CÀ PHÊ ĐÁ




BÙI NGỌC TUẤN



Mặt bất động, mắt nhìn vào xa xôi như thưởng thức hương vị của chút cà phê vừ nhấp, Phan chậm rãi nói:
- Năm ấy tôi đang ở trong trường Bộ Binh Thủ Đức. Trong 52 người cùng Trung Đội, chỉ có năm đứa tôi là trên 25 tuổi, còn là toàn các thanh niên mới rớt Tú Tài II và mấy anh tình nguyện, không ai tới 20. Bọn tôi là giáo chức bị gọi động viên, tuy nhiên hồ sơ xin biệt phái đã hoàn tất từ trước ngày dắt nhau vào KBC 4100, nên cả năm đứa đều coi đây là một cuộc hành xác dài 9 tháng, rồi sau đó lại về trường cầm phấn. Vì là mấy anh già, nên bọn tôi thường chơi với nhau. Mỗi tối khi đi trực tuyến, trước phiên gác, thường tụ họp nhau nói chuyện, trong khi mấy anh trẻ rủ nhau xuống khu gia binh ăn uống. Trong đám tụi tôi có 'Hùng Thầy Đồ'. Một anh thầy giáo, mặt khó đăm đăm, hay hút píp, làm chuyện gì, bất kể lớn nhỏ, thì cũng phải đúng nguyên tắc mới chịu. Một buổi tối, đang nói dóc với nhau về chuyện gì đó, thì tự nhiên Hùng nói: - Tôi nhớ ông già tôi quá!
Ông cụ thân sinh ra Hùng lúc ấy đã mất được hơn một năm. Vì quen từ thời còn đi học, lại dậy gần Saigon nên tôi có đi đưa ông cụ. Hùng dậy Sử-Địa ở một trường trung học quận gần Đalat. Anh chàng vốn ít nói, nên lần này khi cóc mở miệng, ai cũng lắng nghe. Đường Trương Minh Giảng, trước thời ông Diệm, có cái tên tây là Ayriaud Des Vergnes, nên mấy ông taxi gọi là 'Guoẹc', xóm Bắc Kỳ di cư tôi ở vì thế được gọi là 'Xóm Vẹc'. Phía bên kia đường của 'xóm Vẹc', có hiệu phở Nam Xuyên, hiệu phở gà ngon nhất Saigon. Sáng nào dân có máu mặït ở khắp nơi cũng kéo đến ăn. Kế đó một chút là con hẻm nhỏ, nhà Hùng ở trong hẻm đó vài căn. Không đợi ai, Hùng lại tiếp tục:
- Lúc còn ở nhà, sáng nào trước khi đi học tôi cũng mua cho ông cụ một tô phở gà, đập một quả trứng vào và một ly cà phê phin. Mà phải là cà phê đá. Hồi xưa tôi mua cà phê phin đen, nhưng ông cụ bảo lấy thêm cho ông một ly đá, nên tôi chiều ý theo. Sáng nào cũng bưng một bát phở, một phin cà phê, một ly đá cho ông cụ. Lúc đầu cũng thấy kỳ kỳ, vì sáng sớm ai mà uống cà phê đá. Lâu ngày thành quen, bốn năm ở đại học, ngày nào cũng thế. Nhưng mua bưng về rồi thì tôi lại đi học hay đi chơi ngay. Lúc trẻ mình hay đi uống cà phê với bạn mà chẳng bao giờ ngồi ăn sáng chung với ông cụ, bây giờ nghĩ lại tiếc quá. Mà ngay hồi đó, nếu đi đâu vài ngày, không được mua phở và cà phê đá buổi sáng cho ông cụ, tôi cũng đã thấy thiếu thiếu một thứ gì đó.

Thanh, dậy lý hóa ở một trường miền Hậu Giang, láu táu:
- Vậy rồi khi đi dậy học tuốt trên cao nguyên, anh làm sao cho quen được? Dưới tôi còn vui chớ trên chỗ anh buồn thấy mồ. Chỗ đã nhỏ mà lúc nào cũng lạnh, lúc nào cũng đầy sương mù.
- Bởi vậy khi được bổ về trường, tôi phải mất một thời gian lâu mới tự điều chỉnh được. Phần thì mình chưa xa nhà bao giờ, nay bỗng cách xa gia đình cả mấy trăm cây số. Không quen biết ai, ở nhà trọ với hai anh bạn độc thân khác, lơ ngơ láo ngáo như cây không rễ. Được cái là nơi đó rất yên, chẳng bao giờ nghe thấy tiếng súng cả. Quận nhỏ, dân cư phần nhiều từ vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị vào lập nghiệp từ thời Hoàng Triều Cương Thổ của Triều Đình nhà Nguyễn. Họ sống khá cổ, nên mình còn trẻ mà cứ phải giữ vẻ đạo mạo như ông già. Bọn tôi quanh năm suốt tháng lúc nào cũng thắt crà-vạt, bên ngoài mặc áo vest, nếu hôm nào lạnh quá thì trong áo vest mình mặc áo len không tay. Chứ đâu có mặc sơ-mi trần, giản dị như mấy anh dậy ở miền Nam. Mấy anh nghĩ coi, ngay giữa ngã ba quận, có cái quán bán bánh mì và cà phê nhỏ. Bà chủ cũng là một phụ huynh học sinh như tất cả mọi người khác, ngồi xổm dưới đất vừa tiếp khách vừa băm thịt để làm xíu mại cho ngày hôm sau. Xíu mại bà ta làm rất ngon, mà ca phê pha rất tuyệt, dù chỉ là cà phê bí tất. Cả quán chỉ có một cái bàn nhỏ, để sát góc tường với ba cái ghế đẩu. Khách đến sau, đứng ở bãi đất bên ngoài quán cầm cà phê mà uống. Thế nhưng mỗi lần bọn tôi bước vào, thì tất cả mọi người đều đứng dậy nhường chỗ cho 'các thầy', mình nói thế nào cũng không được. Nhiều người già như bố mình mà nói chuyện cứ vừa đứng vừa chắp tay 'thưa thầy…'. Trong nhà có giỗ, thì họ mời mình cho được, rồi ép ngồi ngay bàn chính cùng mấy ông già chức sắc trong làng, trong họ, còn gia chủ thì chắp tay đứng đằng sau để hầu bàn. Mấy anh biết không? Bát canh mình vừa chan được vài muỗng, họ bưng ngay xuống bếp, rồi bưng bát khác lên để thầy xơi cho nóng, đĩa giò, vừa gắùp một miếng, lập tức được thay bằng đĩa khác còn đầy nguyên. Cứ thế cho đến khi mãn tiệc. Tôi vẫn có cái thói hút píp, nên thỉnh thoảng lại phì phèo một cối. Hôm ấy, miệng ngậm píp, tay ôm sách leo dốc lên trường, dậy được hai tiếng đầu, đến giờ ra chơi thấy ông hiệu trưởng mời vào phòng nói: 'Ông Hùng ạ, tôi biết hút píp đã lắm, nhưng ông còn trẻ quá mà hút píp, phụ huynh ở đây họ không bằng lòng. Cả sáng nay tôi phải tiếp mấy người lên đây than phiền rồi'. Tôi trả lời: 'Ủa! Tôi hút píp thì có gì quấy đâu chứ, cũng như hút thuốc lá vậy mà'. 'Tôi biết, nhưng dân ở đây họ cổ lắm, họ nói ông thầy Hùng chưa đến 40 tuổi mà đã hút ống điếu thì coi không được. Thôi ông chịu khó, lúc ở nhà, hay lúc ở trong phòng giáo sư thì ông cứ hút, còn ra ngoài thì mình cất tạm đi vậy'. Thế là từ lúc ấy mình hút píp cũng thấy mất ngon hẳn đi…

Ngay lúc ấy, một người lính già đeo cái túi dết đến mời chúng tôi mua hột vịt lộn. Những người lính làm việc trong trường Bộ Binh Thủ Đức bán hàng rất hay. Xôi thì đã gói sẵn thành từng gói lá chuối, bọc giấy báo sẵn, mỗi gói có đủ một gói đường và một gói muối vừng nhỏ. Mình mua họ cứ đếm từng gói mà giao, lúc nào cũng nóng hổi. Trứng vịt lộn cũng thế, mỗi trái là một gói giấy báo sẵn sàng, bên trong lại có một gói rau răm và một gói muối tiêu, mua bán kiểu này vừa nhanh mà vừa tiện. Mọi lần anh em chúng tôi, mỗi đứa cũng làm vài quả cho qua buổi tối của một đêm gác tuyến. Nhưng giữa những lời tâm sự của Hùng, không ai nghĩ đến chuyện ăn uống nữa. Chờ cho người lính đi khuất, Hùng tiếp:
- Bọn mình đi dậy học xa nhà, mùa hè mới được về thăm gia đình, nhưng mấy ông biết đó, mình có được nghỉ trọn đâu. Năm nào cũng phải đi coi thi, đi chấm thi. Hết Đệ Thất lại đếùn Tú Tài I, hết Tú Tài I, lại đến Tú Tài II, nhiều khi lại còn bị làm thư ký hội đồng thi nữa, hết cả mùa hè. Dù ở gần Đalat, nhưng trường tôi được coi như thuộc về miền Trung, nên những nơi mình bị gửi đi đâu có gần Saigon mà mò về thăm nhà! Lúc thì Tuy Hòa, lúc thì Nha Trang, khi thì ra tận Huế...Ấy là chưa nói năm nào có bầu cử, mình lại còn phải đi coi thùng phiếu nữa chứ. Vì thế những ngày được ở bên cụ, tôi lại sáng sáng đi mua phở và cà phê đá bưng về, mặc kệ ánh nhìn lạ lùng của mấy cô gái hàng xóm mới lớn.

Hùng nói tới đây, ngừng lại, rồi trầm ngâm nhìn vào ánh đêm đang buông xuống quanh đồi Tăng Nhơn Phú. Anh vốn ít nói, mà hôm nay thuyết một hơi dài, bọn tôi biết có chuyện gì đây, nên chẳng ai nói gì, cùng im lặng chờ đợi. Đêm nay đại đội chúng tôi lại gác tuyến pháo binh. Đây là nơi đặt mấy khẩu 105 ly. Khuya nào cũng có đơn vị gọi yểm trở, nên bọn tôi gác khu này thường bị đánh thức dậy bởi tiếng đại bác câu đi. Từ nơi đây nhìn ra, cả một vùng đồng ruộng hoang vu, không một mái nhà, không một con đường, cứ nhứ thế nhìn về tận chân trời, cách đó mươi, mười lăm cây số là vùng Thủ Thiêm, đó là vùng ven đô, bao quanh bởi những sông rạch nhỏ đầy nghi kỵ. Nơi thỉnh thoảng cộng quân đạt pháo bắn vào Saigon. Lệch qua phía tay phải một chút, là khoảng chân trời bừng sáng những ánh đèn của Saigon về đêm, nơi đứa nào cũng muốn mau mau được quay về. Từ đó mấy ngọn đèn đỏ trên tháp phát tuyến của đài truyền hình nổi bật trên màn đêm. Hùng chăm chăm nhìn về mấy ngọn đèn đó. Một lúc sau anh nói tiếp:

- Tôi đi xa, thì con em gái lớn lên, thay tôi mua phở và cà phê cho ông cụ. Nhưng hễ tôi về thì nó lại im lặng chừa việc ấy cho tôi. Tôi đi không giao việc ấy lại cho nó, mà tôi về nó cũng chẳng giao lại cho tôi. Hai đứa cứ thế làm thôi, chẳng suy nghĩ, thắc mắc gì cả. Nó là con gái mới lớn, di ra hiệu phở, hay bị mấy anh tr3 tuổi tán tỉnh, nên nhiều khi mắc cở không chịu đi. Những hôm ấy, bố tôi phải đi ra hiệu ngồi ăn. Ông mất cái không khí tĩnh mịch, mất cái phong thái nhàn hạ ở nhà, nhưng chiều con nên đành chịu. Thành ra con em tôi được thể đâm lười đi.
Tới đây Hùng lại ngừng nữa, bật lửa mồi lại cái tẩu thuốc Dunhill bóng loáng vì đã dùng lâu ngày, mùi thuốc 79 tỏa ra ngạt ngào cả một vùng đêm tối. Anh lại nhìn về ánh đèn của tháp truyền hình, rồi nói tiếp:
- Hôm ông cụ ốm nặng, tôi về trễ, đường Saigon-Dalat lúc ấy nguy hiểm lắm, mình phải đi Air Vietnam, mà mua vé đâu có dễ. Mỗi ngày chỉ có một chuyến lên lúc khoảng 10 giờ sáng, rồi cất cánh về vào buổi trưa, chở được vài chục mạng. Vì thế, nhận được tin mà gần một tuần sau tôi mới về được. Về đến nơi thì ông cụ cũng vừa mới mất. Thế là bố con không thấy mặt nhau… Bây giờ tôi cứ nghe văng vẳng trong đầu bài tập đọc 'Thầy Tử Lộ Đội Gạo Nuôi Mẹ' mình học trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư hồi nhỏ…
Tuy chơi thân với Hùng, nhưng biết anh ít khi nào anh kể tâm sự riêng cho ai nghe. Thủa còn đi học, bạn bè vẫn gọi anh là 'Hùng Thầy Đồ' thì đủ biết. Vì vậy tôi vừa linh cảm một chuyện đau lòng, vừa ái ngại, vừa hồi hộp muốn nghe. Các bạn khác cũng thế, nhưng không ai dám giục. Đếùn phiên gác của Sơn, anh chàng miễn cưỡng đứng dậy, đội nón sắt, đeo súng bước ra tuyến gác, mà còn ngoái cổ lại nhìn đầy thương xót, đầy thắc mắc, đầy luyến tiếc. Hùng cứ im lặng hút cho hết tẩu thuốc. Bọn tôi cũng cứ ngồi im lặng hút thuốc, ngó trời. Hút xong, anh đập đập cái tẩu vào tay cho tàn rơi ra hết, rồi nạo cối cho sạch, thông lõi cho khô, cất vào bao cẩn thận, kể rằng:
- Sau khi đưa ma ông cụ về, lúc đang ngồi soạn lại những hình ảnh, giấy tờ cũ của ông cụ, chợt em gái tôi nói:
- Anh biết không: Thầy không có uống cà phê đá. (Anh em tôi vẫn gọi Bố là Thầy)
Tôi nghe mà giật mình: - Thầy bỏ uống cà phê từ bao giờ, sao anh không biết?
- Không thầy đâu có bỏ cà phê. Em nói là thầy không uống cà phê đá. Lúc anh không có nhà, em vẫn mua phở và cà phê cho thầy. Hôm trước em vui miệng hỏi: Tại sao sáng sớm mà thầy lại uống cà phê đá? Con thấy ai họ cũng uống cà phê nóng mà. Thầy cười trả lời rằng; Thầy đâu có uống cà phê đá, cà phê còn nóng quá, thầy uống không được, nên phải bỏ một viên đá vào cho nó nguội bớt đấy chứ. Lúc thầy uống nó vẫn còn nóng mà.
Hùng kể dứt lời, đứng dậy lững thững đi ra tuyến, ba đứa tôi sững người, không nói được một câu. Rồi đứa nào cũng yên lặng lặn về tiểu đội mình. Đến 'Hùng Thầy Đồ' mà còn không biết rõ bố mình, thì chúng tôi như thế nào?



© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi ngày 02.07.2009.
Tải đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn newvietart.com