không vang lên tiếng kẻng ba phòng nghe lạnh người, đâu đó đã có tiếng trống dậm dịch của thiếu nhi. Người làng Bùi đi làm ngoài cánh đồng trông có vẻ nhởn nhơ hơn, chứ không hốt hoảng, mắt trước mắt sau như trước, trong làng thấp thoáng có bóng cờ đỏ sao vàng.
Sa đi chợ về lấy cái mẹt ra nói chuyện với chồng:
-Em thấy người ta bảo sắp hoà bình rồi. Hoà bình là cái gì hở anh?
“Hoà bình là cái gì? ”. Thuần đang nghĩ để giải thích cho Sa. Hoà bình là không còn máy bay ném bom nữa, dân làng Bùi không phải gửi người, gửi của ra mặt trận, những cái lễ báo tử chắc là cũng chấm dứt. Thuần nhớ hồi đánh nhau với giặc Pháp, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, bọn giặc ở các bốt trong huyện, trong tỉnh bỏ chạy hết, không còn cảnh bắt bớ, tra tấn đánh đập, chạy tản cư. Nhưng rồi sau cái hoà bình ấy là đấu tố, giam giữ và gia đình Thuần tan nát. Trong tâm tưởng Thuần cô Bi vẫn làm chủ tịch, vì thế hoà bình hay không hoà bình đối với Thuần không còn là quan trọng. Hoà bình thì cô Bi vẫn làm chủ tịch, không hoà bình thì cô Bi vẫn làm chủ tịch, kiểu gì thì Thuần vẫn phải tính sổ. Nghĩ thế Thuần cầm lấy viên phấn giải thích cho vợ đại để đối với Thuần không có hoà bình gì hết, một khi chưa tính sổ nợ với cô Bi và ông Đội.
Vài lần nói chuyện với vợ qua chiếc mẹt Thuần mới hiểu, Hiệp định Pa -Ri đã được ký kết. Nghĩa là thằng Mỹ sẽ phải rút hết quân về nước, như hồi đánh Pháp, thằng Pháp cũng phải kéo cờ cuốn xéo.
Thuần cũng chả mong lắm hoà bình. Hoà bình thì cũng không thể làm thay đổi cuộc sống của vợ chồng Thuần, không thể làm thay đổi suy nghĩ của dân làng Bùi đối với Thuần. Thuần vẫn qua lại nơi ở cũ để theo dõi người đàn bà có khuôn mặt dâm dâm, ang ác, ngu ngu; qua lại cái hồ có con quái vật xem nó còn sống hay đã chết.
Từ hôm con quái vật bị trận vòi rồng quật bị thương và được vợ chồng Thuần cứu thoát không thấy nó quẫy đạp thùm thụp như trước. Lúc đầu Thuần cứ nghĩ chắc nó đã chết, nhưng một hôm đi bắt cá về, Thuần gặp nó nằm phơi mình trên bờ hồ. Thấy Thuần nó cũng không hoảng hốt lao xuống hồ trốn như những lần trước, vẫn nằm yên, không phải phó mặc số phận, mà cũng không phải không sợ Thuần. Hình như nó nhận ra con người, ít nhất là vợ chồng Thuần không phải là kẻ thù, nên nó cứ mặc kệ nằm phe phẩy mấy cái vây. Thuần đi qua lấy hòn đất ném xuống nước bên cạnh, nó chỉ chớp đôi mắt nhìn. Chả lẽ con quái vật đã lột xác từ tâm rồi sao?
Rồi bẵng đi một thời gian dài, tuyệt nhiên con quái vật không gây một tội ác gì nữa. Dân làng Bùi kéo nhau ra đắp lại đoạn đê bị sạt lở, không ai bị con quái vật làm hại. Nửa phần dưới của con quái vật cứ teo tóp dần, nhìn nó người ta có cảm giác là một con cá lớn, chứ không còn là con ác mà phần dưới là một thằng đàn ông tởm lợm. Cái gì cũng thế, quá mức bình thường có thể trở thành tội ác. Anh lấy roi vụt con để dạy dỗ, nhưng nếu anh đánh nó liên tục là anh đã là một kẻ ác. Tôi đi ô tô với tốc độ sáu mươi ki-lô-mét một giờ, tôi là người chấp hành tốt luật lệ giao thông, nhưng nếu tôi đi với tốc độ 100 ki-lô-mét một giờ, tôi sẽ trở thành kẻ ác, bởi tôi có thể gây tai nạn giao thông, làm chết người. Ai cũng có bản năng tự vệ, anh quyết giết tôi, thì tôi cũng phải quyết giết anh, trước hết là để tôi tồn tại. Tính mạng bị đe doạ, tiền của bị mất mát, người thân yêu bị xâm hại, nếu cả ba điều đó không có thì cũng không có vay, có trả, có thù hận. Thù hận là do chính mình tạo nên, là do dục vọng tạo ra. Ai cũng có dục vọng, nhưng dục vọng quá cái phần cho phép là biến thành tội ác, thành thù hận.
Hiệp định Pa - ri ký kết được hơn năm thì thanh niên làng Bùi kéo nhau ra trận đông lắm. Trước đây mỗi năm chỉ có một lần tòng quân, có năm cao lắm là hai lần, năm nay tuyển quân bốn lần, mỗi lần có đến mười mấy người ra trận. Lần nào tuyển quân Thuần chả biết, loa phóng thanh nói oang oang, đọc rõ tên từng người trúng tuyển. Ngoài cánh đồng bây giờ chỉ toàn đàn bà, con gái và ông bà già, thỉnh thoảng có cậu thanh niên nếu không què đui hủi điếc thì cũng có vấn đề gì đó.
Một buổi trưa Thuần và Sa đang kéo cưa trên giường bỗng ở trong làng có tiếng súng nổ, tiếng kẻng khua vang, rồi dân làng hò reo vang dội. Thuần mặc vội quần chạy lên mặt đê quan sát. Một lát tiếng loa phóng thanh vang lên báo tin quân ta đã đánh đổ nguỵ quân, nguỵ quyền Sài Gòn, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước đã thống nhất, đồng bào Nam Bắc đã chung vui một nhà. Ngay lúc đó có nhà đã đốt pháo, nhà không có pháo thì mang mẹt, thùng, chậu ra khua. Cả làng vang rền, náo nhiệt một âm thanh hỗn độn.
Sự kiện này thì Thuần hiểu. Hồi còn ở Phú Thọ đi làm thuê, Thuần nghe được khối là chuyện thời sự, có khi còn vui miệng tham gia nữa. Thời kỳ điều trị ở bệnh viện hủi còn được bệnh viện thông báo đầy đủ tin tức cho bệnh nhân. Thằng Mỹ thay thằng Pháp xâm lược nước Việt Nam, nó bày ra nào là “ Chiến tranh cục bộ”, “ Chiến tranh đặc biệt”, rồi “ Việt Nam hoá chiến tranh”; nó đưa máy bay ra đánh phá miền Bắc. Người Việt Nam mình suốt mấy chục năm nay chiến tranh liên miên, tốn người, tốn của và khổ sở lắm rồi, bây giờ hoà bình, chấm dứt chiến tranh ai cũng mừng. Chồng con họ không phải ra mặt trận, không phải bỏ xác ngoài chiến trường thế là sướng lắm. Từ nay chỉ làm mà ăn, không phải dồn sức, dồn của vào chiến trường nữa thì sẽ no ấm thôi.
Nhưng hoà bình chỉ được một thời gian Thuần lại thấy loa phóng thanh oang oang thông báo lệnh Tổng động viên của Chủ tịch nước. Chiến tranh biên giới phía Bắc, chiến tranh biên giới phía Nam đã nổ ra, thanh niên lại tiếp tục ra trận. Thuần không hiểu ra làm sao nữa? Sao mà lắm chiến tranh thế? Cái đất nước Việt Nam này nhiều của cải vàng bạc lắm sao mà thằng nào cũng muốn cướp. Có lẽ thế, hồi còn ở Phú Thọ Thuần thấy bọn trẻ con học bài Thuần biết đất nước ta có rừng vàng, biển bạc, cả hai đầu đất nước có hai vựa lúa, lúa ở Đồng Tháp Mười không cần trồng tỉa, chỉ việc ra thu hoạch về mà ăn. Hoà bình, đất nước sẽ tiến lên Chủ nghĩa Xã hội, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu - nghĩa là sức đến đâu thì làm đến đó, nhưng hưởng thụ thì theo nhu cầu của mình. Không biết biển ở miền Trung, miền Nam làm sao, chứ biển ở quê Thuần đây chỉ có muối là muối thôi, bạc mặt mới kiếm được bát gạo chứ làm gì có bạc, có vàng.
Từ ngày thống nhất đất nước chưa bao giờ dân làng Bùi đói như lúc này. Đói quá, họ ra ruộng khoai nhổ cây rau muối về luộc ăn trừ bữa, có nhà suốt cả lá điền thanh non về nấu canh. Dân lại đổ xô ra biển bòn bới kiếm con còng, con cáy. Hạt bo bo nhập từ nước ngoài vào thay thế hạt gạo, loa phóng thanh lập tức có bài hát ca ngợi hạt bo bo: Bo bo vừa béo, vừa thơm; rất giầu chất đạm hơn cơm bình thường.
Thuần bảo Sa đi chợ mua thử hạt bo bo về ăn xem sao, người đang yếu có khi béo tốt lên đấy, đài của xã nói có bao giờ sai. Sa mua về, nấu bê lên, Thuần đơm thử một bát, và một miếng. Chao ôi, nó lộn xộn như gạch, như ngói trong miệng, nuốt không nổi, Thuần phải nhả ra, ngồi nhìn bát bo bo màu vàng đen mà tiếc. Nghĩ đến hạt bo bo giầu chất đạm hơn cơm, Thuần lại cố và thêm miếng nữa. Vợ Thuần lấy mẹt ra bảo:
- Anh cố ăn để có sức khoẻ mà đi biển. Em chỉ đi chợ, không cần nhiều sức nên ăn cơm vậy thôi.
Cuộc chiến ở biên giới phía Bắc chỉ bùng lên dữ dội có vài tháng rồi nó âm ỉ kéo dài như ở biên giới phía Nam. Trên loa phóng thanh của xã thì coi như đất nước đang hoà bình, chiến tranh chỉ có một chút ở ngoài biên giới, mọi người phải chuyển sang sống, làm việc theo chế độ thời bình. Thuần nghĩ, thôi cũng được, chứ lúc nào cũng ra rả chiến tranh, dân nghe cũng phát ngán, ai còn muốn làm ăn gì nữa. Trên loa phóng thanh bớt hẳn tin thắng trận như hồi nào, thay vào đó ca ngợi những người làm giàu, gia đình có nhiều con học giỏi, làm giỏi.
Đã từ lâu Thuần nắm tin tức qua chiếc loa phóng thanh, dẫu sao thì cũng còn biết chút ít tình hình làng xã, tình hình đất nước, chứ cứ sống thui thủi ngoài biển thế này khéo trở thành mọi rợ mất.

Hoà bình được một thời gian, dân làng Bùi kéo nhau ra ruộng chia nhỏ từng thửa, rồi chia cho từng gia đình. Hợp tác xã thì vẫn còn, nhưng chỉ còn là cái vỏ thôi. Hàng ngày không thấy tiếng kẻng gọi dân đi làm và gọi họ về nhà, nhắc họ đi ngủ nữa. Nhưng người đi làm ngoài đồng sớm lắm, tơ mơ sáng đã có người làm cỏ ngoài ruộng, tối đêm vẫn có người tát nước, chỉ có điều lẻ tẻ chứ không đông đúc như trước. Sa đi chợ về lấy mẹt ra nói với chồng đó là “khoán mười, khoán 100” gì đấy. Không hiểu khoán mười, khoán 100 là cái gì mà lúa ngô tốt hẳn lên. Một bông lúa Mộc tuyền trước đây đếm chỉ được 125 hạt là nhiều nhất, nay có bông đến 225 hạt. Một sào luá trước đây bình quân một vụ chỉ thu được một tạ tươi, nay có ruộng thu được hai tạ khô. Con trâu ngày trước gày nhom, hai cái hông gồ lên những góc cạnh, giờ con nào con ấy nung núc, lưng tròn như cái vại, hõm đít đầy u lên. Người làng Bùi trông mặt hoa da phấn, chứ không mặt xanh nanh vàng như trước nữa.
Không biết khoán mười, khoán 100 là cái gì mà hay thế. Thuần bảo vợ đi chợ mua về ít khoán mười, khoán 100 mà dùng, biết đâu đấy con chó, con gà nhà mình sẽ béo lên, Sa sẽ đẹp hơn. Sa cũng thích khoán mười, khoán 100 lắm, nhưng ra chợ mua không ai bán. Sa vạch xuống đất hỏi, mọi người cười, bảo đến mà hỏi ông bí thư. Bí thư là người giống như cha Thuần ngày trước, đó là người tốt, giúp dân, cứu dân, hỏi được đấy.
Sa lại tìm đến ông bí thư của một xã bên cạnh. Khi được biết Sa hỏi mua cái khoán mười, khoán 100 thì ông ta cười ngặt nghẽo, lấy que vạch xuống đất bảo Sa bị tâm thần rồi, đi mua thuốc mà chữa. Sa buồn quá về nói lại với chồng. Thuần ra ruộng nghiên cứu, thấy bông lúa nhà mình nhiều hạt không kém bông lúa của dân làng Bùi, thấy bắp ngô nhà mình cũng to, cũng mẩy như ngô của họ, con chó nhà mình cũng béo chẳng kém chó thiên hạ thì thấy yên tâm. Thôi không mười, chả 100, chả 1000 làm gì, cứ vợ chồng bảo ban nhau mà làm, mà ăn thì không ai bằng. Thuận vợ, thuận chồng tát bể đông cũng cạn.
Cũng từ ngày đó, dân làng Bùi kéo nhau ra bãi biển chặt cây sú vẹt về đun. Từng mảng rừng thưa dần, thưa dần, rồi cả một khoảnh rừng bị chặt trụi, trơ bãi lầy. Rừng sú vẹt âm u trù mật như trước đây không còn nữa, chỉ còn loáng thoáng mấy vệt xanh, lúp súp ngoài xa.
Tiếp theo rừng sú vẹt, đến rừng phi lao. Lúc đầu người ta còn chặt trộm, sau rồi chặt công khai. Người này thấy người kia chặt được, cũng vác dao ra chặt, thi nhau chặt mang phi lao về làm cột, làm kèo, làm chuồng lợn, chuồng trâu, không còn làm gì nữa thì đun. Chỉ mấy tháng sau rừng phi lao bát ngát dọc bờ biển bị chặt trụi, trơ ra cồn cát trắng trông như người bị lột sạch áo quần, tang thương lắm.
Sau khi đã chặt hết rừng phi lao, họ bắt đầu chặt tiếp rừng tre. Rừng tre trước đây được hình thành do phong trào “rào làng kháng chiến” trong kháng chiến chống Pháp. Đến thời chống chiến tranh phá hoại đề phòng biệt kích Mỹ từ ngoài biển đột nhập vào và để chắn gió, chắn cát, giữ đê khi giông bão, nên rừng tre được bảo vệ chăm sóc, phát triển, cây nọ cài vào cây kia, bụi này ken vào bụi kia dày đến nỗi con chó cũng không chui qua được. Vậy mà chỉ trong vòng nửa năm trời dân làng Bùi biến thành rổ rá, giần sàng, kèo cột hết. Bờ biển cạn bây giờ duy nhất chỉ còn đoạn đê có căn nhà của Thuần là còn phi lao, tre và sú vẹt. Họ sợ lây bệnh nên không ai bén mảng tới.
Hết sú vẹt, phi lao, tre dân làng Bùi bắt đầu ăn đến cát. Hàng ngày có đến hàng chục xe bò, có cả ô tô đến xúc cát chở đi. Cồn cát mênh mông kéo dài dọc bờ biển như dãy đồi trắng nhấp nhô cũng chỉ vài năm đã được xúc sạch. Bờ biển làng Bùi chỉ còn trơ trọi con đê quạnh hiu, hàng ngày các cô, các bà mang liềm ra dẫy cỏ quyết bóc cả tấm áo cuối cùng của nó. Con người khôn ngoan, thông minh ăn cả áo quần, xương thịt của mình.
Thuần quyết bảo vệ bằng được đoạn rừng xung quanh khu vực đang ở, đây là những cây đã và đang mang lại cuộc sống thiết thực cho vợ chồng Thuần. Có rừng sú vẹt Thuần mới có thể bắt cua, bắt cáy, bắt cá mà sinh sống. Có rừng tre Thuần mới có thể đan rổ, đan rá bán lấy tiền. Có rừng phi lao căn lều vợ chồng Thuần mới có bóng mát mà nương thân, và hơn thế nữa, nó là tấm phên dậu bảo vệ con đê chắn sóng. Để bảo tồn được rừng Thuần phải làm rất nhiều tấm biển treo và cắm khắp nơi, có dòng chữ : “ Rừng của người hủi. Cấm chặt phá!”. Không ngờ, tấm biển có hiệu nghiệm, không một ai dám bén mảng tới. Khi rừng ở xung quanh bị chặt phá hết thì cua cá, chim muông kéo đến trú ngụ ở khu rừng còn sót lại. Vợ chồng Thuần tha hồ bắt cua, bắt cá mang ra chợ. Nhờ có được nhiều tiền Sa sắm lại đầy đủ các thứ mà trước kia đã mất. Thuần bàn với Sa mua cả bò để nuôi, mua vịt thả. Căn lều trở lại trù phú, ấm áp. Vì chim kéo về ở nhiều, nên buổi sáng tiếng hót rộn rã vang động cả góc biển. Ngoài rừng sú vẹt cò trắng về ở, nhiều lúc chúng bùng lên trắng cả góc trời. Cò làm tổ và đẻ trứng nhiều lắm, nhưng không có ai dám đến bắt cò, hoặc lấy trứng chim, thi thoảng Thuần nhặt về cả rổ trứng luộc ăn cho đã. Thuần sống với con còng, con cáy, con cá lác, cá heo rồi bây giờ sống với chim cò đều vừa lòng nhau. Chim cò không sợ Thuần, mà ngược lại khi thấy Thuần đến chúng còn đỗ vào vai chờ được cho ăn con cá, con tép. Con vật khi sinh ra cũng như đứa trẻ con đều không biết sợ cái gì hết. Quá trình lớn lên, nó nhận biết kẻ nào là mối đe doạ thì mới biết sợ. Sở dĩ con thú biết sợ con người là vì con người tìm cách giết chúng, nếu con người thân thiện với chúng thì chúng cũng thân thiện lại.
Chỉ với ý nghĩ ấy mà Thuần đã thân thiện với biết bao loài động vật ở vùng biển cạn này. Từ con cá heo to lớn, đến con cá lác nhỏ tíu, cho đến cả con quái vật tuy chưa thân thiện nhưng Thuần đã làm nó hết thù hận muôn loài. Chỉ riêng làng Bùi là Thuần không làm sao thân thiện lại được.




...CÒN TIẾP...
© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải ngày 20.07.2009 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội .
. TÁC PHẨM CỦA BÙI THANH MINH CHỈ ĐĂNG TẢI TẠI NƯỚC NGOÀI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM