Au Dela Des Nuages - tranh của Julie Avignon




































Chương 3


Kinh đô Yên Trường dựa lưng vào một vùng rừng xanh thẳm. Bản làng thấp thoáng xa xa. Cung điện vua Lê nhỏ nhẹ, khiêm nhường, được bao bọc bởi những thành đất đá cao sừng sững và những con hào rất sâu. Tường thành dày vài chục mét, lỗ chỗ vết hỏa pháo. Chiều không bão gió. Đoàn của Cevallos được đức vua tiếp trong ngôi điện dành cho vua làm việc. Đức vua mặc triều phục màu vàng, ngài ngồi uy nghiêm, đôi mắt to đen, sáng lấp lánh, lông mày rậm sắc, gương mặt tinh anh, tuấn tú, đôi tai hơi mỏng, làm giảm vẻ đẹp trượng phu. Bốn người nghiêng mình chào đức vua. Giọng của ngài vang lên:

- Ta miễn lễ. Hỏi khách đường xa đến đất nước ta có việc chi cần tâu bẩm?

Cevallos tiến lên một bước. Lý cũng tiến gần chàng để thông dịch:

-Muôn tâu bệ hạ, chúng tôi từ Tây Ban Nha vượt biển sang Trung Hoa truyền đạo Thiên Chúa. Một trận bão định mệnh đã dẫn chúng tôi đến đất nước ngài trị vì. Chúng tôi lại có hồng ân được gặp ngài. Tạ ơn Chúa.

-Đạo Thiên Chúa được truyền ở Ma Cao, trẫm có biết. Nhưng quốc gia của trẫm theo đạo Phật và đạo Khổng. Người Đại Việt từ cổ xưa đến giờ có tục thờ cúng tổ tiên. Trẫm không quan tâm đến đạo Thiên Chúa. Có một vài linh mục đến đây truyền đạo, đã bị trục xuất.

Lý dịch từng từ một. Ba vị linh mục nghe vua phán, lạnh người. Cevallos bình tĩnh tâu bày:

-Đội ơn bệ hạ và thần dân của ngài, đã mở lòng từ bi, cứu chúng tôi thoát khỏi nguy khốn. Chúng tôi dự định sửa xong tàu sẽ trở về Ma Cao. Nhưng hôm nay là ngày lễ Giáng Sinh, đức vua cho phép chúng tôi cầu chúc bình an cho ngài và vương quốc của ngài. “Sáng danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm”.

Giọng nói du dương, truyền cảm của cha cố và thái độ khiêm nhường, dịu dàng, cử chỉ lịch lãm của Cevallo s đã làm cho đức vua cảm mến. Ngài mời bốn vị khách ngồi vào bộ tràng kỷ gỗ đen bóng, chạm khắc hình rồng uốn lươn vừa đẹp vừa oai phong. Ngài chỉ vào cái tủ sách gỗ nâu đỏ, đóng chắn song, thấp thoáng những cuốn sách, đặt bên tay phải của ngài, nói:

-Tôi chỉ đọc Tứ Thư, Ngũ Kinh và sách luật của các tiên đế, để trị nước, nên không hiểu về Kinh Thánh hay lễ Giáng Sinh của Tây dương. Nhân đây, cha có thể nói cho tôi hay về Giáng Sinh được không?

Cevallos vui mừng như nhìn thấy một vì sao đang đậu trên đôi môi tươi đẹp của đức vua. Chàng vội mở quyển sách trong cặp, đưa cho vua xem hình ảnh Đức Mẹ Ma- ri-a đồng trinh bế Chúa hài đồng. Gương mặt hai mẹ con sáng ánh thiên thần. Vầng hào quang tỏa quanh họ. Đức Mẹ bồng con. Âu yếm. Nâng niu. Thánh Thiện. Yêu thương. Linh thiêng.

Đức vua ngắm bức ảnh. Say đắm. Sảng khoái. Ngài như đang được nguồn thương yêu, vuốt ve, trìu mến, yêu chiều, chở che… từ trời cao rót xuống. Tận đáy sâu tâm hồn ngài Tình Mẹ ùa tràn. Thoảng thơm miệng sữa bé thơ. Muôn sợi tơ lòng yêu thương, nồng ấm thả từ các vì tinh tú tắm hồn ngài. Cảm xúc ngọt ngào như ướp hương hoa nhụy cội nguồn, bóp nghẹt trái tim đàn ông. Ngài thầm nghĩ: “Đây là hương của trời, là hoa của đất. Ta sợ vẻ đẹp thánh thần này. Ta sợ tình yêu thắm thiết vĩnh hằng này. Nó sẽ làm mềm yếu lòng ta. Mẹ ơi! Có phải mẹ đấy không? Chưa bao giờ ta nhìn thấy con người đẹp như thế. Thì ra Tình Mẹ chế ngự thế gian này. Sự trinh tiết, trắng trong là vẻ đẹp bất diệt trời ban cho loài người. Kinh Thánh dạy con người thế phải không? Lễ Giáng Sinh là nghĩa đó phải không?”

Cevallos chiêm ngưỡng vị vua xứ rừng biển nhiệt đới ngắm ảnh Đức Mẹ đắm say, lòng chàng thanh thản lại sau bao âu lo. Chàng kể chuyện Giáng Sinh, giọng êm ái, ngọt ngào:

-Cách đây gần hai mươi thế kỷ, trinh nữ Maria hiền thảo, nết na, ở thành Na- da- ret, được sứ thần của Thiên Chúa báo tin: “Nàng sẽ thụ thai và sinh một bé trai, đặt tên là Giê su. Chính con trai nàng là Đấng sẽ cứu con người ra khỏi tội lỗi”. Chàng Giu-se đã đính hôn với Maria, nhưng chưa ở cùng nhau được báo mộng: “Trinh nữ Maria đã chịu thai bởi quyền phép thánh thần, hãy lấy Maria làm vợ, chăm sóc nàng cùng đứa bé trong bụng nàng. Giu-se sợ mang tiếng xấu và cũng buồn bực vì chưa ăn nằm cùng nàng mà đã mang thai, chàng toan chối từ. Nhưng đây là phép thánh thần, chàng đem Maria về ở với mình tại quê nhà ở xứ Bê- Lem. Họ về đến Bê- Lem thì trời xẩm tối. Ma ria trở dạ. Giu- se tìm quán trọ nhưng không nơi nào chứa, đành phải mang ra hang đá Belem, nơi trước kia tổ tiên của họ là David làm lò nướng bánh bán cho dân. David làm vua, lò bánh bị bỏ hoang. Nửa đêm trinh nữ sinh hài nhi trong hang Belem. Nàng ôm con trong lòng. Âu yếm truyền hơi ấm Tình Mẹ. Giu-se lót máng cỏ, ân cần trìu mến ngắm nhìn thiên thần bé nhỏ ngủ trong máng. Trên cao, ánh sáng thần kỳ tỏa lung linh quanh họ. Nhiều thiên sứ từ trời bay xuống, cùng nhau hát ca, chúc tụng Chúa Giáng Sinh làm người. Đoàn người chăn chiên theo thiên sứ, kéo nhau đến hang, thấy Chúa hài đồng bọc chăn nằm trong máng cỏ, vui mừng dâng bánh, sữa, thức ăn. Bầu trời bỗng có ngôi sao lạ, dẫn đường đưa ba nhà thông thái phương Đông tới hang đá. Họ mững rỡ lạy Chúa hài đồng và dâng lễ vật, vàng, nhũ hương, dược liệu quí. Họ loan tin hài nhi sẽ là đấng chăn dân. Maria hiến dâng con trong đền thánh. Cụ già tiên tri về tương lai con trẻ và nỗi sầu bi của người mẹ. Trong thành Giê-su-sa-lem, vua Hê- rốt nghe tin này, sợ hài nhi sẽ đoạt ngôi của mình, truyền lệnh giết toàn bộ trẻ sơ sinh từ hai tuổi trở xuống. Tiếng khóc than thảm thiết. Nửa đêm, thiên sứ hiện ra bảo Giu-se đưa hai mẹ con Maria trốn sang Ai Cập. Vài năm sau vua Hê- rốt băng. Giu- se đưa hai mẹ con Chúa hài đồng về lại quê hương. Giê-su sống với cha mẹ trong xóm làng Na-gia-rét yên bình bằng nghề thợ mộc, sớm tối nguyện cầu, năm ba mươi tuổi thì khởi sự giảng Phúc Âm…

Vua Lê Thế Tông chăm chú nghe. Câu chuyện như ảo, như thật về Đức Chúa Trời và Chúa Giê-su, sẽ còn tiếp diễn ly kỳ, hấp dẫn trong Kinh Thánh, nhưng ngài không có đủ thì giờ nghe hết. Ngài nghĩ đến công chúa Mai Hoa, chị cùng cha, khác mẹ của ngài. Mẹ nàng là công chúa Chămpa, được vua Lê Anh Tông cưới làm vợ, giữ tình hòa hảo hai nước láng giềng. Mai Hoa hơn ngài vài tuổi. Nàng đọc sách thâu đêm. Nàng mê những tích truyện tôn giáo và mộ đạo từ nhỏ. Nàng gặp được vị cha cố này, chắc vui lắm. Ngài muốn nhờ nàng qua linh mục để học xem đạo Thiên Chúa là thế nào mà người Tây dương say mê thế? Họ lại còn truyền cả sang Á châu, đến cả Đại Việt. Ngài nghe nói ở ven biển Nam Định, Ninh Bình, dân chúng đã xây một số nhà thờ và cầu nguyện hằng ngày. Mặc dù các tiên đế đã trục xuất giáo sĩ, nhưng họ vẫn xây được nhà thờ ở xứ này. Lạ quá.

Vua sai thị nữ mời nước các vị khách. Thiếu nữ yểu điệu trong bộ yếm trắng, váy lụa đen, bộ ngực tròn lẳn, phơi lưng ong, làn da vàng óng ả, cánh tay trần, dâng khách chén gốm màu xanh ngọc lưu li, nước trà sóng sánh nâu hồng, tỏa hương, dịu dàng mời khách. Lý bảo:

- Xin mời các ngài. Trà thơm trồng trên núi cao, lại được ướp hương của hoa sen mọc dưới đầm lầy, mùi hương chắt lọc từ cây, hoa của đất đôi và bùn ruộng quyện vào nhau, ngọt đượm và thơm chát. Các ngài nhâm nhi từng chút, từng chút một mà thưởng thức hương vị của nó. Cwvallo s, ngài thấy không, vị nước chan chát, ngọt đầm đậm tận đáy hồn ta, còn hương của nó thì dâng lên ngào ngạt. Tuyệt quá! Tôi không diễn tả nổi. Ngài thấy sao?

- Vâng. Đúng vậy. Tôi uống nước và uống cả hương thơm. Đất nước này hương thơm được chưng cất từ bùn đen, cỏ dại, cây rừng. Chúng tôi khâm phục lắm. Người Tây phương vượt biển đến đây vì hương thơm quyến rũ. Thưa đức vua, ở Tây Ban Nha, người ta dùng hạt hồ tiêu mang từ xứ này về trả lương cho nhau đấy. Mỗi một ngày công lao động là mấy hạt hồ tiêu, thay trả tiền. Dân chúng tôi trọng hương liệu lắm. Họ tin rằng mỗi người là một linh hồn. Linh hồn cần hương thơm.

Đức vua mỉm cười. Ngài sung sướng nhận ra vị khách Tây rất tinh tế. Thật đáng yêu. Chàng không nhìn xoáy vào tâm thân nửa kín nửa hở, đầy khêu gợi của nàng. Dáng điệu bàn tay cầm chén, cái miệng duyên dáng nhấm từng ngụm nước, mỗi cử chỉ đều toát lên vẻ tao nhã, chân thành, póng khoáng, tự tin của chàng … khác hẳn các võ tướng họ Trịnh. Người bộc trực thì ăn ào ào, nói ồ ồ. Kẻ thâm sâu bí hiểm thì mặt mũi lầm lì, chuyên nhìn trộm. Đáng ghét. Kẻ nịnh thì mặt trắng nhợt, mắt lấm lét, nói năng lí nhí. Đáng chán. Kẻ lừa dối, xảo trá thì nói vờ vĩnh, ngọt như mía lùi, mắt đảo điên. Đáng sợ. Dù bọn họ có bộ mặt trung hay mặt nịnh, hễ thấy đàn bà con gái là nhìn sấn xổ, muốn chiếm đoạt thân xác người ta. Đức vua thầm ao ước: “Giá như các quan văn, quan võ, các tướng sĩ, quần thần của ta đều có vẻ đẹp tinh thần như người khách này, thì ta dễ chịu biết bao”.

Hương vị trà sen làm Cevallos ngây say. Chàng quên cả không gian, thời gian hiện tại. Quên mối hiểm nguy rình rập. Chàng tưởng như đang ở Tây Ban Nha chuẩn bị lễ Giáng Sinh. Chàng cất tiếng thân thiện với mọi người quanh bàn trà:

- Sắp đến giờ Thiên Chúa giáng sinh. Chúng ta hãy chuẩn bị lễ mừng dâng lên Chúa hài đồng. Thưa đức vua, ngài cho phép chúng tôi chứ? Đêm nay chúng ta sẽ dâng lên Chúa Giê-su một món quà đơn sơ, nhỏ bé, nhưng chứa đựng tình yêu mến của chúng ta. Một nắm cỏ, một cây thông, một cây nến thắp ngọn lửa hồng và một chút hương trầm đủ thấu lên các tầng trời.

Đức vua muốn hiểu tại sao lại dâng cây thông và cỏ, ngài vui vẻ nói:

- Cha cố có vẻ khiêm nhường quá, xứ sở của trẫm đây, hoa thơm, quả ngọt, thức ăn ngon, bổ, vàng bạc, đá quí, sản vật không thiếu thứ gì. Trẫm có thể chiều ý ngài, cho phép ngài dâng lễ Giáng Sinh đầy đủ như ngài muốn.

- Xin đa tạ đức vua có lòng ngưỡng mộ Chúa. Mấy thứ lễ dâng kể trên là có nguồn gốc của nó. Kề bên hang đá Beelem, nơi Giê- su chào đời có ba loại cây. Một cây ô- liu. Một cây chà là. Một cây thông. Để chúc tụng Đức Chúa chào đời, cây ô- liu và cây chà là dâng hoa quả của mình. Cây thông thẳng ngay, xanh tươi chưa biết dâng tặng điều gì. Bỗng từ trên cao, những vì sao rơi đậu trên các cành thông xanh biếc, dâng ánh sáng vàng lung linh lên Chúa hài đồng. Đó là món quà hài nhi thích nhất. Người Tây phương chúng tôi gọi đó là cây Noel, cây Giáng Sinh, hay là đêm Noel. Đêm Chúa sinh ra đời. Còn nắm cỏ là thứ quà dâng lễ của cô bé nghèo da đen. Trong lúc mọi người dâng sản vật quí mừng Chúa hài đồng, cô bé không có một chút gì, cúi xuống nhặt nắm cỏ dưới chân mình dâng Chúa. Dúm cỏ dại của cô đặt cạnh hài nhi, bỗng nở ra những cánh hoa tươi xinh đẹp. Người ta gọi những cánh hoa dại đẹp xinh ấy là Hoa Đêm Thánh.

Vua Lê Thế Tông nhâm nhi chén trà thơm. Niềm hân hoan dâng đầy. Ngài hiểu lễ Giáng Sinh là Lễ Thánh trong Đêm Thánh. Đêm của tình yêu thương. Tình Mẹ. Tình người thiêng liêng. Đêm của niềm hạnh phúc thánh thiện khi con người ra đời. Đêm của thế giới tinh thần huyền ảo. Không dính nhiều đến của cải, vàng bạc, ăn uống trần tục. Ngài thấy nhẹ nhõm trong lòng. Những phút giây thanh thản như thế thật hiếm đối với ngài. Ngài chợt nghĩ, đôi lúc ngài ngập ngụa trong xác thịt đàn bà, tưởng như thế là hoan lạc, là hạnh phúc. Không phải. Sau những phút ấy, thân xác ngài rã rời. Ngài ghê tởm kẻ đã dâng xác thịt cho ngài, đạp phắt nó khỏi long sàng. Tâm trạng ngài chán chường, rơi tõm vào bóng tối cô độc…

Sợ cha cố đoán được ý nghĩ của mình, ngài vờ mỉm cười. Ngài muốn được tận hưởng khoảnh khắc Thánh thần của Đêm Thánh. “Đây là dịp may hiếm có” ngài nghĩ vây và nói như ra lệnh:

- Ta cho phép các ngài tự nhiên mà sửa lễ Giáng Sinh đêm nay. Lễ được cử hành trong nội điện này, nơi làm việc của ta.

Cevallos mừng vui. Cả bốn người đứng dậy tạ ơn Chúa. Tạ ơn đức vua Đại Việt có lòng nhân.

Ngày 24 tháng mười hai- tới nửa đêm là Đông chí- chấm dứt mùa Đông lạnh lẽo, tối tăm. Sang đầu canh một ngày 25 tháng mười hai, mặt trời mùa Xuân hé rạng, đem tươi vui, ấm áp, sức sống cho muôn loài. Thiên Chúa giáng sinh đúng lúc mặt trời Xuân tỏa sáng.

Đêm 25 tháng mười hai năm 1590. Kinh đô Yên Trường chìm trong màn sương lạnh. Những ngọn núi đen sẫm nhọn như bàn chông, nối nhau cắm xuống đất bằng. Gió từ Ai Lao thổi về hanh hao, buốt giá, khô da thịt. Đêm tối mênh mông. Xa xa, ánh đèn dầu lờ mờ của vọng gác như an ủi: “Đức vua đừng sợ. Đã có chúng tôi đây”. Thỉnh thoảng tiếng trống báo canh vô cảm, cầm nhịp thời gian.

Cevallos và hai linh mục được vua dành cho một chiếc bàn gỗ rộng. Họ đặt cây Thánh giá bằng đồng khắc hình Chúa Giê-su bị đóng đanh. Sau bàn thờ là bức ảnh Mẹ Maria bế Chúa hài đồng. Đôi môi Thánh nữ đẹp như hoa. Gương mặt Mẹ hiền hậu, dịu dàng như ánh trăng đầy ân phúc. Mẹ là nữ vương trinh tiết, là tình yêu thương nhiệm màu tỏa hương trong thế gian. Mẹ đã tự tình trong vũ điệu thánh thần, trong ánh sáng mặt trời, mặt trăng và muôn vì tinh tú, trong ngọc ngà sắc hương của cỏ cây, hoa lá, quả ngọt, sữa thơm… mà sinh ra Chúa hài đồng dưới màn đêm linh diệu. Mẹ ôm Chúa hài đồng trên tay như cành xanh nâng nụ hồng ướp ánh vàng sao rực rỡ nở trong đêm. Phút giây thân thể Mẹ chuyển động, hài nhi cất tiếng khóc chào đời, cả vũ trụ hòa ca. Bầu trời tối đen rạo rực ánh sao. Thần dân theo ánh sao bước đi hân hoan. Trầm hương ngát thơm bay tới Thiên đường… Tâm hồn Cevallos rung động nghẹn ngào. Chàng gài những ngôi sao bằng giấy bạc dát mỏng lên cây thông Noel, trái tim chàng như nhảy múa tưng bừng. Nắm có xanh và hoa dại muôn màu dâng Chúa hài đồng mơn man trong ánh sáng những ngọn nến. Ba vị linh mục mặc trang phục dành cho đức cha, áo chaongf đỏ tôn sự màu nhiệm. Không khí huyền diệu thơm tho ấy tỏa lan trong ngôi điện của vua Lê Thế Tông. Chưa từng bao giờ có.

Đêm nay, đức vua hưởng lễ Giáng Sinh cùng bốn người khách lạ. Ngài không muốn sự có mặt của hoàng phi hay cung tần, mỹ nữ. Ngài không tin họ có thể hiểu được vẻ đẹp tuyệt diệu của trần gian xảy ra trong khoảnh khắc này. Ngài giữ tâm trí mình thật thanh tịnh, giống như ngài từng phải chay tịnh khi lễ đàn Nam Giao nguyện cầu Trời Đất. Mà đây không phải là lễ nguyện cầu Trời cao, Đất thẳm, mà là sự chứng kiến cuộc sinh nở của người Mẹ và bé thơ. Tự nhiên ngài thấy cuộc sinh nở ra con người thật linh thiêng. Thật thánh thiện. Thật đẹp. Thật tinh khiết. Thật trắng trong. Đầy hương sắc. Rộn ràng âm nhạc. Ánh sáng. Chứa chan niềm vui an lạc và hy vọng…

Ngài chạnh lòng đau nghĩ về người Mẹ và bé thơ trong xứ sở của ngài. Từ xưa đến nay, đàn ông không bao giờ nâng niu phút giây thiêng sinh nở. Họ sợ. Họ tránh. Họ ghê gớm. Họ kiêng kỵ không dám đến gần. Họ tưởng tượng ra cảnh người đàn bà đau đớn quằn quại bên vũng máu. Lõa lồ. Bẩn. Gây điềm xấu. Họ bỏ mặc người vợ và đứa con như nụ, như hoa trong bóng tối. Hồi nhỏ ngài sống ở nông thôn vùng Thanh Hóa. Ngài nhớ cảnh ngươi cô họ sinh con đầu lòng, phải giấu trong buồng tối tăm, lạnh lẽo. Người chồng mang cơm cho vợ, không dám vào buồng, buộc rá cơm vào chiếc gậy thả vào giường vợ. Cô vợ lụi hịu bò dậy, chan cơm với nước mắt mà ăn. Không ai hay biết.

Còn bản thân ngài thì sao? Tất nhiên là ngài quá ghê sợ. Ngài là đức vua, cai trị muôn dân, làm sao ngài phải nghĩ đến cái việc đàn bà đẻ ra sao? Và ngài còn thấy bẩn nữa. Thân thể đàn bà đẻ bẩn lắm. Nhưng ngài cần con trai. Nó sẽ nối ngai vàng của ngài. Không thể để ngôi báu rơi vào tay dòng giống khác. Ngài hoan hỉ, yên tâm lớn về ngôi vua được cha truyền con nối, khi đứa con trai được sinh ra. Còn bản thân nó, ngài không cần biết. Đã có người chăm sóc, dạy dỗ nó. Mẹ nó là ai? Ngài lại càng không cần đếm xỉa. Bọn đàn bà, con gái ấy, chỉ làm phiền ngài thôi. Người đòi tiền của, bạc vàng. Kẻ tranh ngôi thứ cho con trai. Người ghen tuông ngầm ngấm. Người đòi xây chùa chiền, cúng bái… Ngay sau những phút giây vui thú thân xác, ngài quên ngay bọn đó.

Đức vua đang nghĩ ngợi miên man thì có tiếng chuông nhỏ rung lên. Chuông rung dìu dịu, vang ngân. Chuông báo mừng Đêm Thánh. Đức vua trang nghiêm nhìn lên hình ảnh Mẹ Maria đồng trinh. Tiếng Cevallos vang ấm, trầm bổng như tiếng hát: “Nguyện xin ân phúc trên ban đầy tràn. Bình an đêm Giáng Sinh cho nhân trần, hạnh phúc chan chứa trong tâm hồn và một năm mới bình an”.

Lý khẽ dịch câu ca chúc Giáng Sinh cho vua nghe. Ngài thấy hạnh phúc chứa chan, chan chứa trong hồn. Ngài không còn nhớ chuyện chinh chiến bên ngoài vòng thành Yên Trường, tận các đầu sông, ngọn suối, tiếng bước chân voi xung trận, tiếng ngựa hí, tiếng súng, tiếng gươm, tiếng hú rợn người của chiến binh dàn quân đánh nhau. Tiếng thét gầm của lính trước khi đầu họ rụng xuống… Tiếng gầm gừ căm giận của dòng sông. Ngày ngây ngất cùng tiếng hát Thánh ca của mấy ông Tây lạ:

“Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm ưu phiền. Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến. Hy vọng đã vươn lên trong học nhằn tràn đầy nước mắt. Hy vọng đã vươn lên trong nhà hoang, trên ruộng cằn. Hy vọng đã vươn lên trên bàn tay, trên mặt mày. Hy vọng đã vươn lên trong tim người không bối rối. Hy vọng đã vươn lên như triều dâng cho buồm căng xuôi trường giang”.

... CÒN TIẾP ...

© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 02.07.2009.
. Tric&h đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com.