III- TỪ TRẠM QÚA CÁNH ...
Buổi sáng bǎng qua sân rộng để đến phòng ǎn mới nhận ra mặt đất đẫm nước. Mưa đã rơi đêm qua, một cơn mưa mùa hè rất dịu dàng. Lâu lǎ́m rồi tôi mới có cơ hội để ý đến thiên nhiên, không phải thiên nhiên nuôi sống con người mà thiên nhiên làm đẹp con người. Phải có tâm hồn yên tĩnh người ta mới biết nhìn ngǎ́m. Thì ra tôi đã đánh mất thói quen nhìn ngǎ́m không biết tự hồi nào. Nhìn ngǎ́m, thưởng thức, là những điều xa hoa. Tôi đang tìm lại xa hoa đây.
Nhà tôi run lập cập hốt hoảng khi thấy tôi chỉ phong phanh chiếc sơ-mi, nàng không biết rǎ̀ng nàng sǎ́p lên cơn cảm sốt. Hôm nay thứ bảy, ban giám đốc trung tâm nghỉ việc, tôi không tìm ra cách xoay xở để có thuốc cho nàng dùng. Cô con gái nhỏ của tôi thì quấy khóc, bữa ǎn nào bàn của chúng tôi cũng ồn ào hơn cả vì tiếng khóc và tiếng ré của nó. Chiều hôm qua chúng tôi ngồi cùng bàn với một ông cụ già. Ông cụ nhìn chúng tôi nǎm người "làm giặc" một hồi tuy không tỏ vẻ khó chịu nhưng chǎ́c chǎ́n là choáng váng mặt mày nên cuối cùng đành đứng dậy dọn phần ǎn còn lại cho vào túi ni-lông rồi uể oải về phòng. Tôi muốn gíúp nhà tôi thay nàng cai quản ba đứa nhỏ nhưng mỗi bận nàng sang cô út qua tay tôi thì nó càng khóc lóc dẫy nẫy dữ dội hơn. Tôi sợ nhà tôi ốm nặng. Hơn bao giờ hết và hơn nơi nào hết chúng tôi cần nhau quá đỗii. Bây giờ chúng tôi là tay chân của nhau, mǎ́t mũi của nhau, trí não của nhau. Chúng tôi thấy cho nhau, nghe cho nhau, ǎn cho nhau, ngủ cho nhau. Tôi ǎn như uống thuốc nhưng tôi phải uống thuốc đó để cơ thể chúng tôi có đủ sức cầm cự với đời sống mới mẻ này.
Đi ra đường để nhìn thấy phố phường xe cộ, nhìn thấy cái rực rỡ nguy nga của người. Phố phường của người đẹp thật, công trình của người nguy nga thật và tôi đang đi trên những con đường đó mà không vui vẻ sung sướng. Không phải vì hoàn cảnh vật chất: với mỗi ngày nhận 17 quan cho người lớn và 8 quan cho trẻ con, với tính tǎ̀n tiện và chiếc bụng không quen chứa nhiều chúng tôi có thể sổng được; với sự từng trải qua nhiều hoàn cảnh trớ trêu chúng tôi cũng chǎ̉ng mấy ngại ngùng khi nghĩ đến tương lai. Như vậy chúng tôi có âu lo gì đâu để đến nỗi không còn nhìn thấy chung quanh. Cũng không phải vì cám cảnh tha phương cầu thực: chính chúng tôi đã chọn lựa, chúng tôi đã mong muốn ra đi kia mà! Vậy thì tại sao? Quê hương ơi, từ đây ta không còn bao giờ nhìn lại ngươi được nữa, cho nên dù ta làm được gì cũng vô ích thôi. Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi ta nǎ̀m trong lòng mẹ, rứt ruột rồi ta sống với ai?
Có chút tiền còm, bọn đàn ông chúng tôi nẫy hứng, rủ nhau lên Paris để ..“coi cho biết” mặc dù mỗi người đều có những chủ định khác nhau. Ngoài việc mua thuốc cho nhà tôi, tôi còn một ý nghĩ khác khá buồn cười nên tôi không muốn cho ai biết cả. Câu chuyện bǎ́t nguồn từ một kỷ niệm của tuổi trẻ. Một buổi sáng chúng tôi tụ họp nhau uống cà phê tại Câu lạc bộ Vǎn hoá trên đường Tự do và "tán láo" về tập thơ mới xuất bản của Cung Trầm Tưởng -không phải chỉ là một tập thơ vì có sự hợp tác của Phạm Duy, phổ nhạc, và Ngy Cao Uyên minh họa... Trong lúc cao hứng một ông nhóc trong bọn lên mặt kẻ cả bảo rǎ̀ng Cung Trầm Tưởng ..lộn xộn thấy mẹ, mới bảo tiễn em ở Paris đấy mà đã nhảy xuống tận ..Lyon (Ga Lyon đèn vàng). Vì cả bọn đều nghèo và đều quê mùa nên chǎ̉ng đứa nào biết giải thích sao cho hợp lý mãi đến khi tình cờ đọc một cuốn tiểu thuyết, chúng tôi mới khám phá ra rǎ̀ng ga Lyon ở ngay Paris! Đó là lý do mà giờ này khi đã đặt chân đến đây, trong tay khư khư tấm bản đồ thành phố, tôi nhất định phải tìm nhìn tận mặt ga Lyon cho đỡ ức! Câu chuyện ấy tương tự với giai thoại mà cụ Phan Khôi kể: Tô đông Pha là một nhà thơ lớn, vì vậy nhiều người thường gửi tác phẩm mình đến để được nghe ông bình. Lần nọ có vị quan gửi cho Tô thi sĩ bài thơ trong đó có hai câu:
Minh nguyệt sơn đầu khiếu
Hoàng khuyển ngọa hoa tâm
Đọc hai câu thơ, thi sï cười ruồi cho rǎ̀ng ông quan kia dốt ơi là dốt: thuở nào mà trǎng sáng kêu (khiệ́u) trên đầu núi và chó vàng lại thượng lên nǎ̀m giữa (tâm) cánh hoa được. Sǎ̃n bút nghiên, nhà thơ ngoáy vào đôi nét, chỉnh sơ mà vẫn giữ nguyên được vận:
Minh nguyệt sơn đầu chiếu
Hoàng khuyển ngọa hoa âm
Có thế mới hợp lý: trǎng sáng chiếu trên đầu núi và chó vàng nǎ̀m dưới bóng hoa. Sau, vì dây dưa với công lý, nhà thơ bị đày về một miền đất xa lạ. Thấy loài chim dáng đẹp ông hỏi dân địa phương xem tên gọi thế nào, dân đáp: đấy là chim minh nguyệt. Thì ra minh nguyệt không phải là trǎng sáng mà là tên một loài chim! Vậy chim minh nguyệt hót trên đầu núi là đúng. Còn chó vàng, không phải là con chó có lông vàng mà là một giống sâu tên hoàng khuyển: sâu hoàng khuyển nǎ̀m trong lòng hoa có gì trái đâu!
Cho nên việc tiễn người em gái Paris tại ga Lyon cũng chǎ̉ng phải là chuyện lạ. Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Ông Cung Trầm Tưởng ơi, xin tha thứ cho bọn con nít quê mùa chúng tôi hồi đó nghen!
IV... ĐẾN TRẠI TẠM CƯ
Sarcelles không phải là nơi đến dù là tạm cư. Chính hôm nay chúng tôi mới sẽ đến chốn tạm cư. Ban giám đốc trung tâm chuẩn bị cho chúng tôi lên đường: lập danh sách số gia đình được chọn, phát quần áo lạnh, mền gối, bát chén, ngay đến cả chiếc chổi quét nhà, chiếc khǎn lau bát. Thời hạn nǎ̀m ở trại tạm cư được tiên liệu là sáu tháng, đủ cho chúng tôi làm quen với nếp sống mới, tìm ra công ǎn việc làm và nơi tá túc. Vùng được chọn làm trại tạm cư thường là những vùng có công nghệ phát triển để dễ bề cho người ngoại nhập tìm việc, vì vậy không phải bất cứ nơi đâu cũng có trung tâm tạm cư. Nơi chúng tôi sǎ́p được gửi đến thuộc mạn Champagne-Ardennes. Chỉ vài phút sau khi rời Sarcelles là chiếc xe ca đã bỏ lại phố xá đàng sau để vào xa lộ, mang theo những gia đình với đồ đạc lỉnh kỉnh và với tâm trạng hoang mang như lúc còn bên trời tổ quốc chuẩn bị lên kinh tế mới. Hai bên đường chỉ là đồng trống rải rác những đàn gia súc thong dong gặm cỏ, khiến kẻ ra đi càng thêm âu lo. Người ta sẽ đưa chúng tôi đến chốn nào? Dù đã biết chút ít về nơi sǎ́p đến (hai hôm rồi, tôi giở Larousse ra nghiên cứu vùng Marne: vùng đất bên bờ sông Vesle, nơi tiồng nho những cách đồng nho mà ở đấy người ta sản xuất ra loại rượu nho quí phái nhất, rượu sâm-banh. Dân số toàn vùng hơn nǎm trǎm nghìn mà riêng thành phố Reims đã quy tụ được ngót nghét hai trǎm nghìn -dù nó không đóng vai thủ phủ của vùng) tôi vẫn âu lo không yên và càng cám cảnh thân phận của thǎ̀ng di cư. Sự di cư và thân phận kẻ di cư mang sǎ̃n trong nó một thành kiến: thất thế, trơ trọi, thiệt thòi và do vậy sẽ không ngóc đầu lên nổi. Di cư rất gần nghĩa với lưu đày. Ngày xưa, kẻ có tội khi xét ra chưa đáng bị chém đầu thì người ta gửi y đến chỗ góc núi chân trời, ma thiêng nước độc. Ở đấy y ...ráng chịu, nếu có khả nǎng chống chọi, tháo vát thì y sống sót; bǎ̀ng không thì y chỉ còn hy vọng gửi thân miệng cọp. Và cũng bởi ngày xưa "trời đất còn mông mênh hơn bây giờ", việc giao thông khó khǎn một đi khó mong có ngày trở lại nên sinh ly có khi đồng nghĩa với tử biệt, ngoại trừ nhà ông Tô Vũ.(1) Nói đến di cư thì phải nhận rǎ̀ng dân Trung Hoa là những kẻ tiên phong trong lãnh vực này. Dân Tàu chǎ́c không vì nhiều máu mạo hiểm nhưng được cái họ có số đông nên chǎ̉ng ngán ai. Và cũng có lẽ vì dân số lớn nên họ đã bán xới xứ họ một cách dễ dàng để đến nơi khác sinh sống . Dân Trung Hoa đến xứ Việt xét ra có nhiều lý do thuận lợi. Nước Việt là láng giềng, qua xứ Việt nhiều khi còn gần hơn đi đến một miền khác thuộc phạm vi đất tổ của họ. Xứ Việt từng là thuộc địa, có khi thành phần di cư thuộc giai cấp các quan cai trị đi nhậm chức phải mang theo cả gia đình; đến nơi thấy phong thổ tốt, dân bản địa lại là dân bị trị chúng nào dám hiếp đáp mình nên các ngài bèn về kéo đủ thân bǎ̀ng quyến thuộc sang làm một cuộc di dân lập ấp hoàn chỉnh. Ngược lại, những kẻ sang Mỹ thì nhất định không hề có tinh thần ấy trong đầu. Vậy mà họ chǎ̉ng ngán Mỹ, chǎ̉ng ngán Tây, chǎ̉ng ngán Anh, chǎ̉ng ngán Đức gì ráo. Chỗ nào có khói là có người Tàu. Còn một lý do bổ túc: người Trung Hoa thành thạo trong thương mại nên họ đi đây đi đó rất thường. Từ chỗ đi đây đi đó họ không còn e ngại nên đã rải dân khǎ́p mặt địa cầu, sống hùng sống mạnh từ New York, Los Angeles, Vancouver đến Paris, Amsterdam, thậm chí ở Úc xa xôi, ở Phi châu khô rốc nơi nào cũng có một China town. Nhưng còn những kẻ như bố ông Hồ Dzếnh? Bao giờ mà chǎ̉ng có những người hẩm hiu như vậy, cô đơn như vậy, ngày quảy gánh thuốc nhuộm đi nhuộm thuê quần áo, tối về lều tranh nhớ nước rên rỉ mấy câu thơ Đường(2)Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên / Giang phong ngư hỏa đối sầu miên... Có lẽ số phận tôi rồi ra cũng giống vậy thôi.
Mãi sầu đau ưu phiền bởi hoàn cảnh, tôi không để ý gì đến chung quanh cho đến khi nhận ra tấm bảng chỉ hướng nơi đến: Reims, 15km. Trung tâm tạm cư có tên là Vasco de Gama. Giá sinh hoạt ở đây dường như thấp hơn Sarcelles và gió cũng dịu hơn cùng với nỗi bồn chồn vừa lǎ́ng xuống khiến chúng tôi đánh được giấc ngủ no say qua đêm đầu ở nơi trọ mới. Chúng tôi được phân phối nǎm phòng vì gia đình gồm nǎm người. Phòng nhỏ thôi nhưng theo lối sống khǎ́c khổ của phe ta, chúng tôi chǎ̉ng làm sao dùng hết. Hai đứa con lớn , vì sợ chúng buồn và không tự lo liệu nổi khi đơn độc, vào chung một phòng, hai chiếc giường được đặt đối diện nhau. Hai vợ chồng và bé út một phòng để dễ bề nhỏm dậy khi nghe nó khóc. Một làm phòng ǎn. Một để dành khi nào tôi muốn yên ổn viết lách thì vào đấy một mình. Vẫn còn thừa một phòng; nhà tôi dùng để làm nơi phơi quần áo, nghĩa là sử dụng hơi rộng rãi. Thức ǎn cũng vậy. Chúng tôi bǎ́t đầu tổ chức tự nấu lấy, quen cách ǎn uống bên nhà chúng tôi dùng rất ít thịt. Đã có người cảnh cáo vì chế độ ẩm thực như vậy không thích hợp với khí hậu nơi này: phải có nhiều nhiệt lượng để chống chỏi với khí hậu tàn khốc của một mùa đông tối tǎm, một mùa xuân hiếm mặt trời, một mùa hè ngǎ́n và bốc đồng cùng một mùa thu lạnh gấp nhiều lần đông nhiệt đới.
Đôi khi người ta đã phải lật những trang sách của đời mình một cách vội vàng. Chính là thời kÿ này đây. Tôi không lǎ́ng nghe được chính mình, vì phải tiếp thu quá nhiều sự việc mới mẻ, phải thực hiện phút chốc những đòi hỏi mà đáng ra cần suy nghĩ và lựa chọn đǎ́n đo. Tôi chỉ sống có một nửa; vì theo quan niệm riêng của mình, tôi cho rǎ̀ng sống vừa bǎ̀ng đón nhận hưởng thụ, và cũng vừa bǎ̀ng lǎ́ng nghe, phân tích; nếu thiếu đi một phần, người ta sẽ trở nên say sưa hay mất trí. Hãy bǎ́t chước thái độcủa họa nhân khi nhìn bức tranh anh đang thực hiện. Anh bôi màu lên khung tranh theo với rung cảm đang có trong anh; nhưng thỉnh thoảng anh lùi ra xa nhìn ngǎ́m: xa khung tranh anh có cái nhìn lý trí; gần khung tranh anh chỉ còn thuần xúc động. Tôi vẫn rất đông phương trong cách sống.
Tôi viết tiếp dù cách nhiều ngày sau bởi cũng có cùng một cảm giác nhẹ vui. Có lẽ vì trời xanh quá, thiên nhiên rực rỡ quá? (ánh nǎ́ng quí giá hiếm hoi ngǎ́n ngủi của miền ôn đới) hay vì một cái gì khác hơn? Các bà nội trợ sau bữa ǎn, họp nhau lại (trong thời gian chờ đợi bước vào cuộc sống thực, xa lạ, cam go ngoài kia) chuyện trò, đùa cợt, bàn định món ǎn cho ngày sau. Họ nói nhiều và nói to. Còn các ông thì quây quần nhậu nhẹt làm như không có một ưu tư nào có thể chen vào khuấy phá cuộc sống xa xứ bấp bênh này. Phải chǎng đó là dấu hiệu của một vui sướng, một mãn nguyện tạm thời không được công khai thừa nhận; hoặc chỉ là thái độ sáng suốt của kẻ từng trải bǎ̀ng lòng sống hết mình phút hưu chiến ngǎ́n ngủi trước khi trở lại chiến trận? Xuyên qua những nhiễu nhương dǎ̀ng dặc, người dân Việt đã tìm ra cách sống từng ngày của họ.
Giấc ngủ chiều, quá chiều nữa là khác, nhưng không thấy "nǎ́ng vàng ngang mái nhạt" (Huy Cận). Nǎm giờ chiều mà nǎ́ng chỉ mới nghiêng như bên quê nhà lúc hai giờ. Nǎ́ng chỉ mới kéo dài bóng cây ra một chút (ở đây xa xích đạo nên không có đứng bóng) lá cây vẫn xanh hơi vàng một cách tươi trẻ ngoài khung cửa sổ. Khu phố vǎ́ng vẻ lạ lùng nhưng chǎ̉ng phải cái quạnh hiu khǎ́c khoải của quê hương.Tôi có thứ lạc quan của tôi, không rực rỡ, không ồn ào, chỉ hơi mỉm miệng. Vì có một ngày nào đó vừa mới đây, tôi nhìn qua cửa sổ từ trên cao và thoáng thấy Phùng Khánh ngồi sau porte-bagage một chiếc xe đạp, đàng trước là một cô bé lớn hơn đang cong mình cúi cổ đạp riết; váy của Phùng Khánh bay lên như niềm vui vẫy gọi. Ở một góc khác, xa hơn, Khanh, con trai chúng tôi, đang nhảy nhót trên mui chiếc xe hơi cũ. Không phải nơi này làm tôi yên tâm nhưng hình ảnh của mấy đứa con vui chơi làm tôi yên tâm: với quyết định ra đi của hai chúng tôi, từ đây chúng tôi sẽ chỉ sống vì tương lai của mấy đứa trẻ. Cũng như tất cả mọi người, khi còn ngồi trên ghế nhà trường, ai chǎ̉ng ao ước học đến nơi đến chốn, nhất là được du học nước ngoài. Tham vọng của chúng tôi chǎ̉ng vượt khỏi thông lệ đó. Nhưng những thǎ̀ng con trai ở thế hệ chúng tôi, ngoài một số ít con nhà giàu và quyền thế, ít kẻ dám mơ ước xa xôi. Muốn du học ngoại quốc chǎ̉ng những phải có tiền mà còn phải lo sao cho xuôi vấn đề quân dịch. Phần tôi, tôi có một ông anh con nhà cậu du học Pháp đã thành tài từ lâu, hoạt động trong ngành y học, rồi bổng một ngày, đúng vào lúc tình hình Miền Nam tồi tệ nhất, anh nhận chức đại sứ tại một quốc gia Phi châu. Một lần về nước anh ghé qua nhà tìm, có ý muốn mang tôi sang Pháp nhưng tôi không có nhà và anh thì đang bận rộn việc nước nên phải đi ngay. Đó là cơ hội duy nhất mà tôi có thể ra đi nhưng tôi đã không bǎ́t chợp được. Bây giờ khi nhìn mấy đứa trẻ, tôi tự an ủi rǎ̀ng ít ra tôi không làm được gì cho chính mình thì cũng làm được cho các con tôi.
... CÒN TIẾP ...
© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải trên Newvietart.com theo nguyên bản của tác giả gởi từ miền Nam Pháp ngày 30.06.2009.
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.
|